Các giai đoạn phạm tội quy định thế nào?

Các giai đoạn phạm tội quy định thế nào?
Do nhu cầu tư vấn giải đáp thắc mắc liên quan đến luật hình sự tăng cao, Luật Quang Huy đã cung cấp đường dây nóng hỗ trợ hỏi đáp luật hình sự. 100% cuộc gọi tới đường dây này được bảo mật thông tin cuộc gọi. Nếu bạn đọc có nhu cầu được hỗ trợ về luật hình sự, hãy liên hệ ngay qua Tổng đài 1900.6784.

Tội phạm diễn ra ở các giai đoạn khác nhau thì mức độ nguy hiểm cho xã hội cũng khác nhau. Theo đó, các giai đoạn phạm tội được ghi nhận và xác định trách nhiệm hình sự cho từng giai đoạn cụ thể. Vậy các giai đoạn phạm tội là gì? Có các giai đoạn phạm tội nào? Trong bài viết này, Luật Quang Huy sẽ giải đáp cho bạn đọc những thắc mắc trên.





1. Các giai đoạn phạm tội là gì?

Giai đoạn thực hiện tội phạm là các bước trong quá trình thực hiện phạm tội do cố ý trực tiếp được quy định trong luật hình sự, phản ánh tính chất và mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội ở từng thời điểm cụ thể. Giai đoạn phạm tội bao gồm các bước: chuẩn bị phạm tội, phạm tội chưa đạt và phạm tội hoàn thành và tội phạm kết thúc.

Chế định giai đoạn thực hiện tội phạm quy định dấu hiệu của từng giai đoạn và xác định trách nhiệm hình sự đối với các trường hợp việc thực hiện tội phạm đang diễn ra ở giai đoạn đó.

Các giai đoạn thực hiện tội phạm là các bước trong quá trình cố ý thực hiện tội phạm. Được phân biệt với nhau bởi các dấu hiệu, biểu hiện nhằm đánh giá sự diễn biến mức độ thực hiện ý định phạm tội, làm cơ sở cho việc xác định phạm vi và mức độ trách nhiệm hình sự và hình phạt.


2. Tại sao phải phân chia thành các giai đoạn phạm tội?

Phân chia thành các giai đoạn phạm tội nhằm:

  • Đáp ứng nhu cầu thực tiễn của đấu tranh phòng chống tội phạm.
  • Đảm bảo nguyên tắc phòng là chính, nguyên tắc công bằng và nhân đạo (hạn chế hậu quả bằng việc xử lý tội phạm ở các mức khác nhau).
  • Đó là sự can thiệp của nhà làm luật với sự diễn biến liên tục của hành vi phạm tội, để phân hóa trách nhiệm hình sự.
  • Phân hóa để bảo vệ các quan hệ xã hội.

3. Ý nghĩa đặc điểm các giai đoạn phạm tội

Việc phân chia các giai đoạn phạm tội trong luật hình sự thể hiện ý chí chủ quan của các nhà làm luật đối với diễn biến khách quan của hành vi phạm tội xảy ra trong thực tế. Theo đó, ý nghĩa đặc điểm của giai đoạn phạm tội là:

  • Được xác định trên cơ sở khách quan của quá trình phòng chống tội phạm.
  • Phản ánh tính chất mức độ phạm tội ở các giai đoạn khác nhau.
  • Tồn tại ở tội cố ý trực tiếp.
Các giai đoạn phạm tội quy định thế nào?
Các giai đoạn phạm tội quy định thế nào?

4. Các giai đoạn phạm tội

Các giai đoạn phạm tội là những bước trong quá trình thực hiện tội phạm do cố ý và bao gồm chuẩn bị phạm tội, phạm tội chưa đạt và tội phạm hoàn thành. Các giai đoạn phạm tội này ngắn hay kéo dài tùy thuộc vào quá trình của hành vi phạm tội và người phạm tội thực hiện trên thực tế.

4.1. Chuẩn bị phạm tội

Căn cứ theo Bộ luật hình sự 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017, chuẩn bị phạm tội là tìm kiếm, sửa soạn công cụ, phương tiện hoặc tạo ra những điều kiện khác để thực hiện tội phạm hoặc thành lập, tham gia nhóm tội phạm, trừ trường hợp thành lập hoặc tham gia nhóm tội phạm quy định. Chuẩn bị phạm tội có các đặc điểm sau:

  • Người phạm tội chưa bắt tay vào thực hiện hành vi phạm tội mà chỉ tạo tiền đề cần thiết để thực hiện hành vi đó
  • Chuẩn bị phạm tội không được đặt ra đối với tội phạm có cấu thành hình thức

Trách nhiệm hình sự đối với giai đoạn chuẩn bị phạm tội như sau:

  • Người có hành vi chuẩn bị phạm tội phải chịu trách nhiệm hình sự vì hành vi của họ đã thỏa mãn các dấu hiệu cấu thành tội phạm của hành vi phạm tội chưa hoàn thành.
  • Trách nhiệm hình sự chỉ đặt ra đối với người có hành vi chuẩn bị thực hiện tội phạm rất nghiêm trọng và đặc biệt nghiêm trọng.
  • Chưa trực tiếp xâm hại đến các quan hệ xã hội được luật hình sự bảo vệ mà mới chỉ đặt khách thể đó trong tình trạng nguy hiểm.

Ví dụ về giai đoạn chuẩn bị phạm tội: Do có xích mích với anh B, anh A về nhà tìm kiếm hung khí (con dao bầu), chuẩn bị sẵn và giấu trong người để thực hiện hành vi giết anh B.

4.2. Phạm tội chưa đạt

Phạm tội chưa đạt là hành vi cố ý thực hiện tội phạm nhưng không thực hiện được đến cùng vì những nguyên nhân khách quan ngoài ý muốn.

Phạm tội chưa đạt bao gồm các dấu hiệu (đặc điểm) cơ bản sau:

  • Đây là một giai đoạn phạm tội chưa hoàn thành (hay sơ bộ) thứ hai trong các giai đoạn phạm tội do cố ý trực tiếp;
  • Chủ thể đã bắt đầu thực hiện hành vi phạm tội được quy định trong cấu thành tội phạm tương ứng của Phần các tội phạm Bộ luật hình sự (hay nói một cách khác, hành vi phạm tội chưa đạt đã xâm phạm đến các quan hệ xã hội được luật hình sự xác lập và bảo vệ);
  • Chủ thể chưa (hoặc không) thực hiện được hành vi phạm tội đến cùng (có nghĩa hành vi của người này chưa thỏa mãn đầy đủ các dấu hiệu thuộc mặt khách quan của cấu thành tội phạm) là do nguyên nhân khách quan khác nhau nào đó ngoài ý muốn chủ quan của người phạm tội;
  • Hậu quả của tội phạm mà người phạm tội mong muốn đạt được đã không xảy ra hoặc nếu có thể xảy ra thì chưa thỏa mãn với hậu quả được quy định trong cấu thành tội phạm tương ứng của Phần các tội phạm Bộ luật hình sự;
  • Mục đích phạm tội là mong muốn thực hiện hoàn thành hành vi phạm tội và mong muốn cho hậu quả của tội phạm xảy ra, nhưng hậu quả không xảy ra như dự định của người phạm tội.

Trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội chưa đạt như sau:

  • Họ sẽ không phải chịu trách nhiệm hình sự khi hành vi của họ chưa đáp ứng đầy đủ các yếu tố cấu thành tội phạm.
  • Người có hành vi phạm tội chưa đạt phải chịu trách nhiệm hình sự cao hơn với tội chuẩn bị phạm tội.

Ví dụ về phạm tội chưa đạt: A gây gổ với B, B về nhà lấy dao đến nhà A đâm, nhưng được người nhà A phát hiện, B bỏ chạy, A kịp thời phát hiện nên được đưa đi bệnh viện. Ở đây hành vi của B được xem như là phạm tội chưa đạt chưa hoàn thành. Vì mục đích ban đầu của B là đâm chết B, nhưng trong quá trình thực hiện hành vi, A được người dân phát hiện nên đã kịp thời đưa đến bệnh viện. Mục đích ban đầu của B vẫn chưa thực hiện được, tuy nhiên, b vẫn phải chịu trách nhiệm pháp lý đối với hành vi phạm tội mà mình đã gây ra cho A.

4.3. Tội phạm hoàn thành

Tội phạm hoàn thành là trường hợp một người đã thực hiện hành vi thỏa mãn đầy đủ các dấu hiệu được mô tả trong cấu thành tội phạm tương ứng của Phần các tội phạm Bộ luật hình sự.

Xuất phát từ tình chất nguy hiểm cho xã hội của từng loại tội phạm, luật hình sự xác định thời điểm hoàn thành của tội phạm thông qua việc mô tả những dấu hiệu trong cấu thành tội phạm.

  • Cấu thành tội phạm vật chất: thời điểm hoàn thành của loại tội này phải thỏa mãn đầy đủ các dấu hiệu khách quan của cấu thành tội phạm: hành vi nguy hiểm, hậu quả xảy ra, mối quan hệ giữa hành vi và hậu quả.
  • Cấu thành tội phạm hình thức: thời điểm hoàn thành của loại tội này chỉ cần đáp ứng dấu hiệu hành vi nguy hiểm cho xã hội.
  • Cấu thành tội phạm cắt xén: chỉ cần có hành động biểu hiện ý định phạm tội thì tội phạm đã hoàn thành.

Tội phạm hoàn thành được coi là trường hợp phạm tội thông thường mà hành vi phạm tội xảy ra trong thực tế hoàn toàn phù hợp hành vi được mô tả trong cấu thành tội phạm.

Như vậy, giai đoạn tội phạm hoàn thành, thì người phạm tội đã thực hiện hết các hành vi thỏa mãn đầy đủ các dấu hiệu được mô tả trong cấu thành tội phạm tương ứng của Phần các tội phạm Bộ luật hình sự.

Cho nên, nếu xem xét về mức độ nguy hiểm cho xã hội thì hành vi trong trường hợp tội phạm hoàn thành đương nhiên có mức độ nguy hiểm cho xã hội cao hơn và do đó, có tính nghiêm trọng hơn so với hành vi ở các giai đoạn khác.

Về trách nhiệm hình sự: Tùy theo từng loại tội phạm cụ thể mà có những hình phạt khác nhau phù hợp theo quy định của pháp luật.

Ví dụ: A bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội giết người và cướp tài sản theo quy định của bộ luật hình sự.

4.4. Tội phạm kết thúc

Tội phạm kết thúc khi hành vi phạm tội đã thực sự chấm dứt không còn xảy ra trên thực tế. Tội phạm kết thúc có thể xảy ra trong các trường hợp sau:

  • Hành vi phạm tội chấm dứt vì chủ thể đã được mục đích;
  • Hành vi phạm tội chấm dứt vì chủ thể đã bị ngăn cản nên không thực hiện tiếp được;
  • Hành vi phạm tội chấm dứt vì chủ thể đã tự ý dừng lại.

Có thể thấy, đối với trường hợp tội phạm kết thúc thì hành vi đã thực sự chấm dứt hoàn toàn có thể do bất kỳ lý do nào (trong khi phạm tội chưa đạt chỉ do nguyên nhân khách quan ngoài ý muốn của người phạm tội), như: có thể do ý muốn chủ quan của người phạm tội hoặc có thể không, do bị các nguyên nhân khách quan ngăn cản, mặc dù người phạm tội không quan tâm đến việc hành vi đó đã đủ cấu thành tội phạm hay chưa.

Như vậy, so với thời điểm tội phạm hoàn thành, thời điểm tội phạm kết thúc có thể xảy ra trước, xảy ra cùng hoặc xảy ra sau thời điểm tội phạm hoàn thành. Việc xác định thời điểm tội phạm kết thúc và phân biệt nó với thời điểm tội phạm hoàn thành có ý nghĩa đối với việc áp dụng một số chế định của luật hình sự như chế định đồng phạm, chế định phòng vệ chính đáng cũng như chế định thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự.




5. Cơ sở pháp lý

  • Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Trên đây là bài tư vấn của chúng tôi về vấn đề các giai đoạn phạm tội được quy định như thế nào theo quy định pháp luật hiện hành. Qua bài viết này, chúng tôi mong rằng sẽ giúp các bạn hiểu rõ hơn về vấn đề này.

Để được tư vấn đầy đủ và chính xác nhất, mời quý khách hàng liên hệ qua Tổng đài tư vấn luật hình sự trực tuyến của HOTLINE 19006588 của Luật Quang Huy để nhận tư vấn thêm về vấn đề mà quý khách hàng đang gặp phải.

Trân trọng./.

5/5 - (1 bình chọn)
Tác giả bài viết
phone-call

GỌI ĐỂ TƯ VẤN MIỄN PHÍ

Scroll to Top