Bạn là lao động nữ đang trong thời gian nghỉ thai sản 6 tháng và băn khoăn liệu thời gian này có được tính để hưởng phép năm hàng năm không? Đây là thắc mắc rất phổ biến của nhiều người lao động khi quay trở lại làm việc. Trong bài viết này, chúng tôi sẽ giải đáp chi tiết dựa trên các văn bản pháp luật mới nhất, bao gồm Nghị định 145/2020/NĐ-CP, Bộ luật Lao động 2019 và Luật Bảo hiểm xã hội 2024.

📋 Mục lục bài viết
- Nghỉ thai sản 6 tháng có được tính phép năm không?
- Tình huống thực tế
- Chế độ thai sản đối với người lao động được quy định như thế nào?
- Chưa hết thời gian nghỉ thai sản mà muốn quay trở lại làm việc được không?
- Tình huống thực tế
- Lời khuyên từ luật sư
- Câu hỏi thường gặp
- Câu hỏi: Nghỉ thai sản 6 tháng có bị mất phép năm không?
- Câu hỏi: Tôi sinh con thứ hai, nghỉ 7 tháng thai sản, có được tính phép năm không?
- Câu hỏi: Tôi muốn đi làm sớm sau 4 tháng nghỉ thai sản, cần những giấy tờ gì?
Nghỉ thai sản 6 tháng có được tính phép năm không?
Theo Điều 65 Nghị định 145/2020/NĐ-CP của Chính phủ, danh sách các khoảng thời gian được coi là thời gian làm việc để tính số ngày nghỉ hằng năm của người lao động bao gồm nhiều trường hợp. Đáng chú ý, một trong những khoản thời gian đó là:
- Thời gian nghỉ hưởng chế độ thai sản theo quy định của pháp luật về bảo hiểm xã hội.
Như vậy, lao động nữ nghỉ thai sản 6 tháng vẫn được tính vào thời gian làm việc để hưởng phép năm. Theo Điều 113 và Điều 114 Bộ luật Lao động 2019 (số 45/2019/QH14), cứ làm đủ 12 tháng trong một năm, người lao động có 12 ngày phép năm. Cứ đủ 5 năm làm việc, người lao động được cộng thêm 1 ngày phép năm.
Số liệu cụ thể: Nếu bạn nghỉ thai sản đủ 6 tháng (từ tháng 1 đến tháng 6) và làm việc 6 tháng còn lại trong năm, bạn vẫn được tính đủ 12 ngày phép năm cho năm đó (nếu làm việc đủ 12 tháng tính theo năm dương lịch hoặc năm tài chính).
Tình huống thực tế
Chị Mai là nhân viên kế toán tại một công ty sản xuất. Chị nghỉ thai sản từ ngày 01/02/2026 đến hết ngày 31/07/2026 (6 tháng). Sau khi quay lại làm việc vào tháng 8, chị thắc mắc liệu 6 tháng nghỉ thai sản có bị trừ vào phép năm không? Câu trả lời là không. Theo quy định trên, thời gian nghỉ thai sản của chị vẫn được tính như thời gian làm việc, do đó chị vẫn được hưởng đủ 12 ngày phép năm cho năm 2026 (nếu chị làm việc đủ 12 tháng tính từ tháng 1 đến tháng 12).
Chế độ thai sản đối với người lao động được quy định như thế nào?
Theo Điều 50 Luật Bảo hiểm xã hội 2024 (số 41/2024/QH15), người lao động tham gia BHXH bắt buộc sẽ được hưởng chế độ thai sản nếu thuộc một trong các trường hợp sau:
- Lao động nữ đi khám thai: Theo Điều 51, được nghỉ tối đa 05 lần, mỗi lần không quá 02 ngày làm việc.
- Lao động nữ sảy thai, phá thai, thai chết trong tử cung, thai chết trong khi chuyển dạ, thai ngoài tử cung: Theo Điều 52, nghỉ từ 10 đến 50 ngày tùy tuổi thai.
- Lao động nữ khi sinh con: Theo khoản 1 Điều 139 Bộ luật Lao động 2019 (được sửa đổi bởi Luật Dân số 2025), nghỉ thai sản 06 tháng; sinh con thứ hai nghỉ 07 tháng; sinh đôi trở lên, mỗi con thêm 01 tháng.
- Lao động nữ mang thai hộ và người mẹ nhờ mang thai hộ: Theo Điều 54 và 55, nghỉ đến khi giao con hoặc nhận con, tối đa 06 tháng.
- Người lao động nhận nuôi con nuôi dưới 06 tháng tuổi: Theo Điều 56, nghỉ đến khi con nuôi đủ 06 tháng tuổi.
- Lao động nữ thực hiện biện pháp tránh thai: Theo Điều 57, nghỉ 07 ngày; triệt sản nghỉ không quá 15 ngày.
- Lao động nam có vợ sinh con: Theo khoản 2 Điều 53, nghỉ từ 05 đến 14 ngày làm việc.
Bên cạnh đó, theo khoản 1 Điều 139 Bộ luật Lao động 2019 (được sửa đổi bởi Luật Dân số 2025), lao động nữ được nghỉ thai sản trước và sau khi sinh con là 06 tháng. Trường hợp sinh con thứ hai, thời gian nghỉ là 07 tháng; thời gian nghỉ trước khi sinh không quá 02 tháng. Nếu sinh đôi trở lên, tính từ con thứ hai, cứ mỗi con, người mẹ được nghỉ thêm 01 tháng.
Chưa hết thời gian nghỉ thai sản mà muốn quay trở lại làm việc được không?
Theo khoản 4 Điều 139 Bộ luật Lao động 2019 (được sửa đổi bổ sung bởi khoản 1 Điều 29 Luật Dân số 2025, số 71/2025/QH15), lao động nữ có thể trở lại làm việc trước khi hết thời gian nghỉ thai sản nếu đáp ứng đủ các điều kiện sau:
- Đã nghỉ ít nhất 04 tháng kể từ ngày bắt đầu nghỉ thai sản.
- Báo trước cho người sử dụng lao động.
- Được người sử dụng lao động đồng ý.
- Có xác nhận của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh có thẩm quyền về việc đi làm sớm không có hại cho sức khỏe của người lao động.
Đáng chú ý: Trong trường hợp này, ngoài tiền lương của những ngày làm việc do người sử dụng lao động trả, lao động nữ vẫn tiếp tục được hưởng trợ cấp thai sản theo quy định của pháp luật về bảo hiểm xã hội.
Tình huống thực tế
Chị Lan nghỉ thai sản từ tháng 1/2026. Đến tháng 5/2026 (đã nghỉ được 4 tháng), chị muốn quay lại làm việc vì lý do tài chính. Chị cần thực hiện các bước: (1) Thông báo cho công ty; (2) Xin giấy xác nhận của bệnh viện cho thấy việc đi làm sớm không ảnh hưởng đến sức khỏe; (3) Chờ công ty chấp thuận. Nếu được đồng ý, chị vừa nhận lương từ công ty, vừa nhận trợ cấp thai sản từ BHXH cho đến hết 6 tháng.
Lời khuyên từ luật sư
Để đảm bảo quyền lợi tối đa khi nghỉ thai sản và quay lại làm việc, chúng tôi khuyên bạn:
- Kiểm tra hợp đồng lao động và thỏa ước lao động tập thể: Một số doanh nghiệp có thể có quy định riêng về phép năm hoặc chế độ thai sản, nhưng không được trái với quy định pháp luật.
- Lưu giữ hồ sơ đầy đủ: Giấy chứng nhận nghỉ thai sản, quyết định nghỉ việc, xác nhận của cơ sở y tế (nếu đi làm sớm).
- Thương lượng với người sử dụng lao động: Nếu muốn đi làm sớm, hãy thương lượng rõ ràng về lịch làm việc, chế độ lương và trợ cấp.
- Theo dõi thời gian: Nếu bạn nghỉ thai sản đủ 6 tháng, hãy đảm bảo bạn làm việc đủ 12 tháng trong năm để được hưởng đủ 12 ngày phép năm.
- Tham khảo ý kiến luật sư: Nếu có tranh chấp hoặc thắc mắc, hãy liên hệ với luật sư chuyên về lao động để được tư vấn cụ thể.
Câu hỏi thường gặp
Câu hỏi: Nghỉ thai sản 6 tháng có bị mất phép năm không?
Không. Theo Điều 65 Nghị định 145/2020/NĐ-CP, thời gian nghỉ hưởng chế độ thai sản được tính là thời gian làm việc để hưởng phép năm. Do đó, bạn vẫn được hưởng đủ 12 ngày phép năm nếu làm việc đủ 12 tháng trong năm.
Câu hỏi: Tôi sinh con thứ hai, nghỉ 7 tháng thai sản, có được tính phép năm không?
Có. Theo quy định tại Điều 65 Nghị định 145/2020/NĐ-CP, thời gian nghỉ thai sản dù là 6 tháng hay 7 tháng đều được tính là thời gian làm việc để hưởng phép năm. Bạn vẫn được hưởng phép năm đầy đủ nếu làm việc đủ 12 tháng trong năm.
Câu hỏi: Tôi muốn đi làm sớm sau 4 tháng nghỉ thai sản, cần những giấy tờ gì?
Theo khoản 4 Điều 139 Bộ luật Lao động 2019, bạn cần: (1) Báo trước cho người sử dụng lao động; (2) Được người sử dụng lao động đồng ý; (3) Có xác nhận của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh có thẩm quyền về việc đi làm sớm không có hại cho sức khỏe. Sau đó, bạn vẫn được hưởng trợ cấp thai sản từ BHXH và lương từ công ty.
Bạn đang cần Luật sư tư vấn pháp luật trực tiếp?
Kết nối ngay với tổng đài Luật Quang Huy để nhận ý kiến tư vấn pháp lý nhanh chóng, bảo mật và hoàn toàn chính xác từ đội ngũ Luật sư chuyên môn.













