Người tâm thần phạm tội có phải chịu TNHS không?

Người bị tâm thần có chịu trách nhiệm hình sự không?
Do nhu cầu tư vấn giải đáp thắc mắc liên quan đến luật hình sự tăng cao, Luật Quang Huy đã cung cấp đường dây nóng hỗ trợ hỏi đáp luật hình sự. 100% cuộc gọi tới đường dây này được bảo mật thông tin cuộc gọi. Nếu bạn đọc có nhu cầu được hỗ trợ về luật hình sự, hãy liên hệ ngay qua Tổng đài 1900.6784.

Bạn đang thắc mắc khi thực hiện hành vi phạm tội người bị tâm thần có chịu trách nhiệm hình sự không? Nếu có thì trường hợp nào người bị tâm thần phải chịu trách nhiệm hình sự? Tất cả những vấn đề này sẽ được Luật Quang Huy giải đáp trong bài viết dưới đây.





1. Thế nào là bệnh tâm thần?

Theo y học, bệnh tâm thần là bệnh do rối loạn hoạt động não bộ gây nên những biến đổi bất thường về lời nói, ý tưởng, hành vi, tác phong, tình cảm…Bệnh tâm thần điển hình bao gồm trầm cảm, rối loạn lo âu, tâm thần phân liệt, rối loạn ăn uống và hành vi gây nghiện.

Theo pháp luật hình sự, quy định tình trạng không có năng lực trách nhiệm hình sự là người thực hiện hành vi thực sự nguy hiểm cho xã hội trong khi đang mắc bệnh tâm thần; hoặc một bệnh khác làm mất khả năng nhận thức; hoặc khả năng điều khiển hành vi của mình thì không phải chịu trách nhiệm hình sự.

Như vậy, người mất năng lực trách nhiệm hình sự khi thỏa mãn:

  • Phải mắc bệnh tâm thần hoặc bệnh khác làm rối loạn hoạt động tâm thần;
  • Không có khả năng nhận thức được ý nghĩa xã hội của hành vi; hoặc tuy có khả năng nhận thức hành vi nhưng không có năng lực điều khiển hành vi đó.

Từ những quy định trên của pháp luật thì có thể hiểu người mắc bệnh tâm thần là người mất năng lực hành vi và mất năng lực trách nhiệm hình sự.

Người bị tâm thần có chịu trách nhiệm hình sự không?
Người bị tâm thần có chịu trách nhiệm hình sự không?

2. Người tâm thần bắt buộc phải được trưng cầu giám định

Điều 21 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 quy định: Người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội trong khi đang mắc bệnh tâm thần, một bệnh khác làm mất khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi của mình, thì không phải chịu trách nhiệm hình sự.

Như vậy, về nguyên tắc người mất năng lực trách nhiệm hình sự do bị bệnh tâm thì không phải chịu trách nhiệm hình sự. Tuy nhiên, để xác định chính xác người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội có mắc bệnh tâm thần hay không thì Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 yêu cầu phải trưng cầu giám định.

Cụ thể, khoản 1 Điều 206 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 quy định: Bắt buộc phải trưng cầu giám định khi cần xác định tình trạng tâm thần của người bị buộc tội khi có sự nghi ngờ về năng lực trách nhiệm hình sự của họ; tình trạng tâm thần của người làm chứng hoặc bị hại khi có sự nghi ngờ về khả năng nhận thức, khả năng khai báo đúng đắn về những tình tiết của vụ án.

Như vậy, việc giám định đối với người mắc bệnh tâm thần thực hiện hành vi phạm tội là bắt buộc. Nếu kết quả giám định cho thấy người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội trong khi mắc bệnh tâm thần thì Viện Kiểm sát hoặc Tòa án căn cứ vào kết quả này đưa họ vào một cơ sở điều trị chuyên khoa để bắt buộc chữa bệnh mà không phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi mình đã thực hiện.


3. Người bị tâm thần có chịu trách nhiệm hình sự không?

Như đã đề cập ở phần trên thì người bị bệnh tâm sẽ không phải chịu trách nhiệm hình sự. Tuy nhiên, không phải trong mọi trường hợp người bị bệnh tâm thần đều không phải chịu trách nhiệm hình sự.

Sẽ có những trường hợp người bị bệnh tâm thần nhưng không dẫn đến mất khả năng nhận thức hoặc điều kiện hành vi thì vẫn có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự. Cụ thể trong sẽ có trường hợp sau:

  • Nếu người thực hiện hành vi phạm tội trong trạng thái hoàn toàn bình thường mà trước khi bị kết án mới lâm vào tình trạng mất khả năng nhận thức hoặc điều khiển hành vi thì có thể vẫn sẽ phải chịu trách nhiệm hình sự;
  • Người mắc bệnh tâm thần nhưng chỉ bị hạn chế năng lực hành vi thì người phạm tội vẫn phải chịu trách nhiệm hình sự;
  • Trường hợp đang chấp hành hình phạt tù mà bị bệnh tới mức mất khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi của mình, thì căn cứ vào kết luận giám định pháp y, giám định pháp y tâm thần, Tòa án có thể quyết định đưa họ vào một cơ sở điều trị chuyên khoa để bắt buộc chữa bệnh. Sau khi khỏi bệnh, nếu không có lý do khác để miễn chấp hành hình phạt, thì người đó phải tiếp tục chấp hành hình phạt.

Lưu ý: Thời gian bắt buộc chữa bệnh được trừ vào thời hạn chấp hành hình phạt tù.

Trong những trường hợp này, Tòa án sẽ căn cứ vào kết luận giám định pháp y, giám định pháp y tâm thần để ra quyết định đưa họ vào một cơ sở điều trị chuyên khoa để bắt buộc chữa bệnh. Sau khi người đó khỏi bệnh thì có thể phải chịu trách nhiệm hình sự.

Trên thực tế, ranh giới để xác định mắc bệnh tâm thần khi thực hiện hành vi phạm tội hay sau khi thực hiện hành vi phạm tội đôi khi rất mong manh, yêu cầu cơ quan điều tra phải thực hiện các nghiệp vụ điều tra một cách kỹ lưỡng, thận trọng.

Như vậy, không phải trong mọi trường hợp người bị bệnh tâm thần đều không phải chịu trách nhiệm hình sự.




4. Cơ sở pháp lý

  • Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017;
  • Bộ luật tố tụng hình sự năm 2017.

Trên đây là bài tư vấn của chúng tôi về vấn đề người bị tâm thần có chịu trách nhiệm hình sự theo quy định pháp luật hiện hành. Qua bài viết này, chúng tôi mong rằng sẽ giúp các bạn hiểu rõ hơn về vấn đề này.

Để được tư vấn đầy đủ và chính xác nhất, mời quý khách hàng liên hệ tới Tổng đài tư vấn Luật hình sự trực tuyến qua HOTLINE 19006588 của Luật Quang Huy để nhận tư vấn thêm về vấn đề mà quý khách hàng đang gặp phải.

Trân trọng./.

5/5 - (1 bình chọn)
Tác giả bài viết
phone-call

GỌI ĐỂ TƯ VẤN MIỄN PHÍ

Scroll to Top