Quy định khởi tố vụ án hình sự theo pháp luật hiện hành

Khởi tố vụ án hình sự là gì?
Do nhu cầu tư vấn giải đáp thắc mắc liên quan đến luật hình sự tăng cao, Luật Quang Huy đã cung cấp đường dây nóng hỗ trợ hỏi đáp luật hình sự. 100% cuộc gọi tới đường dây này được bảo mật thông tin cuộc gọi. Nếu bạn đọc có nhu cầu được hỗ trợ về luật hình sự, hãy liên hệ ngay qua Tổng đài 1900.6784.

Bạn đang thắc mắc không biết khởi tố vụ án hình sự là gì? Pháp luật quy định về việc khởi tố vụ án hình sự như thế nào? Mời quý bạn đọc theo dõi bài viết sau đây của Luật Quang Huy để được làm rõ.





1. Khởi tố vụ án hình sự là gì?

Theo quy định, khởi tố vụ án hình sự là giai đoạn đầu của quá trình giải quyết vụ án hình sự, các cơ quan có thẩm quyền có nhiệm vụ sử dụng các biện pháp của tố tụng hình sự để xác định có hay không dấu hiệu phạm tội, trên có sở đó sẽ ra một trong hai quyết định: khởi tố vụ án hình sự hoặc không khởi tố vụ án hình sự.


2. Nhiệm vụ khởi tố vụ án hình sự

Nhiệm vụ khởi tố vụ án hình như như sau:

  • Khi tiếp cận nguồn tin về tội phạm; cơ quan có thẩm quyền khởi tố phải xác định sự việc có xảy ra hay không; nếu có sự việc xảy ra, phải xem sự việc đó có hay không có dấu hiệu tội phạm.
  • Giai đoạn khởi tố vụ án có nhiệm vụ xác định có hay không có dấu hiệu phạm tội để khởi tố; hoặc không khởi tố vụ án; bảo đảm không tội phạm nào không bị phát hiện; không người vô tội nào bị truy cứu trách nhiệm hình sự oan.
  • Khi xác định có dấu hiệu tội phạm; cơ quan có thẩm quyền ra quyết định khởi tố vụ án. Nếu xác định không có dấu hiệu tội phạm; hoặc có các căn cứ khác theo quy định của pháp luật; thì ra quyết định không khởi tố vụ án.
  • Trong trường hợp đặc biệt; khi xác định “những hành vi tuy có dấu hiệu của tội phạm; nhưng tính chất nguy hiểm cho xã hội không đáng kể,…thì không khởi tố vụ án hình sự mà có thể xử lý bằng các biện pháp khác”.

3. Ý nghĩa của khởi tố vụ án hình sự

Ý nghĩa của giai đoạn khởi tố vụ án hình sự được thể hiện như sau:

3.1. Ý nghĩa chung

  • Khởi tố vụ án hình sự góp phần bảo đảm cho việc phát hiện ra nhanh chóng mọi hành vi phạm tội. Bởi vì chỉ có thông qua những hoạt động kiểm tra, xác minh kịp thời các nguồn tin về tội phạm mới có điều kiện làm rõ sự việc xảy ra có dấu hiệu phạm tội hay không.
  • Nếu hoạt động tố tụng trong giai đoạn khởi tố vụ án không được tiến hành khẩn trương, đầy đủ sẽ có thể không phát hiện ra dấu hiệu tội phạm, dẫn đến việc ra quyết định không khởi tố vụ án, bỏ lọt tội phạm.
  • Khởi tố vụ án xác lập cơ sở pháp lý để cơ quan có thẩm quyền tiến hành các hoạt động điều tra. Chưa khởi tố vụ án thì không được tiến hành các hoạt động điều tra, trừ một số hoạt động được tiến hành trong quá trình giải quyết tố giác, tin báo tội phạm, kiến nghị khởi tố theo quy định của pháp luật.

3.2. Ý nghĩa đặc thù

  • Khởi tố vụ án hình sự có nhiệm vụ riêng. Chủ thể và hoạt động tố tụng độc lập với các giai đoạn tố tụng khác nên được coi là giai đoạn tố tụng độc lập. Hoạt động điều tra chỉ được tiến hành sau khi có quyết định khởi tố vụ án hình sự.
  • Hoạt động này tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động tố tụng tiếp theo. Sau khi xác định dấu hiệu tội phạm và khởi tố vụ án, hoạt động tố tụng ở giai đoạn điều tra sẽ tập trung làm rõ các hành vi phạm tội và người thực hiện tội phạm.
  • Khởi tố vụ án hình sự góp phần đảm bảo quyền con người; quyền cá nhân, cơ quan, tổ chức.
  • Nếu không thực hiện các hoạt động kiểm tra, xác minh nguồn tin tội phạm mà tiến hành ngay các hoạt động điều tra (kể cả áp dụng các biện pháp cưỡng chế tố tụng), rất dễ dẫn đến trường hợp không xác định được dấu hiệu của tội phạm, không chứng minh được người bị áp dụng biện pháp cưỡng chế có hành vi nguy hiểm cho xã hội,…

4. Cơ sở khởi tố vụ án hình sự

Theo quy định tại Điều 143 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2021, cơ sở khởi tố vụ án hình sự bao gồm:

4.1. Thời điểm khởi tố vụ án

Khi xác định có dấu hiệu tội phạm do cá nhân, pháp nhân thực hiện thì cơ quan có thẩm quyền ra quyết định khởi tố vụ án hình sự theo quy định tại khoản 1 Điều 432 và Điều 143 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2021.

4.2. Căn cứ khởi tố vụ án

4.2.1. Tố giác của cá nhân

Tố giác về tội phạm là việc cá nhân phát hiện và tố cáo hành vi có dấu hiệu tội phạm với cơ quan có thẩm quyền. Tố giác của cá nhân được thực hiện trực tiếp hoặc gián tiếp thông qua đường điện thoại, thư tín… hoặc có thể được thể hiện bằng lời hoặc bằng văn bản. Mọi người đều có quyền tố giác về tội phạm với cơ quan có thẩm quyền.

Đây là cơ sở để cơ quan có thẩm quyền xác minh có hay không có sự việc phạm tội xảy ra. Việc khởi tố vụ án hình sự căn cứ vào tố giác của cá nhân chỉ được được thực hiện sau khi cơ quan có thẩm quyền giải quyết tố giác điều tra, xác minh và xác định đã có sự việc phạm tội xảy ra đúng theo nội dung của tố giác.

Tuy nhiên, nếu người nào cố ý tố giác sai sự thật thì tuỳ tính chất, mức độ vi phạm mà bị xử lý kỷ luật, xử phạt vi phạm hành chính hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định của luật.

4.2.2. Tin báo của cơ quan, tổ chức, cá nhân

Tin báo của cơ quan, tổ chức, cá nhân là thông tin về vụ việc có dấu hiệu tội phạm do cơ quan, tổ chức, cá nhân thông báo với cơ quan có thẩm quyền.

Khi nhận được thông tin về tội phạm do cơ quan, tổ chức, cá nhân thông báo, thì cơ quan có thẩm quyền phải tiến hành xác minh.

Nếu qua xác minh thấy vụ việc mà cơ quan, tổ chức, cá nhân cung cấp có dấu hiệu của một tội phạm cụ thể được quy định trong Bộ luật hình sự thì sẽ ra quyết định khởi tố vụ án hình sự.

Khởi tố vụ án hình sự là gì?
Khởi tố vụ án hình sự là gì?

4.2.3. Tin báo trên phương tiện thông tin đại chúng

Phương tiện thông tin đại chúng là phương tiện thông tin có đối tượng tác động là đông đảo người dân như báo chí in, đài truyền hình, đài phát thanh,…

Khi có được thông tin về tội phạm do các phương tiện thông tin đại chúng đưa, thì các cơ quan có thẩm quyền phải tiến hành kiểm tra, xác minh để kết luận có dấu hiệu tội phạm hay không, làm căn cứ khởi tố hay không khởi tố vụ án hình sự.

4.2.4. Kiến nghị khởi tố của cơ quan nhà nước

Kiến nghị khởi tố là việc cơ quan nhà nước có thẩm quyền kiến nghị bằng văn bản và gửi kèm theo chứng cứ, tài liệu liên quan cho Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát có thẩm quyết xem xét, xử lý vụ việc có dấu hiệu tội phạm.

Cùng với các nguồn tin khác, kiến nghị khởi tố của cơ quan nhà nước là nguồn tin để cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng xem xét, quyết định khởi tố hay không khởi tố vụ án hình sự.

4.2.5. Cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng trực tiếp phát hiện dấu hiệu tội phạm

Đây là trường hợp Cơ quan điều tra, Cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra hoặc Viện kiểm sát trực tiếp phát hiện dấu hiệu tội phạm thông qua quá trình thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của mình và dùng đó làm căn cứ khởi tố vụ án hình sự.

Hội đồng xét xử ra quyết định khởi tố hoặc yêu cầu Viện kiểm sát khởi tố vụ án hình sự nếu qua việc xét xử tại phiên tòa mà phát hiện sự việc nào đó có dấu hiệu của tội phạm nhưng chưa được khởi tố

4.2.6. Người phạm tội tự thú

Tự thú là việc người phạm tội tự nguyện khai báo với cơ quan, tổ chức về hành vi phạm tội của mình trước khi tội phạm hoặc người phạm tội bị phát hiện.

Người phạm tội tự thú là người đã thực hiện hành vi phạm tội và họ tự mình ra thú nhận hành vi phạm tội của họ trước các cơ quan, tổ chức có thẩm quyền trước khi tội phạm hoặc người phạm tội bị phát hiện.

Việc thú nhận hành vi phạm tội của người phạm tội trước khi tội phạm hoặc người phạm tội bị phát hiện là cơ sở để đánh giá có thể có sự việc phạm tội xảy ra và khả năng người tự thú là người thực hiện hành vi phạm tội.

Do vậy, từ lời khai của người phạm tội tự thú cũng là cơ sở quan trọng để cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng dùng làm căn cứ khởi tố vụ án hình sự.

4.2.7. Khởi tố vụ án hình sự theo yêu cầu của bị hại

Căn cứ theo Điều 155 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2021, cơ quan có thẩm quyền khởi tố chỉ được khởi tố theo yêu cầu của bị hại, hoặc người đại diện của bị hại của bị hại là người dưới 18 tuổi, người có nhược điểm về tâm thần hoặc thể chất hoặc đã chết đối với các tội phạm ít nghiêm trọng thuộc khoản 1 của các tội sau đây được quy định trong Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017:

  • Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (Điều 134);
  • Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh (Điều 135);
  • Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác do vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng hoặc do vượt quá mức cần thiết khi bắt giữ người phạm tội (Điều 136);
  • Tội vô ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (Điều 138);
  • Tội vô ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác do vi phạm quy tắc nghề nghiệp hoặc quy tắc hành chính (Điều 139);
  • Tội hiếp dâm (Điều 141);
  • Tội cưỡng dâm (Điều 143);
  • Tội làm nhục người khác (Điều 156);
  • Tội vu khống (Điều 226).

Tuy nhiên, khi người đã yêu cầu khởi tố rút yêu cầu thì vụ án phải được đình chỉnh, trừ trường hợp có căn cứ xác định người đã yêu cầu rút yêu cầu yêu cầu khởi tố trái với ý muốn của họ do bị ép buộc hoặc cưỡng bức, Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án vẫn tiếp tục tiến hành tố tụng đối với vụ án. Bị hại hoặc người đại diện của bị hại đã rút yêu cầu khởi tố thì không có quyền yêu cầu lại, trừ trường hợp rút yêu cầu do bị ép buộc, cưỡng bức.


5. Thẩm quyền khởi tố vụ án

Thẩm quyền khởi tố vụ án hình sự được quy định tại Điều 153 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2021 như sau:

  • Cơ quan điều tra quyết định khởi tố vụ án hình sự đối với tất cả vụ việc có dấu hiệu tội phạm, trừ những vụ việc do cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra, Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử đang thụ lý, giải quyết quy định tại các khoản 2, 3 và 4 Điều 153 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2021.
  • Cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra ra quyết định khởi tố vụ án hình sự trong trường hợp quy định tại Điều 164 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2021.
  • Viện kiểm sát ra quyết định khởi tố vụ án hình sự trong trường hợp sau:
  • Viện kiểm sát hủy bỏ quyết định không khởi tố vụ án hình sự của Cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra;
  • Viện kiểm sát trực tiếp giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố;
  • Viện kiểm sát trực tiếp phát hiện dấu hiệu tội phạm hoặc theo yêu cầu khởi tố của Hội đồng xét xử.
  • Hội đồng xét xử ra quyết định khởi tố hoặc yêu cầu Viện kiểm sát khởi tố vụ án hình sự nếu qua việc xét xử tại phiên tòa mà phát hiện có việc bỏ lọt tội phạm.

6. Nội dung của quyết định khởi tố vụ án hình sự

Nội dung của quyết định khởi tố vụ án hình sự được quy định tại Điều 154 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2021 như sau:

Quyết định khởi tố vụ án hình sự phải ghi rõ căn cứ khởi tố, điều, khoản của Bộ luật hình sự được áp dụng và các nội dung quy định tại khoản 2 Điều 132 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2021 bao gồm:

  • Số, ngày, tháng, năm, địa điểm ban hành văn bản tố tụng;
  • Căn cứ ban hành văn bản tố tụng;
  • Nội dung của văn bản tố tụng;
  • Họ tên, chức vụ, chữ ký của người ban hành văn bản tố tụng và đóng dấu.

Lưu ý:

  • Trong thời hạn 24 giờ kể từ khi ra quyết định khởi tố vụ án hình sự, Viện kiểm sát phải gửi quyết định đó đến Cơ quan điều tra có thẩm quyền để tiến hành điều tra.
  • Trong thời hạn 24 giờ kể từ khi ra quyết định khởi tố vụ án hình sự, Cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra phải gửi quyết định đó kèm theo tài liệu liên quan đến Viện kiểm sát có thẩm quyền để kiểm sát việc khởi tố.
  • Trong thời hạn 24 giờ kể từ khi ra quyết định khởi tố vụ án hình sự, Tòa án phải gửi quyết định đó kèm theo tài liệu liên quan đến Viện kiểm sát cùng cấp.

7. Khởi tố có bị đi tù không?

Theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2021, quy trình giải quyết vụ án hình sự trải qua các giai đoạn cơ bản sau:

  • Giai đoạn khởi tố vụ án hình sự;
  • Giai đoạn điều tra vụ án hình sự;
  • Giai đoạn truy tố vụ án hình sự;
  • Giai đoạn xét xử vụ án hình sự;
  • Giai đoạn thi hành bản án và quyết định của Tòa án;
  • Giai đoạn xét xử lại các bản án và quyết định có hiệu lực pháp luật của tòa án theo trình tự giám đốc thẩm, tái thẩm.

Như vậy, quá trình tố tụng hình sự không chỉ bao gồm mỗi giai đoạn khởi tố vụ án hình sự mà còn bao gồm nhiều giai đoạn khác. Khởi tố vụ án mới chỉ là bước đầu của quá trình tố tụng hình sự.

Do đó, để kết luận việc khởi tố có bị đi tù không còn phụ thuộc vào các giai đoạn sau của quá trình tố tụng chứ không chỉ phụ thuộc vào việc khởi tố vụ án.




8. Cơ sở pháp lý

  • Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017;
  • Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2021.

Trên đây là bài tư vấn của chúng tôi về vấn đề khởi tố vụ án hình sự. Qua bài viết này, chúng tôi mong rằng sẽ giúp các bạn hiểu rõ hơn về vấn đề này.

Để được tư vấn đầy đủ và chính xác nhất, mời quý khách hàng liên hệ tới Tổng đài tư vấn Luật hình sự trực tuyến qua HOTLINE 19006588 của Luật Quang Huy để nhận tư vấn thêm về vấn đề mà quý khách hàng đang gặp phải.

Trân trọng./.

5/5 - (1 bình chọn)
Tác giả bài viết
phone-call

GỌI ĐỂ TƯ VẤN MIỄN PHÍ

Scroll to Top