Nội dung giấy chứng nhận đăng ký nhãn hiệu

Nội dung giấy chứng nhận đăng ký nhãn hiệu
Với mong muốn hỗ trợ cho các cá nhân, doanh nghiệp có nhu cầu đăng ký, chuyển nhượng quyền sở hữu trí tuệ, chúng tôi đã kịp thời bổ sung đường dây nóng tư vấn về Luật Sở hữu trí tuệ. Nếu quý khách hàng đang có nhu cầu tư vấn về vấn đề này, hãy liên hệ ngay cho Luật sư qua Tổng đài 19006588.

Đăng ký nhãn hiệu là thủ tục cá nhân, tổ chức cần phải thực hiện để khẳng định quyền sở hữu đối hợp pháp đối với, nhãn hiệu của mình và có thể tự do khai thác các lợi ích thương mại từ nhãn hiệu thông qua việc sử dụng nhãn hiệu gắn liền với sản phẩm, dịch vụ hay chuyển giao quyền sử dụng. Trong bài viết này, Luật Quang Huy tập trung phân tích những vấn đề pháp lý liên quan đến giấy chứng nhận đăng ký nhãn hiệu.





1. Giấy chứng nhận đăng ký nhãn hiệu là gì?

Văn bằng bảo hộ nói chung là văn bản do cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp cho tổ chức, cá nhân nhằm xác lập quyền sở hữu công nghiệp đối với sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế bố trí, nhãn hiệu, chỉ dẫn địa lý; quyền đối với giống cây trồng.

Giấy chứng nhận đăng ký nhãn hiệu hay còn gọi là văn bằng bảo hộ chính là cơ sở pháp lý quan trọng nhất bảo vệ doanh nghiệp khi có tranh chấp về nhãn hiệu xảy ra, nhằm chứng minh quyền sở hữu đối với tài sản trí tuệ của mình.

Có thể hiểu đây là một trong những loại văn bằng bảo hộ ghi nhận chủ sở hữu của nhãn hiệu, đối tượng, phạm vi và thời gian bảo hộ. Là loại giấy tờ quan trọng trong công tác xác minh được đâu là chủ sở hữu hợp pháp của nhãn hiệu. Có thể xem đây là chứng từ pháp lý quan trọng trong việc bảo vệ tư cách của chủ thể sở hữu đối với nhãn hiệu đã đăng ký.


2. Giấy chứng nhận thương hiệu và giấy chứng nhận nhãn hiệu có phải là một?

Hiện nay, thuật ngữ “nhãn hiệu” và “thương hiệu” được sử dụng rộng rãi trong đời sống kinh tế – xã hội. Tuy nhiên, không phải ai cũng hiểu một cách chính xác hai thuật ngữ này và có sự nhầm lẫn về khái niệm coi hai thuật ngữ này là một.

Thương hiệu theo định nghĩa của Tổ chức sở hữu trí tuệ thế giới (WIPO): là một dấu hiệu (hữu hình và vô hình) đặc biệt để nhận biết một sản phẩm hàng hoá hay một dịch vụ nào đó được sản xuất hay được cung cấp bởi một cá nhân hay một tổ chức.

Nhãn hiệu theo định nghĩa tại Khoản 16 Điều 4 Luật Sở hữu trí tuệ là dấu hiệu dùng để phân biệt hàng hoá, dịch vụ của các tổ chức, cá nhân khác nhau.

Do đó, theo quy định của pháp luật, chỉ có “nhãn hiệu” mới là đối tượng được cơ quan nhà nước có thẩm quyền công nhận và bảo hộ thông qua việc cấp văn bằng bảo hộ hay còn gọi là giấy chứng nhận đăng ký nhãn hiệu, còn “ thương hiệu” được tạo nên qua quá trình xây dựng, phát triển doanh nghiệp, giúp khẳng định sức cạnh tranh và giá trị của mình trên thị trường.

Như vậy có thể thấy, giấy chứng nhận thương hiệu và giấy chứng nhận nhãn hiệu không phải là một.


3. Nội dung giấy chứng nhận đăng ký nhãn hiệu hàng hóa

Giấy chứng nhận đăng ký nhãn hiệu là văn bằng bảo hộ do Cục sở hữu trí tuệ cấp cho tổ chức, cá nhân nhằm xác lập quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu. Giấy chứng nhận đăng ký nhãn hiệu sẽ được cấp cho chủ sở hữu, nội dung trên giấy chứng nhận đăng ký nhãn hiệu sẽ bao gồm các thông tin sau:

  • Số giấy chứng nhận;
  • Chủ sở hữu giấy chứng nhận bao gồm thông tin: Tên chủ sở hữu, địa chỉ chủ sở hữu;
  • Thông tin về số đơn và ngày nộp đơn đăng ký nhãn hiệu;
  • Thông tin về nhóm sản phẩm/dịch vụ đăng ký;
  • Thông tin về số quyết định cấp giấy chứng nhận đăng ký;
  • Thông tin về thời gian hiệu lực giấy chứng nhận đăng ký.

4. Quyền lợi của người được cấp giấy chứng nhận đăng ký nhãn hiệu

Nhãn hiệu là một trong những dấu hiệu để khách hàng, người tiêu dùng nhận diện được sản phẩm, tên tuổi của tổ chức, cá nhân kinh doanh. Tổ chức, cá nhân xây dựng nhãn hiệu nếu không thực hiện việc đăng ký bảo hộ sẽ có thể dẫn đến những rủi ro pháp lý như việc nhãn hiệu này đã bị trùng hoặc cá nhân, tổ chức khác lợi dụng nhãn hiệu để thu lợi bất chính.

Việc đăng ký bảo hộ nhãn hiệu giúp doanh nghiệp ngăn chặn các rủi ro pháp lý liên quan, được bảo vệ cá nhân, tổ chức trong quá trình được sử dụng nhãn hiệu và chủ động trong các hoạt động sản xuất, kinh doanh.

Tổ chức, cá nhân có quyền đăng ký nhãn hiệu dùng cho hàng hóa do mình sản xuất hoặc dịch vụ do mình cung cấp. Pháp luật cho phép người được cấp giấy chứng nhận đăng ký nhãn hiệu có các quyền sau:

  • Quyền tự mình sử dụng hoặc cho phép người khác sử dụng nhãn hiệu đã đăng ký.
  • Quyền ngăn cấm người khác sử dụng nhãn hiệu của mình trên toàn lãnh thổ Việt Nam.
  • Quyền định đoạt gồm: bán, chuyển nhượng, li-xăng (cho phép người khác sử dụng), hoặc từ bỏ nhãn hiệu đã đăng ký.

5. Hiệu lực của giấy chứng nhận đăng ký nhãn hiệu

Hiệu lực về không gian. Văn bằng bảo hộ đều có hiệu lực trên toàn lãnh thổ Việt Nam.

Hiệu lực về thời gian. Khoản 6 Điều 93 Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005 sửa đổi, bổ sung năm 2009 và 2019 quy định về hiệu lực của văn bằng bảo hộ như sau:

Giấy chứng nhận đăng ký nhãn hiệu có hiệu lực từ ngày cấp đến hết mười năm kể từ ngày nộp đơn, có thể gia hạn nhiều lần liên tiếp, mỗi lần mười năm.

Thời hạn bảo hộ của nhãn hiệu là 10 năm, tuy nhiên chủ sở hữu nhãn hiệu có thể xin gia hạn nhiều lần liên tiếp, mỗi lần 10 năm và có thể được bảo hộ mãi mãi nếu được gia hạn đúng hạn. Trong vòng 06 tháng trước ngày Giấy chứng nhận đăng ký nhãn hiệu hết hiệu lực, chủ sở hữu nhãn hiệu phải nộp đơn yêu cầu gia hạn và lệ phí theo quy định cho Cục Sở hữu trí tuệ.

Có thể thấy, khác với một số loại văn bằng bảo hộ khác, loại văn bằng này cơ thể thực hiện gia hạn sau khi hết hiệu lực. Để gia hạn thì chủ văn bằng bảo hộ phải nộp lệ phí gia hạn hiệu lực và thực hiện thủ tục do Chính phủ quy định.

Thời gian để gia hạn hiệu lực là 6 tháng trước khi văn bằng hết hiệu lực. Đơn yêu cầu gia hạn có thể nộp muộn hơn thời hạn quy định nêu trên nhưng không được quá 06 tháng kể từ ngày văn bằng bảo hộ hết hiệu lực. Lưu ý nếu gia hạn sau khi giấy chứng nhận hết hiệu lực càng trễ thì mức phí người chủ văn bằng phải chịu là càng cao.

Nội dung giấy chứng nhận đăng ký nhãn hiệu
Nội dung giấy chứng nhận đăng ký nhãn hiệu

6. Chấm dứt hiệu lực văn bằng bảo hộ

Thứ nhất, về cơ sở pháp lý: điều 95 Luật sở hữu trí tuệ

Thứ hai, về căn cứ chấm dứt. Văn bằng bảo hộ nhãn hiệu chấm dứt trên cơ sở ý chí chủ quan của chủ sở hữu hoặc những vi phạm của chủ sở hữu trong việc sử dụng và kiểm soát nhãn hiệu. Cũng có thể do yếu tố khách quan mà không xuất phát từ hành vi trái pháp luật của chủ sở hữu nhãn hiệu tại thời điểm đăng ký nhãn hiệu.

Có thể thấy, đối với chấm dứt hiệu lực Văn bằng bảo hộ nhãn hiệu, ban đầu chủ sở hữu giấy chứng nhận đã có quyền một cách hợp pháp với đối tượng bảo hộ, tuy nhiên vì một lý do nào đó theo quy định nên phải chấm dứt.

Nói cách khác, chủ sở hữu văn bằng ban đầu đã có quyền đối với nhãn hiệu và được bảo hộ một cách hợp pháp, đúng chủ thể, đúng trình tự theo luật định, đúng đối tượng được bảo hộ theo điều kiện được bộ của luật sở hữu trí tuệ.

Tuy nhiên vì những lý do phát sinh về sau, như bản thân chủ sở hữu muốn từ bỏ quyền sở hữu, hay chủ văn bằng bảo hộ nhãn hiệu không nộp lệ phí duy trì hiệu lực hoặc gia hạn hiệu lực theo luật định,… nên mới chấm dứt hiệu lực văn bằng bảo hộ nhãn hiệu nhãn hiệu.

Thứ ba, trường hợp chấm dứt văn bằng bảo hộ. Văn bằng bảo hộ bị chấm dứt hiệu lực trong các trường hợp sau đây:

  • Chủ văn bằng bảo hộ không nộp lệ phí duy trì hiệu lực hoặc gia hạn hiệu lực theo quy định;
  • Chủ văn bằng bảo hộ tuyên bố từ bỏ quyền sở hữu công nghiệp;
  • Chủ văn bằng bảo hộ không còn tồn tại hoặc chủ Giấy chứng nhận đăng ký nhãn hiệu không còn hoạt động kinh doanh mà không có người kế thừa hợp pháp;
  • Nhãn hiệu không được chủ sở hữu hoặc người được chủ sở hữu cho phép sử dụng trong thời hạn năm năm liên tục trước ngày có yêu cầu chấm dứt hiệu lực mà không có lý do chính đáng, trừ trường hợp việc sử dụng được bắt đầu hoặc bắt đầu lại trước ít nhất ba tháng tính đến ngày có yêu cầu chấm dứt hiệu lực;
  • Chủ Giấy chứng nhận đăng ký nhãn hiệu đối với nhãn hiệu tập thể không kiểm soát hoặc kiểm soát không có hiệu quả việc thực hiện quy chế sử dụng nhãn hiệu tập thể;
  • Chủ Giấy chứng nhận đăng ký nhãn hiệu đối với nhãn hiệu chứng nhận vi phạm quy chế sử dụng nhãn hiệu chứng nhận hoặc không kiểm soát, kiểm soát không có hiệu quả việc thực hiện quy chế sử dụng nhãn hiệu chứng nhận;
  • Các điều kiện địa lý tạo nên danh tiếng, chất lượng, đặc tính của sản phẩm mang chỉ dẫn địa lý bị thay đổi làm mất danh tiếng, chất lượng, đặc tính của sản phẩm đó.

Thứ tư, hậu quả pháp lý của việc chấm dứt văn bằng bảo hộ. Giấy chứng nhận đăng ký nhãn hiệu vẫn có hiệu lực từ thời điểm cấp văn bằng cho đến khi có quyết định chấm dứt hiệu lực. Mọi giao dịch liên quan đến đối tượng ở thời điểm trước khi chấm dứt vẫn được coi là hợp pháp.

Việc chấm dứt hiệu lực văn bằng bảo hộ nhãn hiệu chỉ làm ngừng hoàn toàn giá trị pháp lý của văn bằng kể từ khi văn bằng bị chấm dứt hiệu lực theo quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Điều đó có nghĩa là trước thời điểm bị chấm dứt hiệu lực, văn bằng bảo hộ nhãn hiệu vẫn có giá trị pháp lý và quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu của chủ sở hữu vẫn tồn tại từ thời điểm cấp bằng.

Do đó, những giao dịch liên quan đến nhãn hiệu trước khi văn bằng bảo hộ nhãn hiệu bị chấm dứt vẫn được công nhận là hợp pháp theo quy định của pháp luật.

Thứ năm, về thời hiệu thực hiện quyền yêu cầu chấm dứt văn bằng bảo hộ nhãn hiệu. Pháp luật không có quy định về thời hiệu thực hiện quyền yêu cầu đối với chấm dứt hiệu lực. Việc chấm dứt hiệu lực văn bằng bảo hộ nhãn hiệu có thể được yêu cầu tại bất kỳ thời điểm nào khi xuất hiện các căn cứ pháp lý dẫn đến việc chấm dứt hiệu lực của văn bằng trên thực tế.

Thứ sáu, về ví dụ chấm dứt văn bằng bảo hộ:

Anh Nguyễn Văn T là chủ sở hữu văn bằng bảo hộ nhãn hiệu số 11223 được cục sở hữu trí tuệ cấp ngày 14/09/2012. Ngày 20/11/2016, văn bằng bảo hộ nhãn hiệu số 11223 bị chấm dứt hiệu lực do anh Nguyễn Văn T tuyên bố từ bỏ quyền sở hữu công nghiệp. Kể từ ngày văn bằng bị chấm dứt hiệu lực, các giao dịch liên quan sẽ không phát sinh hiệu lực.

Tuy nhiên, những giao dịch liên quan đến nhãn hiệu trước khi văn bằng bảo hộ nhãn hiệu bị chấm dứt (trước ngày 20/11/2016) vẫn được công nhận là hợp pháp theo quy định của pháp luật.


7. Sửa đổi giấy chứng nhận đăng ký nhãn hiệu

Theo Luật Sở hữu trí tuệ, sau khi được cấp giấy chứng nhận đăng ký bảo hộ nhãn hiệu, chủ sở hữu có quyền yêu cầu cơ quan quản lý nhà nước sửa đổi văn bằng đăng ký nhãn hiệu khi có điều chỉnh, sửa đổi các thông tin sau:

  • Thay đổi chủ đơn đăng ký nhãn hiệu;
  • Thay đổi thiếu sót thông tin của chủ đơn về tên, địa chỉ;
  • Thu hẹp phạm vi bảo hộ văn bằng đăng ký nhãn hiệu như: sửa đổi một số chi tiết nhỏ nhưng không làm thay đổi đáng kể mẫu nhãn hiệu; yêu cầu giảm bớt một hoặc một số sản phẩm, dịch vụ;
  • Sửa đổi thiếu sót trong văn bằng bảo hộ do lỗi từ cơ quan nhà nước;
  • Thay đổi địa chỉ của chủ đơn (ví dụ: trường hợp công ty thay đổi địa chỉ trụ sở chính);
  • Sửa đổi bản mô tả tính chất, chất lượng đặc thù, khu vực địa lý mang chỉ dẫn địa lý; sửa đổi quy chế sử dụng nhãn hiệu tập thể, quy chế sử dụng nhãn hiệu chứng nhận.

8. Hủy bỏ giấy chứng nhận nhãn hiệu hàng hóa

Thứ nhất, cơ sở pháp lý của việc hủy bỏ: Điều 96 Luật sở hữu trí tuệ

Thứ hai, về trường hợp hủy bỏ giấy chứng nhận nhãn hiệu hàng hóa. Giấy chứng nhận nhãn hiệu hàng hóa bị hủy bỏ trong trường hợp sau:

  • Người nộp đơn đăng ký không có quyền đăng ký và không được chuyển nhượng quyền đăng ký đối với nhãn hiệu;
  • Nhãn hiệu không đáp ứng các điều kiện bảo hộ tại thời điểm cấp văn bằng bảo hộ.

Có thể thấy, căn cứ huỷ bỏ hiệu lực văn bằng bảo hộ nhãn hiệu có thể là do người nộp đơn đăng ký không có quyền đăng ký và không được chuyển nhượng quyền đăng ký nhãn hiệu, do đối tượng đăng ký nhãn hiệu không đáp ứng các điều kiện bảo hộ tại thời điểm cấp văn bằng hoặc do sự không trung thực của người nộp đơn.

Như vậy, có thể thấy căn cứ huỷ bỏ hiệu lực Văn bằng thường xuất phát từ hành vi có lỗi của người nộp đơn đăng ký nhãn hiệu hoặc lỗi trong quá trình thẩm định cấp văn bằng, đó chính là yếu tố khiến cho việc cấp văn bằng bảo hộ nhãn hiệu được xem là trái với quy định của pháp luật kể từ thời điểm văn bằng được cấp.

Thứ ba, về hậu quả pháp lý của việc hủy bỏ giấy chứng nhận nhãn hiệu hàng hóa. Giấy chứng nhận đăng ký nhãn hiệu hàng hóa bị mất hiệu lực kể từ thời điểm được cấp văn bằng, do đó mọi giao dịch liên quan đến đối tượng đều bị coi là vô hiệu.

Tức là, việc huỷ bỏ hiệu lực văn bằng bảo hộ nhãn hiệu xóa bỏ hoàn toàn giá trị pháp lý của văn bằng cũng như quyền và nghĩa vụ liên quan đến nhãn hiệu của chủ sở hữu kể từ thời điểm cấp văn bằng. Văn bằng bảo hộ nhãn hiệu sẽ hoàn toàn không có giá trị pháp lý kể từ thời điểm được cấp, theo đó, mọi quyền và giá trị pháp lý được thiết lập trên cơ sở văn bằng bảo hộ này cũng không được ghi nhận. Nói một cách khác, mọi giao dịch của chủ sở hữu nhãn hiệu với các chủ thể khác liên quan tới nhãn hiệu đều bị coi là vô hiệu.

Thứ tư, về thời hiệu thực hiện quyền yêu cầu hủy bỏ hiệu lực giấy chứng nhận nhãn hiệu hàng hóa.Thời hiệu thực hiện quyền yêu cầu hủy bỏ hiệu lực văn bằng bảo hộ là suốt thời hạn bảo hộ; đối với nhãn hiệu thì thời hiệu này là 05 năm kể từ ngày cấp văn bằng bảo hộ, trừ trường hợp văn bằng bảo hộ được cấp do sự không trung thực của người nộp đơn.

Thứ năm, về ví dụ của việc hủy bỏ giấy chứng nhận nhãn hiệu hàng hóa. Ngày 14/04/2010, A là chủ sở hữu văn bằng bảo hộ số 12345 được Cục SHTT cấp ngày 02/12/2008 ký hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng nhãn hiệu cho B và hợp đồng có hiệu lực kể từ ngày ký.

Theo đó, A chuyển quyền sử dụng nhãn hiệu độc quyền trên lãnh thổ Việt Nam trong một năm cho B và B đã thanh toán cho A toàn bộ tiền phí trong một năm. Tuy nhiên, ngày 11/06/2010, Văn bằng bảo hộ số 12345 bị hủy bỏ hiệu lực do đối tượng sở hữu công nghiệp không đáp ứng các điều kiện bảo hộ tại thời điểm cấp văn bằng bảo hộ.

Khi đó, giao dịch chuyển quyền sử dụng nhãn hiệu trên cũng bị vô hiệu, do đó, sẽ không làm phát sinh nghĩa vụ chuyển quyền sử dụng nhãn hiệu của A cho B cũng như không làm phát sinh nghĩa vụ thanh toán khoản phí nhận chuyển quyền sử dụng nhãn hiệu của B cho A kể từ thời điểm hợp đồng 6 có hiệu lực. (Về nguyên tắc, các bên phải hoàn trả cho nhau những gì đã nhận khi giao dịch vô hiệu).




9. Cơ sở pháp lý

  • Văn bản hợp nhất 07/VBHN-VPQH năm 2019 hợp nhất Luật Sở hữu trí tuệ do Văn phòng Quốc hội ban hành.

Trên đây là bài tư vấn của chúng tôi về Giấy chứng nhận đăng ký nhãn hiệu theo quy định pháp luật hiện hành.

Luật Quang Huy không chỉ có Tổng đài tư vấn pháp luật chuyên sâu về pháp luật quyền tác giả mà còn là đơn vị có kinh nghiệm lâu năm trong lĩnh vực sở hữu trí tuệ.

Để được tư vấn đầy đủ và chính xác nhất, mời quý khách hàng liên hệ qua Tổng đài tư vấn luật Sở hữu trí tuệ trực tuyến của HOTLINE 19006588 của Luật Quang Huy để nhận tư vấn thêm về vấn đề mà quý khách hàng đang gặp phải.

Trân trọng./.

5/5 - (1 bình chọn)
Tác giả bài viết
phone-call

GỌI HOTLINE 19006588

Scroll to Top