Thế nào là hôn nhân cận huyết?

Hôn nhân cận huyết

Hôn nhân cận huyết là hôn nhân giữa nam và nữ trong cùng họ hàng thân thuộc chưa quá ba thế hệ.

Đó là việc kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng giữa những người cùng huyết thống trực hệ với nhau; giữa những người có họ trong phạm vi ba đời.

Hôn nhân cận huyết thống không phải là câu chuyện mới trong xã hội.

Hôn nhân cận huyết với xu hướng gia tăng, diễn biến ngày càng phức tạp, nhất là tại các tỉnh miền núi, vùng đồng bào dân tộc thiểu số, vùng sâu, vùng xa, biên giới, thậm chí cả khu vực đô thị.

Với cuộc sống hiện đại ngày nay, hôn nhân cận huyết thống không chỉ vi phạm pháp luật mà còn gây ra hậu quả rất lớn đối với cá nhân, gia đình và xã hội.

Qua bài viết sau, Luật Quang Huy gửi tới bạn vấn đề hôn nhân cận huyết và những hậu quả từ quan hệ hôn nhân cận huyết như sau:


Hiểu thế nào là hôn nhân cận huyết

Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 hiện hành cũng như các văn bản pháp luật không đưa ra khái niệm cho thuật ngữ “hôn nhân cận huyết thống”.

Vậy, hôn nhân cận huyết thống là gì?

Theo cách hiểu thông thường, hôn nhân cận huyết được hiểu là hôn nhân giữa nam và nữ trong cùng họ hàng thân thuộc chưa quá ba thế hệ.

Đó là việc kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng giữa những người cùng huyết thống trực hệ với nhau; giữa những người có họ trong phạm vi ba đời.

Theo quy định của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 thì những người trong phạm vi ba đời được xác định như sau:

  • Đời thứ nhất là cha mẹ;
  • Đời thứ hai là anh chị em cùng cha mẹ, cùng cha khác mẹ, cùng mẹ khác cha;
  • Đời thứ ba là anh chị em con chú, con bác, con cô, con cậu, con dì.

Hôn nhân cận huyết thống không phải là hiện tượng quá xa lạ, đặc biệt thường xuất hiện nhiều hơn ở những cộng đồng thiểu số vùng núi rừng, do trình độ nhận thức chưa cao và lối sống khép kín, lạc hậu.

Hầu hết các tỉnh miền núi đều có tình trạng kết hôn cận huyết xảy ra với tỷ lệ khá cao.


Hôn nhân cận huyết mang lại những hậu quả như thế nào?

Kết hôn trong phạm vi ba đời chính là kết hôn cận huyết, là hành vi mà Luật Hôn nhân và gia đình hiện hành quy định là hành vi bị cấm.

Bởi vì hành vi này có thể để lại những hậu quả nặng nề sau này.

Hậu quả của hôn nhân cận huyết làm suy giảm sức khỏe, tăng tỷ lệ bệnh tật do kết hợp gen mang lại, gây suy thoái chất lượng giống nòi.

Những trẻ em được sinh ra từ cha mẹ có quan hệ hôn nhân cận huyết thống dễ có nguy cơ mắc các bệnh di truyền, bệnh tật, suy giảm sức khỏe, vì hôn nhân cận huyết chính là điều kiện thuận lợi cho những gen lặn bệnh lý tương đồng gặp gỡ nhau.

Thường ở mỗi người ít nhiều gì cũng có mang một số gen bệnh lý ở thể lặn nên không biểu hiện ra ngoài.

Nhưng nếu cùng họ hàng lấy nhau, bệnh lý từ các gen lặn này trong họ nguy cơ trùng nhau tăng gấp nhiều lần và sẽ trở thành gen trội ở những đứa con sinh ra và các bệnh lý bẩm sinh sẽ xuất hiện như:

  • Các bệnh về máu như: bệnh hồng cầu liềm, rối loạn đông máu, thiếu máu, bệnh tan máu bẩm sinh,
  • Các bệnh dị dạng về xương, bụng phình to, nguy cơ tử vong rất cao
  • Thiểu năng trí tuệ, lùn, ốm yếu và nhiều dị dạng khác và những bệnh lý này làm cho thai chết non, trẻ chết sớm hoặc  không thể chữa dứt được.
  • Sinh ra con dị dạng hoặc bệnh di truyền như mù màu, bạch tạng, da vảy cá mở đầu cho cuộc sống tàn phế suốt đời Bệnh lại di truyền tiếp cho thế hệ sau làm cho suy thoái  giống nòi dần. Đây cũng là một trong những nguyên nhân quan trọng làm cho dân số của đồng bào thiểu số chậm phát triển. , trong đó thường gặp là bệnh tan máu bẩm sinh, da vẩy cá, bạch tạng, mù màu, lùn, đần độn…

Đối với xã hội, hôn nhân cận huyết thống ảnh hưởng nghiêm trọng đến chất lượng dân số, nguồn nhân lực vùng dân tộc thiểu số ở Việt Nam.

Một số dân tộc thiểu số ở Việt Nam đang đứng trước nguy cơ suy thoái giống nòi; thêm nữa là tăng áp lực và chi phí của xã hội để chăm sóc, điều trị các bệnh di truyền, bệnh tật…

Bên cạnh hậu quả suy giảm sức khoẻ, hôn nhân cận huyết còn ảnh hưởng không tốt đến văn hóa, đạo đức gia đình, phá vỡ các mối quan hệ đang tồn tại giữa các dòng tộc, gia đình và làm xói mòn, biến đổi giá trị truyền thống văn hóa tốt đẹp của dân tộc Việt Nam.


Biện pháp ngăn chặn hôn nhân cận huyết

Để hạn chế tình trạng kết hôn cận huyết và những hậu quả mà nó để lại, mỗi cá nhân và toàn xã hội cần có biện pháp, kế hoạch cụ thể.

Thứ nhất, tuyên truyền trực tiếp cho già làng, trưởng bản và hộ gia đình biết sự nguy hại của quan hệ cận huyết.

Dị tật, bệnh tật, chết trẻ, chết non phát sinh từ hôn nhân cận huyết chứ không phải do ma quỷ gì bắt.

Tuyên truyền Luật hôn nhân và gia đình hiện hành là một chiến dịch truyền thông thay đổi hành vi kết hôn cận huyết cần thời gian lâu dài, tế nhị vì đụng chạm đến truyền thông của đồng bào dân tộc thiểu số ở Việt Nam.

Thứ hai, tăng cường hệ thống điện – đường – trường – trạm để tăng sự giao lưu giữa các cộng đồng dân tộc, định hướng lối sống mở, môi trường mở để tăng cường giao lưu, gặp gỡ giữa các khu vực, vùng miền, nâng cao dân trí, nâng cao tỷ lệ trẻ đến trường, nâng cao trình độ học vấn và sự giao tiếp giữa thanh niên nam nữ ngoài họ tộc, ngoài buôn làng.

Thứ ba, phục hồi các phiên chợ phiên là nơi nam, nữ tập trung mua bán, giao lưu tình cảm và đi đến tình cảm hôn nhân.

Tăng cường hỗ trợ các hoạt động văn hóa dân tộc để tạo điều kiện người dân tộc có dịp mở rộng giao lưu các tộc cộng đồng khác.

Bên cạnh đó, nhà nước và địa phương cần siết chặt các biện pháp quản lý, ngăn chặn và xử lý hành vi vi phạm để hạn chế tối đa những hậu quả tiêu cực có thể xảy ra.


Cơ sở pháp lý

  • Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
  • Luật Hộ tịch năm 2014.

Trên đây là toàn bộ những thông tin về hôn nhân cận huyết.

Mọi thắc mắc của bạn liên quan tới vấn đề này hoặc cần tư vấn các vấn đề pháp lý, bạn vui lòng liên hệ Luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua HOTLINE19006588 của Luật Quang Huy để được tư vấn cụ thể.

Trân trọng./




Hãy chia sẻ bài viết này vì nó hữu ích và hoàn toàn miễn phí bạn nhé!

G

TƯ VẤN MIỄN PHÍ NGAY!

Scroll to Top