Quyền sở hữu công nghiệp có yếu tố nước ngoài

Luật Quang Huy có cung cấp dịch vụ đăng ký bảo hộ nhãn hiệu, thương hiệu, logo, quyền tác giả, sáng chế, quyền sở hữu công nghiệp,...và tất cả dịch vụ khác liên quan tới sở hữu trí tuệ. Nếu quý khách hàng đang có nhu cầu sử dụng dịch vụ, vui lòng gọi Tổng đài 1900.6671 (trong giờ hành chính) hoặc hotline 09.678910.86 (ngoài giờ hành chính) để được tư vấn miễn phí. Xin cảm ơn.

Quyền sở hữu trí tuệ có yếu tố nước ngoài được pháp luật quy định như thế nào? Trong bài viết dưới đây công ty Luật Quang Huy sẽ hướng dẫn cho quý khách hàng về quyền sở hữu công nghiệp có yếu tố nước ngoài.





1. Quyền sở hữu công nghiệp là gì?

Quyền sở hữu công nghiệp là một trong các nội dung cơ bản của quyền sở hữu trí tuệ. Theo quy định của Luật Sở hữu trí tuệ hiện hành, quyền sở hữu công nghiệp được hiểu là quyền của cá nhân, tổ chức đối với sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế bố trí mạch tích hợp bán dẫn, nhãn hiệu, tên thương mại, chỉ dẫn địa lý, bí mật kinh doanh do cá nhân, tổ chức sáng tạo ra hoặc sở hữu và quyền chống cạnh tranh không lành mạnh trên thị trường.

Khác với quyền tác giả, đối tượng của quyền sở hữu công nghiệp liên quan trực tiếp đến các hoạt động sản xuất, kinh doanh, thương mại. Theo đó, đối tượng của quyền sở hữu công nghiệp có thể chia thành hai nhóm cơ bản:

  • Các đối tượng của quyền sở hữu công nghiệp mang tính sáng tạo trong lĩnh vực công nghiệp như sáng chế, kiểu dáng, thiết kế bố trí mạch tích hợp bán dẫn…
  • Các đối tượng của quyền sở hữu công nghiệp là các dấu hiệu mang tính phân biệt trong thương mại, như nhãn hiệu, tên thương mại, chỉ dẫn địa lý, bí mật kinh doanh.

Lưu ý:

Quyền sở hữu công nghiệp chỉ phát sinh khi Cục sở hữu công nghiệp thuộc Bộ khoa học, công nghệ cấp văn bằng bảo hộ có hiệu lực trên toàn lãnh thổ Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Văn bằng bảo hộ chỉ có hiệu lực trên phạm vi lãnh thổ của quốc gia cấp văn bằng.


2. Quyền sở hữu công nghiệp có yếu tố nước ngoài là gì?

Quyền sở hữu công nghiệp được xem là có yếu tố nước ngoài được thể hiện qua ba trường hợp sau:

  • Chủ thể: phải có ít nhất một bên là người nước ngoài, pháp nhân nước ngoài (chủ thể yêu cầu được bảo hộ).

Ví dụ: Một nhãn hiệu hàng hóa của một doanh nghiệp nước ngoài bị một doanh nghiệp Việt Nam xâm phạm tại Việt Nam. Nay doanh nghiệp nước ngoài có đơn yêu cầu cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam bảo hộ quyền lợi cho mình.

  • Khách thể tồn tại ở nước ngoài.
  • Sự kiện pháp lý xảy ra ở nước ngoài.

Ví dụ: Chủ sở hữu nhãn hiệu tại Việt Nam muốn nộp đơn yêu cầu được bảo hộ ở các quốc gia khác như Mỹ, Anh, Trung Quốc,…


3. Có hay không việc xung đột pháp luật về quyền sở hữu công nghiệp trong Tư pháp quốc tế?

Xung đột pháp luật về quyền sở hữu trong tư pháp quốc tế là hiện tượng hai hay nhiều hệ thống pháp luật khác nhau cùng có thể được áp dụng để điều chỉnh quan hệ sở hữu phát sinh khi đó có thể sẽ xảy ra các kết quả không giống nhau, phụ thuộc vào việc hệ thống luật pháp nào được áp dụng.

Hiện tượng xung đột pháp luật về quyền sở hữu nói trên có thể xuất phát từ những nguyên nhân sau đây:

  • Trên thực tế, mỗi nước có điều kiện cơ sở hạ tầng khác nhau, bởi vậy pháp luật của các nước được xây dựng trên các nền tảng đó cũng có sự khác nhau.
  • Các điều kiện khác nhau về chính trị, kinh tế – xã hội phong tục tập quán, truyền thống lịch sử thậm chí là sự khác nhau về đặc điểm thể chất, tâm lý của công dân cũng dẫn đến sự khác nhau trong các quy định pháp luật cùng điều chỉnh một vấn đề.

Vậy có hay không vấn đề xung đột pháp luật về quyền tác giả trong tư pháp quốc tế tại Việt Nam?

Căn cứ theo Điều 679 về Quyền sở hữu trí tuệ Bộ Luật Dân sự 2015, quyền sở hữu trí tuệ được xác định theo pháp luật của nước nơi đối tượng quyền sở hữu trí tuệ được yêu cầu bảo hộ. Đây được xem là một quy phạm xung đột điều chỉnh vấn đề về quyền sở hữu trí tuệ trong đó có quyền tác giả.

Tuy nhiên, đặc điểm của quyền sở hữu trí tuệ nói chung trong đó có cả quyền sở hữu công nghiệp là mang tính lãnh thổ. Do đó, sự tồn tại của quy phạm xung đột không phải là bằng chứng cho việc có xung đột pháp luật trong bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ và chỉ xem là sự ghi nhận một cách nhất quán về việc sẽ áp dụng pháp luật của nước nơi có yêu cầu bảo hộ được tiến hành.

Như vậy, trong lĩnh vực bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ thì chỉ có duy nhất một hệ thống pháp luật được áp dụng mà không thể có hai hệ thống pháp luật cùng điều chỉnh vấn đề này nên không tồn tại xung đột pháp luật.

Quyền sở hữu công nghiệp có yếu tố nước ngoài
Quyền sở hữu công nghiệp có yếu tố nước ngoài

4. Các biện pháp bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp trong tư pháp quốc tế

4.1. Bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp dựa trên việc ký kết, tham gia các điều ước quốc tế đa phương, song phương:

4.1.1. Công ước Paris năm 1883 về quyền sở hữu công nghiệp

Đây là một trong những công ước quốc tế đa phương quan trọng về sở hữu công nghiệp. Việt Nam tham gia công ước vào năm 1981.

Mục đích của công ước là xây dựng các điều kiện có lợi cho việc cấp văn bằng bảo hộ cho chủ sở hữu công nghiệp là công dân, pháp nhân của nước này ở nước khác thuộc thành viên công ước trên cơ sở nguyên tắc tôn trọng luật sở hữu trí tuệ của nước thành viên.

4.1.2. Thỏa ước Madrid và Nghị định thư Madrid

Thỏa ước Madrid về đăng ký quốc tế với nhãn hiệu hàng hóa có hiệu lực từ năm 1981. Còn nghị định thư có liên quan đến thỏa ước Madrid được thông qua năm 1989 có hiệu lực năm 1995 và quy chế thi hành Nghị định thư có hiệu lực từ năm 1996.

Việt Nam là thành viên của Thoả ước Madrid từ năm 1949 còn tới tận ngày 11 tháng 4 năm 2006 Việt Nam mới nộp văn kiện gia nhập Nghị định thư. Và tính từ ngày 11 tháng 7 năm 2006, Việt Nam chính thức trở thành thành viên của cả hệ thống đăng ký quốc tế về nhãn hiệu gồm cả Thoả ước Madrid và Nghị định thư liên quan đến thỏa ước Madrid.

Mục đích là tạo điều kiện thuận lợi cho việc đăng ký nhãn hiệu hàng hoá tại các nước thành viên.

4.1.3. Hiệp ước hợp tác về sáng chế (Patent Cooperation Treaty – PCT) năm 1970

Hiệp ước này được ký kết ngày 19 tháng 6 năm 1970 tại Washington, PCT bắt đầu có hiệu lực từ ngày 01 tháng 6 năm 1978 và Việt Nam tham gia PCT từ ngày 10 tháng 3 năm 1993.

Mục đích của hiệp ước là đơn giản hóa thủ tục bảo hộ sáng chế và thực hiện việc bảo hộ một cách kinh tế hơn bằng cách cho phép bảo hộ bằng sáng chế cho một phát minh đồng thời ở một số lượng lớn các quốc gia bằng cách nộp đơn đăng ký bằng sáng chế quốc tế duy nhất.

4.1.4. Hiệp định Trips – Hiệp định về các vấn đề liên quan đến thương mại của quyền sở hữu trí tuệ

Được ký kết vào ngày 15 tháng 12 năm 1993 tại vòng Đàm phán Uruguay, bắt đầu hiệu lực từ ngày 01 tháng 01 năm 1995 đối với tất cả các nước là thành viên của GATT (nay là WTO). Hiệp định TRIPS có hiệu lực với Việt Nam ngay từ khi Việt Nam trở thành Thành viên của WTO (năm 2007).

Mục đích chính của TRIPS là quy định những tiêu chuẩn, những biện pháp và những thủ tục tối tiểu mà các nước là thành viên của hợp đồng phải có nghĩa vụ tuân thủ, thiết lập một khung pháp lý thống nhất, có hiệu quả trong việc bảo hộ toàn diện quyền sở hữu trí tuệ, trong đó có quyền sở hữu công nghiệp.

4.1.5. Hiệp định khung về sở hữu trí tuệ của các nước ASEAN

Đây là ĐƯQT khu vực do 7 nước thành viên: Brunei, Indonesia, Malaysia, Philippines, Singapore, Thailand và Việt Nam ký kết ngày 15 /12 /1995 tại BangKok.

Mục đích chính của hiệp ước là xác định phạm vi đối tượng quyền sở hữu trí tuệ được bảo hộ giữa các nước thành viên.

Các biện pháp bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ giữa các nước thành viên trên nguyên tắc đãi ngộ quốc gia (NT) và đãi ngộ tối huệ quốc phù hợp với các chuẩn mực của Hiệp định TRIPS cũng như mục tiêu thực hiện hệ thống đăng ký sáng chế, nhãn hiệu hàng hóa của khu vực ASEAN hướng tới thành lập một văn phòng bằng sáng chế và văn phòng nhãn hiệu hàng hóa chung của cả khối nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho việc đăng ký và cấp văn bằng bảo hộ tiến tới đơn giản hóa các hệ thống quản lý về sở hữu trí tuệ trong toàn khu vực ASEAN.

Hiệp định thương mại giữa Việt Nam và Hoa Kỳ được ký kết ngày 13/7/2000 và bắt đầu có hiệu lực từ ngày 11/ 12/ 2001:

Nội dung chính của hiệp định bao gồm:

  • Quy định nguyên tắc xuyên suốt trong việc xác lập bảo hộ và thực thi quyền sở hữu công nghiệp là nguyên tắc đối xử quốc gia.
  • Quy định rõ đối tượng bảo hộ, các tiêu chuẩn bảo hộ, phạm vi, thời hạn bảo hộ đối với từng đối tượng của quyền sở hữu trí tuệ. Cụ thể: Đối với quyền sở hữu công nghiệp các đối tượng được bảo hộ theo Hiệp định bao gồm: nhãn hiệu hàng hóa, sáng chế, thiết kế bố trí mạch tích hợp, thông tin bí mật, kiểu dáng công nghiệp.Ngoài các đối tượng trên, Việt Nam và Hoa Kỳ còn có nghĩa vụ bảo hộ đối với các đối tượng sở hữu công nghiệp khác đã được quy định trong các ĐƯQT đa phương mà Hiệp định đã dẫn chiếu tới là Công ước Paris 1967 về quyền sở hữu công nghiệp.
  • Quy định các biện pháp để thực thi có hiệu quả quyền sở hữu trí tuệ nói chung và quyền sở hữu công nghiệp nói riêng.

4.2. Bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp theo quy định tại pháp luật của từng quốc gia

Như đã phân tích phía trên, một trong các đặc điểm của quyền sở hữu công nghiệp là mang tính lãnh thổ. Theo đó, pháp luật về sở hữu trí tuệ của quốc gia nào chặt chẽ, mạnh mẽ thì việc bảo hộ quyền của chủ sở hữu công nghiệp càng tốt hơn.




5. Cơ sở pháp lý

  • Bộ Luật Dân sự 2015;
  • Luật sở hữu trí tuệ năm 2005 sửa đổi, bổ sung năm 2009, 2019;
  • Thông tư số 16/2016/TT-BKHCN về sửa đổi Thông tư 01/2007/TT-BKHCN hướng dẫn thi hành Nghị định 103/2006/NĐ-CP hướng dẫn Luật Sở hữu trí tuệ về sở hữu công nghiệp, được sửa đổi theo Thông tư 13/2010/TT-BKHCN, Thông tư 18/2011/TT-BKHCN và Thông tư 05/2013/TT-BKHCN do Bộ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ ban hành.

Trên đây là toàn bộ câu trả lời của chúng tôi về Quyền sở hữu công nghiệp có yếu tố nước ngoài. Hy vọng bài viết đã có thể giải đáp phần nào thắc mắc của bạn.

Nếu còn vấn đề thắc mắc hoặc chưa rõ bạn có thể liên hệ trực tiếp với chúng tôi qua Tổng đài tư vấn luật Sở hữu trí tuệ của  HOTLINE 19006588 của Luật Quang Huy để được tư vấn trực tiếp.

Trân trọng./.

5/5 - (1 bình chọn)
Tác giả bài viết
chat-zalo
phone-call

TƯ VẤN MIỄN PHÍ NGAY!

Scroll to Top