Các tội xâm phạm sở hữu có tính chiếm đoạt

Các tội xâm phạm sở hữu có tính chiếm đoạt
Do nhu cầu tư vấn giải đáp thắc mắc liên quan đến luật hình sự tăng cao, Luật Quang Huy đã cung cấp đường dây nóng hỗ trợ hỏi đáp luật hình sự. 100% cuộc gọi tới đường dây này được bảo mật thông tin cuộc gọi. Nếu bạn đọc có nhu cầu được hỗ trợ về luật hình sự, hãy liên hệ ngay qua Tổng đài 1900.6784.

Theo quy định của pháp luật, các tội xâm phạm sở hữu có tính chiếm đoạt là gì? Biện pháp xử lý đối với các tội xâm phạm sở hữu có tính chiếm đoạt ra sao? Trong bài viết này, Luật Quang Huy sẽ giúp bạn giải đáp các vấn đề trên.





1. Tội xâm phạm quyền sở hữu là gì?

Tội xâm phạm quyền sở hữu là những hành vi nguy hiểm cho xã hội, do người có năng lực trách nhiệm hình sự thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý, gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại cho quyền sở hữu tài sản của cá nhân được nhà nước thừa nhận.


2. Cấu thành tội phạm các tội xâm phạm quyền sở hữu

2.1. Mặt khách quan

Các tội xâm phạm quyền sở hữu có sự khác nhau ở hình thức thể hiện hành vi, được thực hiện theo nhiều dạng khác nhau.

Tuy nhiên các hành vi của tội xâm phạm quyền sở hữu đều có cùng tính chất là gây thiệt hại cho quan hệ sở hữu, xâm phạm đến quyền chiếm hữu, sử dụng và định đoạt của chủ sở hữu tài sản, làm cho chủ tài sản mất khả năng thực hiện quyền sở hữu của mình.

Các hành vi chủ yếu của tội xâm phạm quyền sở hữu là các hành vi chiếm đoạt, chiếm giữ trái phép, sử dụng trái phép, hủy hoại, làm hư hỏng, làm mất mát, làm lãng phí tài sản của cá nhân, tổ chức sở hữu tài sản. Các hành vi này gây hậu quả là những thiệt hại gây ra cho quan hệ sở hữu và thể hiện dưới dạng thiệt hại vật chất.

2.2. Mặt chủ quan

Các tội xâm phạm quyền sở hữu được chủ thể phạm tội thực hiện hành vi dưới lỗi cố ý hoặc lỗi vô ý. Trong từng tội phạm cụ thể sẽ có động cơ phạm tội khác nhau. Tuy nhiên, cần lưu ý đối với tội sử dụng trái phép tài sản, động cơ phạm tội không được mô tả trong cấu thành tội phạm cơ bản như các tội xâm phạm quyền sở hữu khác.

2.3. Chủ thể của tội phạm

Chủ thể của hầu hết các tội xâm phạm quyền sở hữu chủ yếu là chủ thể thường, có năng lực trách nhiệm hình sự. Ngoài ra, chủ thể của tội xâm phạm quyền sở hữu có thể là chủ thể đặc biệt đối với một số tội đặc biệt theo quy định của pháp luật.

Chẳng hạn đối với tội thiếu trách nhiệm gây thiệt hại nghiêm trọng đến tài sản của Nhà nước, cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp thì chủ thể của tội xâm phạm quyền sở hữu phải là chủ thể có quyền, việc thực hiện hành vi phạm tội ảnh hưởng trực tiếp bởi trách nhiệm, quyền hạn của họ.

2.4. Khách thể của tội phạm

Quyền sở hữu bao gồm quyền chiếm hữu, quyền sử dụng và quyền định đoạt. Khách thể của các tội xâm phạm quyền sở hữu là quan hệ sở hữu. Quan hệ sở hữu là khách thể của tội phạm nghĩa là các tội xâm phạm sở hữu gây thiệt hại cho quan hệ sở hữu và sự gây thiệt hại cho quan hệ sở hữu đã phản ánh đầy đủ bản chất nguy hiểm cho tội phạm.

Các hành vi gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại cho quan hệ sở hữu là những hành vi xâm phạm đến quyền sở hữu của chủ sở hữu tài sản đó.


3. Đối tượng tác động của tội phạm

Đối tượng tác động của tội xâm phạm quyền sở hữu có tính chiếm đoạt bao gồm:

  • Vật: vật chất của thế giới khách quan thuộc sở hữu của cá nhân, tổ chức, nhà nước.
  • Tiền.
  • Giấy tờ có giá trị thanh toán bằng tiền: ATM, sổ tiết kiệm.
  • Những giấy tờ thể hiện quyền về tài sản (Ví dụ như: Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất; Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở, Giấy đăng ký xe mô tô, xe máy; Giấy đăng ký xe ôtô…).
Các tội xâm phạm sở hữu có tính chiếm đoạt
Các tội xâm phạm sở hữu có tính chiếm đoạt

4. Biểu hiện của dấu hiệu chiếm đoạt trong các tội xâm phạm sở hữu có tính chiếm đoạt

4.1. Mục đích chiếm đoạt

Mục đích chiếm đoạt là yếu tố bắt buộc trong cấu thành các tội xâm phạm quyền sở hữu có tính chiếm đoạt như cướp tài sản, tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản, tội cưỡng đoạt tài sản và tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản.

Tuy nhiên, tùy vào từng tội cụ thể mà có biểu hiện mục đích chiếm đoạt khác nhau, tùy từng tội mà mục đích phạm tội có thể xuất hiện trước khi người phạm tội thực hiện hành vi phạm tội, trong khi thực hiện hành vi phạm tội hoặc mục đích phạm tội có thể xuất hiện sau khi thực hiện hành vi phạm tội.

Mặc dù theo lý luận về các giai đoạn thực hiện tội phạm thì khi tội phạm ở giai đoạn hoàn thành tức là khi hành vi phạm tội đã thỏa mãn hết các dấu hiệu được mô tả trong cấu thành tội phạm.

Tuy nhiên đối với các tội có cấu thành hình thức như tội cướp tài sản, tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản, tội cưỡng đoạt tài sản thì người phạm tội có hành vi mà điều luật mô tả thì tội phạm đã hoàn thành. Chính vì vậy, mục đích chiếm đoạt trong các tội này chỉ có thể xuất hiện trước và trong khi thực hiện hành vi phạm tội.

Đối với các trường hợp mà mục đích chiếm đoạt xuất hiện sau khi thực hiện hành vi phạm tội thì tùy từng tội mà có sự định tội danh khác nhau.

Chẳng hạn nếu sau khi thực hiện hành vi người phạm tội mới có mục đích chiếm đoạt thì người phạm tội không phạm tội cướp tài sản mà có thể phạm tội giết người, cố ý gây thương tích, công nhiên chiếm đoạt tài sản, chiếm giữ trái phép tài sản khi hành vi của người phạm tội đáp ứng mặt khách quan của từng tội tương ứng đối với trường hợp người phạm tội có hành vi dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực ngay tức khắc hoặc có hành vi khác làm cho người bị tấn công lâm vào tình trạng không thể chống cự được.

Đặc biệt, mục đích chiếm đoạt phải gắn liền với các hành vi dùng thủ đoạn gian dối, bỏ trốn hoặc đã sử dụng tài sản đó vào mục đích bất hợp pháp dẫn đến không có khả năng trả lại tài sản sau khi có được tài sản thông qua hợp đồng hợp pháp đối với  tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản.

Người thực hiện hành vi phạm tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản sẽ trở thành phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản trong trường hợp mục đích chiếm đoạt có trước hoặc vào thời điểm nhận tài sản qua hợp đồng.

4.2. Hành vi chiếm đoạt

Hành vi làm cho chủ sở hữu tài sản mất hẳn khả năng thực hiện quyền chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản của mình và tạo cho người chiếm đoạt có thể thực hiện được việc chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản đó được coi là hành vi chiếm đoạt.

Xét về mặt thực tế, chiếm đoạt là quá trình vừa làm cho chủ tài sản mất tài sản vừa tạo cho người chiếm đoạt có tài sản đó. Xét về mặt pháp lý, thì quá trình này không làm cho chủ sở hữu mất quyền sở hữu của mình mà chỉ làm mất khả năng thực tế thực hiện các quyền cụ thể của quyền sở hữu.

Việc xác định hành vi chiếm đoạt có trái pháp luật hay không cần dựa theo quy định của pháp luật dân sự, theo đó “Quyền sở hữu bao gồm quyền chiếm hữu, quyền sử dụng và quyền định đoạt tài sản của chủ sở hữu theo quy định của luật”.

Như vậy, người phạm tội để chiếm đoạt tài sản tạo ra khả năng làm mất quyền sở hữu của chủ sở hữu và tạo ra quyền sở hữu cho mình thì cần phải chiếm hữu tài sản một cách trái pháp luật. Tuy nhiên, chiếm hữu trái pháp luật không được quy định cụ thể trong pháp luật dân sự mà chỉ quy định về hành vi chiếm hữu hợp pháp. Do đó, để xác định hành vi của người phạm các tội xâm phạm sở hữu có tính chất chiếm đoạt cần phải xác định việc chiếm hữu của người phạm tội không thuộc các trường hợp chiếm hữu hợp pháp theo quy định của pháp luật dân sự.

Việc xác định hành vi chiếm đoạt đối với các tội xâm phạm quyền sở hữu một cách chính xác có tính chất chiếm đoạt có ý nghĩa quan trọng trong việc xác định thời điểm tội phạm hoàn thành đối với các tội mà dấu hiệu chiếm đoạt thuộc hành vi khách quan của tội phạm.

Tùy vào từng tội xâm phạm quyền sở hữu cụ thể mà thời điểm hoàn thành của tội phạm là khác nhau. Ngoài ra, khi xem xét thời điểm hoàn thành của tội phạm cần có sự phân biệt giữa thời điểm tội phạm hoàn thành với thời điểm tội phạm kết thúc.


5. Một số tội xâm phạm quyền sở hữu có tính chiếm đoạt cụ thể

Thứ nhất, có 3 tội phạm trong 8 tội danh xâm phạm sở hữu có tính chiếm đoạt chỉ nêu tội danh, không quy định cụ thể cấu thành tội phạm, đặc biệt là không mô tả hành vi thuộc mặt khách quan của tội phạm nên đã dẫn đến nhiều trường hợp hiểu và thực hiện không thống nhất, có nhiều trường hợp có sự nhầm lẫn trong việc định tội danh. Cụ thể là các tội:

  • Tội cướp giật tài sản (Điều 171 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2021);
  • Tội công nhiên chiếm đoạt tài sản (Điều 172 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2021);
  • Tội trộm cắp tài sản (Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2021).

Thứ hai, hành vi thuộc mặt khách quan của một số tội phạm chưa được phân biệt rõ ràng, ví dụ như hành vi đe dọa dùng vũ lực trong tội cướp tài sản quy định tại (Điều 168 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2021) với hành vi đe dọa dùng vũ lực của tội cưỡng đoạt tài sản quy định tại (Điều 170 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2021).

Thứ ba, đối với tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản (Điều 175 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2021), việc quy định hành vi “Vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng các hình thức hợp đồng rồi dùng thủ đoạn gian dối hoặc bỏ trốn để chiếm đoạt tài sản” (Điểm a Khoản 1) là lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản dường như không chính xác, vì đây có thể là một cách thức lừa đảo cụ thể trong trường hợp có thủ đoạn gian dối.

Việc bỏ trốn theo quy định nêu trên có thể là hệ quả của các hành vi gian dối chiếm đoạt tài sản trước đó và cũng có thể là sự vắng mặt hợp pháp để đi nơi khác làm ăn, kiếm tiền trả nợ hoặc nhiều lý do cá nhân khác của người đã vay hoặc mượn tài sản nhưng chưa thể hiện rõ mục đích chiếm đoạt tài sản.

Thứ tư, trong một số điều luật của các tội xâm phạm sở hữu có tính chiếm đoạt có quy định về tình tiết định tội đã bị xử phạt hành chính hoặc đã bị kết án mà còn vi phạm, còn tồn tại một số vướng mắc.

Cụ thể: Về tình tiết đã bị xử phạt hành chính, một nguyên tắc của pháp luật được thừa nhận là một hành vi vi phạm chỉ bị xử lý một lần. Như vậy, nếu thừa nhận tình tiết đã bị xử phạt hành chính làm cơ sở định tội sẽ lấy yếu tố thuộc nhân thân người phạm tội để xử lý người vi phạm pháp luật và như vậy một hành vi vi phạm pháp luật đã bị xử lý 2 lần (vừa bị xử lý hành chính, vừa bị cộng dồn để xử lý hình sự).

Thứ năm, đối với một số tội danh có quy định về định lượng tài sản để truy cứu trách nhiệm hình sự như:

  • Tội công nhiên chiếm đoạt tài sản (Điều 172 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2021);
  • Tội trộm cắp tài sản (Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2021);
  • Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản (Điều 174 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2021);
  • Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản (Điều 175 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2021).

Việc quy ra tiền để xác định định lượng truy cứu trách nhiệm hình sự có thật sự hợp lý khi tiền tệ của nước ta thường không ổn định (đồng tiền nước ta bị trượt giá liên tục). Mặt khác, việc định lượng bằng tiền để truy cứu trách nhiệm hình sự thường không dựa vào chuẩn mực khoa học, khách quan vì khi “tiền mất giá” thì ta lại phải sửa đổi luật.




6. Cơ sở pháp lý

  • Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2021.

Trên đây là bài tư vấn của chúng tôi về vấn đề các tội xâm phạm sở hữu có tính chiếm đoạt theo quy định pháp luật hiện hành. Qua bài viết này, chúng tôi mong rằng sẽ giúp các bạn hiểu rõ hơn về vấn đề này.

Để được tư vấn đầy đủ và chính xác nhất, mời quý khách hàng liên hệ tới Tổng đài tư vấn Luật hình sự trực tuyến qua HOTLINE 19006588 của Luật Quang Huy để nhận tư vấn thêm về vấn đề mà quý khách hàng đang gặp phải.

Trân trọng./.

Đánh giá
Tác giả bài viết
phone-call

GỌI ĐỂ TƯ VẤN MIỄN PHÍ

Scroll to Top