Quyết toán thuế thu nhập từ bảo hiểm nhân thọ khi đáo hạn: Hướng dẫn chi tiết

Hiện nay, từ giao dịch nhỏ đến các giao dịch lớn, người dân đều phải đóng một khoản thuế, phí nhất định. Để đảm bảo cho người dân nắm rõ mức thuế, phí phải đóng là bao nhiêu, Luật Quang Huy đã mở thêm Tổng đài tư vấn luật thuế phí. Nếu bạn cần hỗ trợ về những vấn đề này, liên hệ ngay cho Luật sư qua Tổng đài 19006588.

Khi hợp đồng bảo hiểm nhân thọ đến thời điểm đáo hạn, nhiều người lao động băn khoăn liệu khoản tiền nhận được có phải chịu thuế thu nhập cá nhân (TNCN) hay không, và quan trọng hơn, có phải tự mình thực hiện quyết toán thuế với cơ quan thuế hay không. Bài viết này của chúng tôi sẽ giải đáp chi tiết thắc mắc đó, dựa trên các quy định mới nhất của Nghị định 253/2026/NĐ-CP do Chính phủ ban hành.

Tóm tắt cốt lõi: Cá nhân không phải tự quyết toán thuế đối với phần thu nhập từ phí bảo hiểm nhân thọ do người sử dụng lao động mua, đã được doanh nghiệp bảo hiểm khấu trừ thuế 10% tại thời điểm chi trả. Phần lãi từ hợp đồng bảo hiểm nhân thọ thuộc diện được miễn thuế.

Khi nào người lao động phải chịu thuế TNCN từ bảo hiểm nhân thọ?

Theo quy định tại điểm b khoản 3 Điều 50 Nghị định 253/2026/NĐ-CP, việc xác định nghĩa vụ thuế đối với bảo hiểm nhân thọ do người sử dụng lao động mua cho người lao động (trừ bảo hiểm hưu trí bổ sung và bảo hiểm hưu trí tự nguyện) có tích lũy về phí bảo hiểm được thực hiện như sau:
  • Giai đoạn mua bảo hiểm: Khoản tiền phí bảo hiểm này chưa được tính vào thu nhập chịu thuế từ tiền lương, tiền công của người lao động tại thời điểm người sử dụng lao động mua.
  • Giai đoạn đáo hạn hợp đồng: Doanh nghiệp bảo hiểm có trách nhiệm khấu trừ thuế TNCN với tỷ lệ 10% trên khoản tiền phí tích lũy tương ứng với phần người sử dụng lao động mua cho người lao động từ ngày 01/7/2013.

Mức giảm trừ phí bảo hiểm mới từ năm 2026 là bao nhiêu?

Tóm tắt cốt lõi: Tổng mức đóng bảo hiểm hưu trí bổ sung, bảo hiểm hưu trí tự nguyện và bảo hiểm nhân thọ được trừ khi xác định thu nhập tính thuế tối đa là 03 triệu đồng/người/tháng, bao gồm cả phần do người sử dụng lao động và người lao động đóng.
Đối với phần phí bảo hiểm nhân thọ phát sinh từ ngày 01/01/2026, khoản tiền phí tích lũy thuộc diện khấu trừ thuế được xác định trên phần đóng bảo hiểm vượt quá mức được giảm trừ quy định tại điểm a khoản 2 Điều 46 Nghị định 253/2026/NĐ-CP. Cụ thể:
  • Mức giảm trừ tối đa: 03 triệu đồng/người/tháng.
  • Người sử dụng lao động có trách nhiệm xác định phần phí bảo hiểm nhân thọ phát sinh từ ngày 01/01/2026 vượt mức 03 triệu đồng/tháng để thông tin cho doanh nghiệp bảo hiểm làm căn cứ khấu trừ thuế.

Cá nhân có phải tự quyết toán thuế đối với thu nhập từ bảo hiểm nhân thọ khi đáo hạn không?

Tóm tắt cốt lõi: Sau khi doanh nghiệp bảo hiểm khấu trừ thuế theo tỷ lệ 10%, cá nhân không phải quyết toán thuế đối với phần thu nhập từ phí bảo hiểm này.
Đây là điểm quan trọng được quy định rõ tại điểm b khoản 3 Điều 50 Nghị định 253/2026/NĐ-CP. Cơ chế này giúp đơn giản hóa thủ tục hành chính cho người lao động, vì nghĩa vụ thuế đã được hoàn thành thông qua việc doanh nghiệp bảo hiểm khấu trừ tại nguồn.

“Đáng chú ý, sau khi doanh nghiệp bảo hiểm thực hiện khấu trừ thuế theo quy định trên, cá nhân không phải quyết toán thuế đối với phần thu nhập từ phí bảo hiểm này.” – Theo quy định tại điểm b khoản 3 Điều 50 Nghị định 253/2026/NĐ-CP.

Trường hợp bảo hiểm nhân thọ do công ty nước ngoài cung cấp thì sao?

Đối với bảo hiểm nhân thọ do doanh nghiệp bảo hiểm không thành lập và hoạt động theo pháp luật Việt Nam nhưng được phép bán bảo hiểm tại Việt Nam cung cấp, quy định có sự khác biệt:
  • Người sử dụng lao động phải khấu trừ thuế 10% trên khoản phí đã mua hoặc đóng góp vượt mức được giảm trừ trước khi trả lương cho người lao động.
  • Cá nhân cũng không phải quyết toán thuế đối với phần thu nhập này.

Tình huống thực tế: Anh Hùng nhận tiền bảo hiểm nhân thọ đáo hạn

Tình huống: Anh Hùng là nhân viên tại Công ty X. Công ty đã mua cho anh một hợp đồng bảo hiểm nhân thọ có tích lũy với phí đóng là 5 triệu đồng/tháng từ tháng 1/2026. Đến tháng 12/2026, hợp đồng đáo hạn và công ty bảo hiểm chi trả toàn bộ số tiền phí tích lũy cho anh Hùng.

Giải quyết: Mức giảm trừ tối đa là 3 triệu đồng/tháng. Do đó, phần vượt mức giảm trừ là 2 triệu đồng/tháng (5 triệu – 3 triệu). Tổng số tiền phí vượt mức giảm trừ trong năm là 24 triệu đồng (2 triệu × 12 tháng). Công ty bảo hiểm sẽ khấu trừ 10% trên số tiền này, tức 2,4 triệu đồng. Anh Hùng nhận được số tiền còn lại và không phải tự quyết toán phần thu nhập này với cơ quan thuế.

Các trường hợp khác không phải quyết toán thuế TNCN

Theo khoản 1 Điều 51 Nghị định 253/2026/NĐ-CP, tổ chức, cá nhân không phải quyết toán thuế theo năm trong các trường hợp sau:
  1. Cá nhân có số thuế phải nộp nhỏ hơn số thuế đã nộp trong kỳ tính thuế mà không có yêu cầu hoàn thuế hoặc bù thuế vào kỳ sau.
  2. Không phải quyết toán thuế đối với phần thu nhập phát sinh tại nơi khác nếu đồng thời đáp ứng điều kiện:
    • Thu nhập bình quân tháng trong năm không quá 15 triệu đồng;
    • Đã được tổ chức, cá nhân chi trả thu nhập khấu trừ thuế TNCN 10% theo khoản 2 Điều 50 Nghị định 253/2026/NĐ-CP.
  3. Trường hợp cá nhân tự quyết toán thuế với cơ quan thuế: Hệ thống thông tin quản lý thuế hỗ trợ tổng hợp toàn bộ thu nhập từ tiền lương, tiền công phát sinh trong năm; số thuế đã bị khấu trừ trong năm được trừ khi xác định nghĩa vụ thuế phải nộp.

Lời khuyên từ luật sư

  1. Kiểm tra kỹ hợp đồng bảo hiểm: Xác định rõ phần phí do người sử dụng lao động đóng và phần lãi từ hợp đồng để biết khoản nào chịu thuế, khoản nào được miễn.
  2. Yêu cầu chứng từ khấu trừ thuế: Khi nhận tiền đáo hạn, hãy yêu cầu doanh nghiệp bảo hiểm cung cấp chứng từ khấu trừ thuế TNCN (nếu có) để làm căn cứ đối chiếu sau này.
  3. Lưu ý mốc thời gian: Các quy định về mức giảm trừ 3 triệu đồng/tháng chỉ áp dụng cho phần phí phát sinh từ ngày 01/01/2026. Phần phí trước đó vẫn tuân theo quy định cũ.
  4. Thông báo cho doanh nghiệp bảo hiểm: Nếu bạn là người sử dụng lao động, cần xác định và thông báo kịp thời phần phí vượt mức giảm trừ cho doanh nghiệp bảo hiểm để họ thực hiện khấu trừ thuế đúng quy định.
  5. Tham khảo ý kiến chuyên gia: Nếu có tình huống phức tạp (nhiều hợp đồng bảo hiểm, nhiều nguồn thu nhập), hãy liên hệ với luật sư hoặc cơ quan thuế để được tư vấn cụ thể.

Kết luận

Như vậy, đối với câu hỏi “Có phải quyết toán thuế đối với thu nhập từ bảo hiểm nhân thọ tại thời điểm đáo hạn?”, câu trả lời là không. Cá nhân không phải thực hiện quyết toán thuế đối với phần thu nhập từ phí bảo hiểm nhân thọ đã được doanh nghiệp bảo hiểm khấu trừ thuế 10% theo quy định tại điểm b khoản 3 Điều 50 Nghị định 253/2026/NĐ-CP. Ngoài ra, phần lãi từ hợp đồng bảo hiểm nhân thọ cũng thuộc diện được miễn thuế thu nhập cá nhân.

Câu hỏi thường gặp

Câu hỏi: Tôi tự mua bảo hiểm nhân thọ cho bản thân, khi đáo hạn tôi có phải quyết toán thuế không?

Không. Quy định về khấu trừ thuế và quyết toán thuế chỉ áp dụng đối với trường hợp người sử dụng lao động mua bảo hiểm nhân thọ cho người lao động. Nếu bạn tự mua bảo hiểm bằng tiền của mình, khoản tiền nhận được khi đáo hạn không phải chịu thuế TNCN và bạn không phải quyết toán.

Câu hỏi: Nếu doanh nghiệp bảo hiểm trả tiền đáo hạn thành nhiều lần, tôi có phải quyết toán sau mỗi lần không?

Không. Theo quy định, trường hợp khoản phí tích lũy được doanh nghiệp bảo hiểm trả thành nhiều lần, thuế TNCN được khấu trừ theo tỷ lệ 10% tương ứng với từng lần chi trả. Sau mỗi lần khấu trừ, bạn vẫn không phải quyết toán đối với phần thu nhập đó.

Câu hỏi: Phần lãi từ hợp đồng bảo hiểm nhân thọ có phải chịu thuế không?

Không. Phần lãi từ hợp đồng bảo hiểm nhân thọ thuộc diện được miễn thuế TNCN. Bạn không cần kê khai hay quyết toán phần thu nhập này.

Bạn đang cần Luật sư tư vấn pháp luật trực tiếp?

Kết nối ngay với tổng đài Luật Quang Huy để nhận ý kiến tư vấn pháp lý nhanh chóng, bảo mật và hoàn toàn chính xác từ đội ngũ Luật sư chuyên môn.

⚖️

Tham vấn chuyên môn bởi: Luật Quang Huy

Bài viết này được kiểm duyệt và hiệu đính chuyên môn bởi đội ngũ Luật sư của Luật Quang Huy. Chúng tôi cam kết cung cấp thông tin pháp lý chính xác, cập nhật và hữu ích nhất cho quý độc giả.

Picture of Hoàng Thìn
Hoàng Thìn
Lên đầu trang

Xác nhận gọi tới tổng đài tư vấn pháp luật 1900.6706 của Luật Quang Huy?

Xác nhận gọi tới tổng đài tư vấn pháp luật 1900.6588 của Luật Quang Huy?