Xác định tư cách tham gia tố tụng hình sự

Do nhu cầu tư vấn giải đáp thắc mắc liên quan đến luật hình sự tăng cao, Luật Quang Huy đã cung cấp đường dây nóng hỗ trợ hỏi đáp luật hình sự. 100% cuộc gọi tới đường dây này được bảo mật thông tin cuộc gọi. Nếu bạn đọc có nhu cầu được hỗ trợ về luật hình sự, hãy liên hệ ngay qua Tổng đài 1900.6784.

Trong thực tiễn, việc xác định tư cách tham gia tố tụng của đương sự trong vụ án hình sự vẫn còn nhiều ý kiến và quan điểm khác nhau. Cụ thể như thế nào, mời bạn theo dõi bài viết sau đây của Luật Quang Huy để được làm rõ.


1. Xác định tư cách tham gia tố tụng của đương sự

Theo quy định, đương sự bao gồm các cá nhân, cơ quan, tổ chức bao gồm nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan. Đương sự trong vụ án chính là người tham gia tố tụng để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình hoặc bảo vệ lợi ích công cộng, lợi ích của Nhà nước thuộc lĩnh vực mình phụ trách do có quyền, nghĩa vụ liên quan.

Theo đó, xác định tư cách tham gia tố tụng của đương sự tức là xác định tư cách của đương sự trong vụ án.


2. Xác định tư cách tham gia tố tụng của nguyên đơn

Theo quy định, tư cách tham gia tố tụng của nguyên đơn được xác định như sau:

  • Người khởi kiện, người được cơ quan, tổ chức, cá nhân khác khởi kiện để yêu cầu Tòa án giải quyết vụ án khi cho rằng quyền và lợi ích hợp pháp của người đó bị xâm phạm.
  • Cơ quan, tổ chức khởi kiện để yêu cầu Tòa án bảo vệ lợi ích công cộng, lợi ích của Nhà nước thuộc lĩnh vực mình phụ trách.

Như vậy, nguyên đơn khi tham gia tố tụng không những chỉ là cá nhân mà còn là cơ quan, tổ chức. Việc tham gia tố tụng của nguyên đơn mang tính chủ động hơn so với các đương sự khác. Hoạt động tố tụng của nguyên đơn có thể dẫn đến việc làm phát sinh, thay đổi hay đình chỉ tố tụng.


3. Xác định tư cách tham gia tố tụng của bị đơn

Theo quy định, bị đơn là người bị nguyên đơn khởi kiện hoặc bị cơ quan, tổ chức, cá nhân khác khởi kiện để yêu cầu Tòa án giải quyết khi cho rằng quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn bị người đó xâm phạm.

Như vậy, để được xác định tư cách tham gia tố tụng của bị đơn cần có các đặc điểm sau:

  • Là người bị nguyên đơn hoặc cá nhân, cơ quan, tổ chức có thẩm quyền khởi kiện.
  • Bị đơn là người được giả thiết là có tranh chấp hay xâm phạm đến quyền lợi của nguyên đơn.

4. Xác định tư cách tham gia tố tụng của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan

Theo quy định, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bao gồm: người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có yêu cầu độc lập. Cụ thể, việc xác định tư cách tham gia tố tụng của những đối tượng này được quy định như sau:

4.1. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có yêu cầu độc lập

Theo quy định, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án hình sự là người tuy không khởi kiện, không bị kiện, nhưng việc giải quyết vụ án có liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của họ nên họ được tự mình đề nghị hoặc các đương sự khác đề nghị và được Tòa án chấp nhận đưa họ vào tham gia tố tụng với tư cách là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.

Trường hợp việc giải quyết vụ án có liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của một người nào đó mà không có ai đề nghị đưa họ vào tham gia tố tụng với tư cách là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan thì Tòa án phải đưa họ vào tham gia tố tụng với tư cách là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.

4.2. Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập

Nếu có yêu cầu độc lập, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có các quyền của nguyên đơn theo quy định. Nếu yêu cầu độc lập đó không được Tòa chấp nhận giải quyết trong cùng một vụ án hình sự thì người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có quyền khởi kiện với nội dung khởi kiện là yêu cầu độc lập đó.

Theo quy định, trường hợp người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không tham gia tố tụng với bên nguyên đơn hoặc với bên bị đơn thì họ có quyền yêu cầu độc lập khi có các điều kiện sau đây:

  • Việc giải quyết vụ án có liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của họ;
  • Yêu cầu độc lập của họ có liên quan đến vụ án đang được giải quyết;
  • Yêu cầu độc lập của họ được giải quyết trong cùng một vụ án làm cho việc giải quyết vụ án được chính xác và nhanh hơn.
  • Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền đưa ra yêu cầu độc lập trước thời điểm mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải.
Xác định tư cách tham gia tố tụng hình sự
Xác định tư cách tham gia tố tụng hình sự

5. Xác định tư cách tham gia tố tụng của bị hại với người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án

Trong thực tiễn việc xác định tư cách bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án còn có những quan điểm và ý kiến trái ngược nhau, dẫn đến khó khăn trong việc giải quyết vụ án. Chúng tôi sẽ lấy 2 ví dụ minh họa để phân tích và làm rõ vấn đề này:

Ví dụ 1: Do có mâu thuẫn từ trước, A dùng dao chém B. B hoảng sợ bỏ chạy, A đã ném dao về phía B nhưng vô tình lại ném trúng C là người đi đường. Hậu quả B bị thương tích tỷ lệ 30%, C bị thương tích 9% và C không yêu cầu xử lý trách nhiệm hình sự đối với A. Trong trường hợp này, việc xác định tư cách tham gia tố tụng của C có các quan điểm sau:

  • Quan điểm thứ nhất cho rằng: A đã có hành vi dùng dao chém B, ném dao về phía B nhưng lại gây thương tích cho C là người đi đường, xác định ý chí chủ quan của A là nhằm cố ý gây thương tích, tổn hại cho sức khỏe của B, không nhằm gây thương tích cho C. Trường hợp này xác định B là bị hại, C là người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án, vì ý chí chủ quan của A không nhằm gây thương tích cho C và C cũng không yêu cầu xử lý trách nhiệm hình sự đối với A nên không thể xác định C là bị hại.
  • Quan điểm thứ hai cho rằng: A có hành vi dùng dao chém B gây thương tích và ném dao gây thương tích cho C, mặc dù ý chí chủ quan của A nhằm gây tổn hại cho sức khỏe của B, không nhằm gây tổn hại cho sức khỏe của C, nhưng thực tế khách quan buộc B phải nhận thức rằng hành vi dùng dao ném B, ngoài việc có thể gây thương tích cho B, có thể sẽ gây thương tích cho người khác, vì vậy căn cứ vào hậu quả A gây ra phải xác định B và C là bị hại trong vụ án, mới đảm bảo quyền, lợi ích hợp pháp cho C.
  • Quan điểm tác giả: Đồng tình với quan điểm thứ nhất, mặc dù A có hành vi dùng dao chém, ném dao về phía B, gây thương tích cho B và C (người đi đường), tuy nhiên xác định tư cách tham gia tố tụng B là bị hại và C là người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án. Bởi lẽ, ý chí chủ quan của A nhằm gây thương tích cho B, không nhằm gây thương tích cho C, A chỉ vô tình ném dao trúng C. Mặt khác, tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe người khác với tỷ lệ thương tật dưới 11% phải có đơn yêu cầu của bị hại thì cơ quan tiến hành tố tụng mới xử lý và xác định tư cách tham gia tố tụng là bị hại. Trường hợp này mặc dù trên thực tế C có bị tổn hại về sức khỏe do A gây ra nhưng C không có yêu cầu xử lý hình sự, vì vậy xác định tư cách của C là người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án (liên quan đến vấn đề tiền cấp cứu điều trị cho C) là phù hợp.

Ví dụ 2: A và B có quan hệ là anh em trong gia đình, A mượn B chiếc xe mô tô Exciter để sử dụng. Ngày 23/1/2021 khi A nhậu tại quán C ở huyện Y, A để chiếc xe mô tô bên ngoài không khóa cổ thì bị D lấy trộm, trị giá chiếc xe mô tô Exciter là 30.000.000đ.

D bị xử lý về tội Trộm cắp tài sản theo khoản 1, Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 năm 2015. Trong vụ án này có những quan điểm khác nhau về xác định tư cách bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

  • Quan điểm thứ nhất cho rằng: Xác định tư cách tham gia tố tụng của A là bị hại, B là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án, mặc dù A chỉ có quyền chiếm hữu, sử dụng, không có quyền định đoạt chiếc xe mô tô Exciter. Bởi vì trên thực tế A là người đang trực tiếp quản lý và sử dụng hợp pháp chiếc xe Exciter, xe bị mất trộm A phải có trách nhiệm bồi thường tài sản cho B. B tuy là chủ sở hữu chiếc xe mô tô nhưng xác định là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án.
  • Quan điểm thứ hai cho rằng: Xác định tư cách tham gia tố tụng của B là bị hại, A là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án, bởi vì B là chủ sở hữu chiếc xe Exciter, B mới có quyền định đoạt, A chỉ được giao quyền chiếm hữu, sử dụng nhưng không có quyền định đoạt, xe mô tô bị lấy trộm, B bị thiệt hại về tài sản, A không bị thiệt hại về tài sản.
  • Quan điểm tác giả: Đồng tình với quan điểm thứ nhất, người đang quản lý hoặc trông giữ hợp pháp tài sản là bị hại trong vụ án hình sự vì thiệt hại của họ là đối tượng tác động trực tiếp của tội phạm, tức là có mối liên hệ nhân quả giữa hành vi phạm tội với hậu quả của tội phạm gây ra, còn chủ sở hữu tài sản là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án.

6. Xác định tư cách tham gia tố tụng của nguyên đơn dân sự với người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án

Thực tiễn cho thấy, việc phân biệt và xác định tư cách tố tụng của nguyên đơn dân sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án gặp vướng mắc, có những quan điểm khác nhau.

Ví dụ 1: Nguyễn Minh S là lái xe của Trung tâm y tế huyện H. Vào ngày 07/3/2018 Nguyễn Minh S lái xe ô tô của Trung tâm y tế huyện H vượt xe không đúng quy định đã đâm vào xe mô tô do anh Lê Văn K điều khiển, hậu quả làm anh K bị chết.

Nguyễn Minh S bị Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện D khởi tố về Tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ theo khoản 1 điều 260 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Trong quá trình điều tra, Trung tâm y tế huyện H đã yêu cầu Nguyễn Minh S phải bồi thường thiệt hại do xe ô tô bị hư hỏng. Nguyễn Minh S đã bồi thường thiệt hại cho Trung tâm y tế huyện H và gia đình bị hại Lê Văn K. Kết thúc điều tra, Cơ quan Công an huyện D kết luận phần trách nhiệm dân sự đã giải quyết xong không ai có yêu cầu gì.

Trong vụ án này, việc xác định tư cách tham gia tố tụng của Trung tâm y tế huyện H có nhiều quan điểm khác nhau như sau:

  • Quan điểm thứ nhất cho rằng: Trong vụ án này, Trung tâm y tế huyện H là cơ quan bị thiệt hại do tội phạm gây ra và có yêu cầu Nguyễn Minh S phải bồi thường thiệt hại do làm hư hỏng xe ô tô. Căn cứ vào khoản 1 Điều 64 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2021, nguyên đơn dân sự là cá nhân, cơ quan, tổ chức bị thiệt hại do tội phạm gây ra và có đơn yêu cầu bồi thường thiệt hại nên Trung tâm y tế huyện H phải là nguyên đơn dân sự.
  • Quan điểm thứ hai cho rằng: tư cách tham gia tố tụng của Trung tâm y tế huyện H trong vụ án này vừa là nguyên đơn dân sự, vừa là bị đơn dân sự vì Trung tâm y tế huyện H vừa là cơ quan bị thiệt hại và có đơn yêu cầu Nguyễn Minh S phải bồi thường thiệt hại, vừa là cơ quan phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại cho gia đình Lê Văn K vì là chủ sở hữu hợp pháp đã giao xe ô tô cho Nguyễn Minh S điều khiển dẫn đến gây tai nạn.
  • Quan điểm thứ ba cho rằng: trong vụ án này Nguyễn Minh S đã bồi thường xong thiệt hại cho cả Trung tâm y tế huyện H và gia đình anh Lê Văn K. Trước khi kết thúc điều tra, Trung tâm y tế huyện H và gia đình bị hại Lê Văn K không có yêu cầu thêm gì nữa về việc bồi thường nên trách nhiệm dân sự trong vụ án này đã giải quyết xong. Vì vậy tư cách tham gia tố tụng của Trung tâm y tế huyện H chỉ là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án.

Ví dụ 2: A và B là hai quân nhân thuộc đơn vị D. A đánh B gây thương tích cấp cứu, điều trị tại Bệnh viện quân y C. Sau khi B ra viện, Bệnh viện quân y C đã làm thủ tục thanh toán với Cơ quan bảo hiểm quân đội. A bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội Cố ý gây thương tích theo khoản 1 Điều 134 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 20175.

Việc xác định tư cách tham gia tố tụng của Bệnh viện quân y C và Cơ quan bảo hiểm quân đội có những quan điểm khác nhau như sau:

  • Quan điểm thứ nhất cho rằng: Trường hợp này A phải bồi thường thiệt hại do mình gây ra đối với B. Luật Bảo hiểm quy định các trường hợp không được chi trả như thiệt hại do tội phạm gây ra như gây tai nạn giao thông, đánh nhau gây thương tích… A bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội Cố ý gây thương tích và bị kết tội có cơ sở khẳng định trường hợp này việc cứu chữa, điều trị cho B thuộc trường hợp bảo hiểm không chi trả, về nguyên tắc A phải bồi thường cho B nhưng chi phí điều trị đã được Bệnh viện quân y C thanh toán, vì vậy, xác định tư cách tham gia tố tụng của Bệnh viện quân y C là nguyên đơn dân sự, cơ quan bảo hiểm quân đội là người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án.
  • Quan điểm thứ hai cho rằng: Chi phí mà Bệnh viện quân y C chi trả cấp cứu, điều trị cho B thì A phải bồi hoàn, cần được xem xét lại vì cho đến nay không có quy định ngân sách cấp cho quân y chỉ dùng cho trường hợp bình thường, không dùng cho trường hợp có hành vi vi phạm pháp luật. Hoạt động bảo hiểm và hoạt động bảo đảm quốc phòng cho các cơ sở quân y là khác nhau về bản chất, mục đích và cách chi trả. Cho nên không thể vận dụng Luật bảo hiểm cho hoạt động bảo đảm của các cơ sở quân y. Cơ quan bảo hiểm quân đội đã chi trả số tiền cấp cứu điều trị B cho Bệnh viện quân y C, vì vậy xác định tư cách tham gia tố tụng của Cơ quan bảo hiểm quân đội là nguyên đơn dân sự mới đúng, Bệnh viện quân y C là người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án.
  • Quan điểm tác giả: Đồng tình với quan điểm thứ hai, trường hợp trên xác định tư cách tham gia tố tụng của Cơ quan Bảo hiểm quân đội là nguyên đơn dân sự vì bị tội phạm gây thiệt hại gián tiếp (nếu cơ quan Bảo hiểm quân đội có đơn yêu cầu A bồi hoàn tiền cấp cứu điều trị), Bệnh viện quân y C là người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án vì đã chi trả tiền cấp cứu điều trị cho B (cơ quan bảo hiểm đã thanh toán lại tiền cấp cứu điều trị cho Bệnh viện). Nếu cơ quan bảo hiểm quân đội không có đơn yêu cầu A hoàn lại tiền cấp cứu điều trị B, thì xác định tư cách tham gia tố tụng của cơ quan bảo hiểm quân đội là người làm chứng.
  • Theo hướng dẫn của Tòa án quân sự Trung ương, việc xác định tư cách tham gia tố tụng đối với trường hợp trên như sau: Nếu Bệnh viện quân y đã làm hồ sơ thanh quyết toán và được Cơ quan Bảo hiểm quân đội duyệt chi thì xác định Cơ quan Bảo hiểm quân đội là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và buộc bị cáo phải hoàn trả lại số tiền này cho cơ quan bảo hiểm quân đội. Trường hợp Bệnh viện quân y đã chi trả và thanh toán tiền chi phí cứu chữa cho bị hại là quân nhân nhưng chưa được cơ quan Bảo hiểm quân đội thanh toán thì vẫn xác định Bệnh viện quân y là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án; xác định cơ quan bảo hiểm quân đội là nguyên đơn dân sự nếu có đơn yêu cầu bị cáo bồi hoàn chi phí cấp cứu điều trị.

7. Cơ sở pháp lý

  • Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017;
  • Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2021.

Trên đây là bài tư vấn của chúng tôi về vấn đề tư cách tham gia tố tụng. Qua bài viết này, chúng tôi mong rằng sẽ giúp các bạn hiểu rõ hơn về vấn đề này.

Để được tư vấn đầy đủ và chính xác nhất, mời quý khách hàng liên hệ tới Tổng đài tư vấn Luật hình sự trực tuyến qua HOTLINE 19006588 của Luật Quang Huy để nhận tư vấn thêm về vấn đề mà quý khách hàng đang gặp phải.

Trân trọng./.

5/5 - (1 bình chọn)
Tác giả bài viết
phone-call

GỌI ĐỂ TƯ VẤN MIỄN PHÍ

Scroll to Top