Tạm đình chỉ điều tra là gì? Căn cứ tạm đình chỉ

Do nhu cầu tư vấn giải đáp thắc mắc liên quan đến luật hình sự tăng cao, Luật Quang Huy đã cung cấp đường dây nóng hỗ trợ hỏi đáp luật hình sự. 100% cuộc gọi tới đường dây này được bảo mật thông tin cuộc gọi. Nếu bạn đọc có nhu cầu được hỗ trợ về luật hình sự, hãy liên hệ ngay qua Tổng đài 1900.6784.

Bạn thắc mắc không biết khi nào thì tạm đình chỉ điều tra vụ án hình sự? Cần có những căn cứ nào để tạm đình chỉ điều tra? Mời quý bạn đọc theo dõi bài viết sau đây của Luật Quang Huy để được làm rõ.


1. Tạm đình chỉ điều tra là gì?

Theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2021, tạm đình chỉ điều tra là việc cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra tạm ngừng hoạt động điều tra đối với vụ án; hoặc đối với bị can trong một thời hạn nhất định khi có những căn cứ theo quy định của pháp luật.

Thời hạn tạm đình chỉ điều tra việc tùy thuộc vào căn cứ tạm đình chỉ điều tra của vụ án hoặc đối với bị can.


2. Quy định về tạm đình chỉ điều tra

Căn cứ theo quy định tại Điều 229 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2021, tạm đình chỉ điều tra vụ án hình sự được quy định như sau:

  • Cơ quan điều tra ra quyết định tạm đình chỉ điều tra khi thuộc một trong các trường hợp sau đây:
  • Chưa xác định được bị can hoặc không biết rõ bị can đang ở đâu nhưng đã hết thời hạn điều tra vụ án. Trường hợp không biết rõ bị can đang ở đâu, Cơ quan điều tra phải ra quyết định truy nã trước khi tạm đình chỉ điều tra.
  • Có kết luận giám định tư pháp xác định bị can bị bệnh tâm thần hoặc bệnh hiểm nghèo thì có thể tạm đình chỉ điều tra trước khi hết thời hạn điều tra;
  • Trưng cầu giám định, yêu cầu định giá tài sản, yêu cầu nước ngoài tương trợ tư pháp chưa có kết quả nhưng đã hết thời hạn điều tra. Trong trường hợp này, việc giám định, định giá tài sản, tương trợ tư pháp vẫn tiếp tục được tiến hành cho đến khi có kết quả.
  • Trường hợp vụ án có nhiều bị can mà lý do tạm đình chỉ điều tra không liên quan đến tất cả bị can thì có thể tạm đình chỉ điều tra đối với từng bị can.
  • Trong thời hạn 02 ngày kể từ ngày ra quyết định tạm đình chỉ điều tra, Cơ quan điều tra phải gửi quyết định này cho Viện kiểm sát cùng cấp, bị can, người bào chữa hoặc người đại diện của bị can; thông báo cho bị hại, đương sự và người bảo vệ quyền lợi của họ.
  • Quyết định đình chỉ điều tra ghi rõ thời gian, địa điểm ra quyết định, lý do và căn cứ đình chỉ điều tra, việc hủy bỏ biện pháp ngăn chặn, biện pháp cưỡng chế, trả lại tài liệu, đồ vật đã tạm giữ (nếu có), việc xử lý vật chứng và những vấn đề khác có liên quan. Trường hợp vụ án có nhiều bị can mà căn cứ để đình chỉ điều tra không liên quan đến tất cả bị can thì có thể đình chỉ điều tra đối với từng bị can.
  • Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được quyết định đình chỉ điều tra kèm theo hồ sơ vụ án của Cơ quan điều tra, nếu thấy quyết định đình chỉ điều tra có căn cứ thì Viện kiểm sát phải trả lại hồ sơ vụ án cho Cơ quan điều tra để giải quyết theo thẩm quyền; nếu thấy quyết định đình chỉ điều tra không có căn cứ thì hủy bỏ quyết định đình chỉ điều tra và yêu cầu Cơ quan điều tra phục hồi điều tra; nếu thấy đủ căn cứ để truy tố thì hủy bỏ quyết định đình chỉ điều tra và ra quyết định truy tố theo thời hạn, trình tự, thủ tục quy định tại Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2021.

3. Căn cứ tạm đình chỉ điều tra vụ án

Vấn đề này được quy định tại Điều 229 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2021, căn cứ tạm đình chỉ điều tra vụ án bao gồm:

  • Khi chưa xác định được bị can hoặc không biết rõ bị can đang ở đâu nhưng đã hết thời hạn điều tra vụ án. Trường hợp không biết rõ bị can đang ở đâu, cơ quan điều tra phải ra quyết định truy nã trước khi tạm đình chỉ điều tra. Đây là trường hợp cơ quan điều tra đã xin gia hạn và sử dụng hết thời hạn điều tra vụ án mà vẫn không xác định được ai là bị can thì phải quyết định tạm đình chỉ điều tra. Còn trường hợp không biết rõ bị can đang ở đâu thì cơ quan điều tra phải ra quyết định truy nã bị can trước khi ra quyết định tạm đình chỉ điều tra theo Điều 231 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2021.
  • Khi có kết luận giám định tư pháp xác định bị can bị bệnh tâm thần; hoặc bệnh hiểm nghèo thì có thể tạm đình chỉ điều tra trước khi hết thời hạn điều tra.
  • Khi trưng cầu giám định, yêu cầu định giá tài sản; yêu cầu nước ngoài tương trợ tư pháp chưa có kết quả nhưng đã hết thời hạn điều tra. Trong trường hợp này, việc giám định, định giá tài sản, tương trợ tư pháp vẫn tiếp tục được tiến hành cho đến khi có kết quả.
  • Trường hợp vụ án có nhiều bị can mà lý do tạm đình chỉ điều tra không liên quan đến tất cả bị can; thì có thể tạm đình chỉ điều tra đối với từng bị can.

4. Đình chỉ điều tra là gì?

Theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2021, đình chỉ điều tra là một trong hai hình thức kết thúc hoạt động điều tra khi có những lý do và căn cứ theo quy định của pháp luật mà nội dung của nó là dựa trên những lý do và căn cứ nhất định chấm dứt mọi hoạt động nhằm phát hiện, thu thập, kiểm tra, đánh giá những thông tin dùng làm chứng cứ để giải quyết vụ án hình sự.

Tạm đình chỉ điều tra là gì? Căn cứ tạm đình chỉ
Tạm đình chỉ điều tra là gì? Căn cứ tạm đình chỉ

5. Các trường hợp đình chỉ điều tra

Theo quy định tại Điều 130 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2021, cơ quan điều tra ra quyết định đình chỉ điều tra khi thuộc một trong các trường hợp sau đây:

  • Người bị hại rút yêu cầu khởi tố đối với những vụ án chỉ khởi tố theo yêu cầu của người bị hại. Theo quy định tại khoản 2 Điều 155 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2021, đối với những vụ án khởi tố theo yêu cầu của người bị hại thì vụ án phải được đình chỉ khi người bị hại rút yêu cầu khởi tố, trừ trường hợp có căn cứ xác định người đã yêu cầu rút yêu cầu khởi tố trái với ý muốn của họ do bị ép buộc, cưỡng bức thì tùy người đã yêu cầu khởi tố rút yêu cầu, Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án vẫn tiếp tục tiến hành tố tụng đối với vụ án.
  • Khi trong quá trình điều tra, cơ quan điều tra phát hiện và xác định có một trong các căn cứ không được khởi tố vụ án hình sự theo Điều 157 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2021, cụ thể như sau:
  • Không có sự việc phạm tội;
  • Hành vi không cấu thành tội phạm;
  • Người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội chưa đến tuổi chịu trách nhiệm hình sự;
  • Người mà hành vi phạm tội của họ đã có bản án hoặc quyết định đình chỉ vụ án có hiệu lực pháp luật;
  • Đã hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự;
  • Tội phạm đã được đại xá;
  • Người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội đã chết, trừ trường hợp cần tái thẩm đối với người khác;
  • Tội phạm quy định tại khoản 1 các Điều 134, 135, 136, 138, 139, 141, 143, 155, 156 và 226 của Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 mà bị hại hoặc người đại diện của bị hại không yêu cầu khởi tố.
  • Khi đã hết thời hạn điều tra mà không chứng minh được bị can đã thực hiện tội phạm. Hết thời hạn điều tra được hiểu là hết thời hạn đã gia hạn lần cuối cùng theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2021.
  • Điều luật quy định khi đình chỉ điều tra, cơ quan điều tra phải làm bản kết luận điều tra và quyết định đình chỉ điều tra.

6. Ý nghĩa của tạm đình chỉ điều tra

Vấn đề tạm đình chỉ điều tra mặc dù là một nội dung nhỏ được quy định trong Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2021.

Tuy nhiên, đây là vấn đề có ý nghĩa quan trọng về mặt chính trị xã hội, và thực tiễn; góp phần quan trọng vào quá trình giải quyết vụ án, đảm bảo khách quan, chính xác, thể hiện tinh thần nhân văn, nhân đạo của Đảng và Nhà nước ta. Cụ thể như sau:

6.1. Ý nghĩa chính trị xã hội

Việc quy định tạm đình chỉ điều tra góp phần đáp ứng các yêu cầu của nhà nước pháp quyền Việt Nam; trước tiên và quan trọng nhất chính là bảo đảm tính thượng tôn pháp luật; trong đó có lĩnh vực tư pháp hình sự.

Nguyên tắc này được thể hiện thông qua yêu cầu đảm bảo pháp chế; trong hoạt động tố tụng hình sự và trở thành nguyên tắc cơ bản của pháp luật tố tụng hình sự.

Yêu cầu khách quan đối với cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra trong quá trình thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của mình phải chủ động, tích cực và thận trọng nhằm rà soát các hoạt động tố tụng đã diễn ra.

Qua đó khắc phục những sai lầm, hạn chế có thể xảy ra trong quá trình nhận thức của các cơ quan tiến hành tố tụng hoặc người tiến hành tố tụng. Việc tạm đình chỉ điều tra còn góp phần đảm bảo vụ án được xử lý khách quan, chính xác, không bỏ lọt tội phạm, không làm oan người vô tội.

Hơn nữa, việc quy định tạm đình chỉ điều tra trong bộ luật tố tụng hình sự đảm bảo công bằng; bình đẳng trong xã hội. Đồng thời thể hiện truyền thống nhân văn nhân đạo của Đảng, Nhà nước thông qua việc tạm thời không xử lý hình sự đối với trường hợp bị can đang bị bệnh hiểm nghèo, hoặc đang bị mất năng lực trách nhiệm hình sự, không có khả năng thực hiện các hành vi tố tụng để thực hiện quyền và nghĩa vụ tố tụng của mình.

6.3. Ý nghĩa thực tiễn

Trong quá trình giải quyết vụ án, quy định tạm đình chỉ điều tra vụ án không chỉ có ý nghĩa nhằm hạn chế tối đa khả năng kéo dài thời hạn tố tụng khi không cần thiết mà còn khắc phục những hiện tượng tồn đọng án, giảm bớt nhu cầu sử dụng lực lượng và những chi phí vật chất không cần thiết cho hoạt động này;

Mặt khác, tạm đình chỉ điều tra còn là một giải pháp chủ động trong việc đề phòng những oan sai có thể xảy ra trong hoạt động tố tụng, có ý nghĩa dưới góc độ bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của con người, góp phần làm sáng tỏ sự tỏ sự thật khách quan của vụ án, bảo vệ pháp chế xã hội chủ nghĩa và đấu tranh phòng chống tội phạm, bảo đảm quyền và nghĩa vụ của chủ thể có liên quan tới vụ án.


7. Cơ sở pháp lý

  • Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017;
  • Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2021.

Trên đây là bài tư vấn của chúng tôi về vấn đề tạm đình chỉ điều tra. Qua bài viết này, chúng tôi mong rằng sẽ giúp các bạn hiểu rõ hơn về vấn đề này.

Để được tư vấn đầy đủ và chính xác nhất, mời quý khách hàng liên hệ tới Tổng đài tư vấn Luật hình sự trực tuyến qua HOTLINE 19006588 của Luật Quang Huy để nhận tư vấn thêm về vấn đề mà quý khách hàng đang gặp phải.

Trân trọng./.

5/5 - (1 bình chọn)
Tác giả bài viết
phone-call

GỌI ĐỂ TƯ VẤN MIỄN PHÍ

Scroll to Top