Cơ quan nào có thẩm quyền khởi tố vụ án hình sự?

Cơ quan nào có thẩm quyền khởi tố vụ án hình sự?
Do nhu cầu tư vấn giải đáp thắc mắc liên quan đến luật hình sự tăng cao, Luật Quang Huy đã cung cấp đường dây nóng hỗ trợ hỏi đáp luật hình sự. 100% cuộc gọi tới đường dây này được bảo mật thông tin cuộc gọi. Nếu bạn đọc có nhu cầu được hỗ trợ về luật hình sự, hãy liên hệ ngay qua Tổng đài 1900.6784.

Khởi tố là một giai đoạn độc lập, mở đầu cho quá trình tiến hành giải quyết một vụ án hình sự theo quy định pháp luật. Vậy, cơ quan nào có thẩm quyền khởi tố vụ án hình sự? Mời bạn đọc bài viết bên dưới của Luật Quang Huy để có câu trả lời nhé.





1. Khởi tố vụ án hình sự là gì?

Khởi tố vụ án hình sự là giai đoạn đầu tiên của quá trình tố tụng giải quyết vụ án hình sự, được xem như đầu vào quy trình tố tụng hình sự nhằm xác định sự thật khách quan của vụ án, từ đó các cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng ra các quyết định tố tụng phù hợp với diễn biến của vụ án.

Khởi tố vụ án hình sự có thể hiểu là giai đoạn đầu tiên của quá trình tố tụng hình sự trong đó, các cơ quan có thẩm quyền có trách nhiệm kiểm tra, xác định có hay không có dấu hiệu tội phạm để ra Quyết định khởi tố vụ án hình sự hoặc Quyết định không khởi tố vụ án hình sự nhằm làm cơ sở cho các hoạt động tố tụng tiếp theo của quá trình giải quyết vụ án hình sự.


2. Cơ quan có thẩm quyền khởi tố vụ án hình sự hoặc quyết định không khởi tố vụ án hình sự

Trên cơ sở nguyên tắc được quy định tại Điều 18 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2021, Điều 153 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2021 quy định thẩm quyền quyết định khởi tố vụ án hình sự và quyết định không khởi tố vụ án hình sự là thẩm quyền của các cơ quan tiến hành tố tụng.

2.1. Thẩm quyền khởi tố vụ án hình sự của cơ quan điều tra

Tại Khoản 1 Điều 153 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2021 quy định Cơ quan điều tra quyết định khởi tố vụ án hình sự đối với tất cả vụ việc có dấu hiệu tội phạm, trừ những vụ việc do cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra, Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử đang thụ lý, giải quyết được quy định tại Khoản 2, 3 và 4 Điều 153 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2021. Thẩm quyền khởi tố vụ án hình sự cụ thể như sau:

  • Cơ quan điều tra thuộc lực lượng cảnh Cảnh sát nhân dân và Cơ quan điều tra của lực lượng An ninh nhân dân có thẩm quyền ra quyết định khởi tố vụ án hình sự đối với tất cả các tội phạm thuộc thẩm quyền điều tra của mình và thuộc thẩm quyền xét xử của Tòa án nhân dân, trừ những tội phạm thuộc thẩm quyền điều tra trong Quân đội nhân dân và những trường hợp do Viện kiểm sát nhân dân cũng như Cơ quan điều tra của Viện kiểm sát nhân dân tối cao khởi tố vụ án hình sự.
  • Cơ quan điều tra trong Quân đội nhân dân có thẩm quyền khởi tố vụ án hình sự đối với tất cả các tội phạm thuộc thẩm quyền xét xử của Tòa án quân sự trừ những tội phạm do Viện kiểm sát quân sự hoặc Cơ quan điều tra của Viện kiểm sát Quân sự Trung ương khởi tố và những tội phạm mà người thực hiện là sĩ quan, chiến sĩ an ninh nhân dân.
  • Cơ quan điều tra Viện kiểm sát nhân dân tối cao có thẩm quyền khởi tố vụ án hình sự đối với các tội phạm xâm phạm hoạt động tư pháp do người có chức vụ quyền hạn trong các cơ quan tư pháp thực hiện và các tội phạm phát sinh trong hoạt động tư pháp, trừ những trường hợp mà Viện kiểm sát Quân sự Trung ương đã khởi tố.

Lưu ý: Thẩm quyền ra quyết định khởi tố vụ án hình sự thuộc về Thủ trưởng, Phó thủ trưởng Cơ quan điều tra.

Cơ quan nào có thẩm quyền khởi tố vụ án hình sự?
Cơ quan nào có thẩm quyền khởi tố vụ án hình sự?

2.2. Thẩm quyền khởi tố vụ án hình sự của Viện kiểm sát

Viện kiểm sát ra quyết định khởi tố vụ án hình sự trong các trường hợp sau đây:

  • Viện kiểm sát hủy bỏ quyết định không khởi tố vụ án hình sự của Cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra;
  • Viện kiểm sát trực tiếp giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố;
  • Viện kiểm sát trực tiếp phát hiện dấu hiệu tội phạm hoặc theo yêu cầu khởi tố của Hội đồng xét xử. Viện kiểm sát có thẩm quyền ra quyết định khởi tố vụ án hình sự đối với tất cả các tội phạm xảy ra trong địa phận của mình quản lý khi tự mình phát hiện có dấu vết tội phạm.

Như vậy thẩm quyền ra quyết định khởi tố vụ án hình sự thuộc về Viện trưởng, Phó viện trưởng Viện kiểm sát các cấp.

2.3. Thẩm quyền khởi tố vụ án hình sự của Tòa án

Thẩm quyền của Hội đồng xét xử ra quyết định khởi tố vụ án hoặc yêu cầu Viện kiểm sát khởi tố vụ án nếu qua việc xét xử tại phiên tòa mà phát hiện có việc bỏ lọt tội phạm (Khoản 4 Điều 153 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2021).

Đây là trường hợp ngoài hành vi phạm tội đã bị khởi tố, điều tra, truy tố và quyết định đưa ra xét xử, bị cáo còn thực hiện hành vi khác mà Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 quy định là tội phạm hoặc ngoài bị cáo còn có đồng phạm khác hoặc người phạm tội khác liên quan đến vụ án chưa bị khởi tố, điều tra, truy tố.

Hội đồng xét xử không khởi tố vụ án hình sự nếu đã có quyết định tách vụ án hoặc chưa có quyết định tách vụ án của Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát nhưng không có căn cứ để tách vụ án theo quy định tại Khoản 2 Điều 170, Khoản 2 Điều 242 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2021.

Vì nếu chưa có quyết định tách vụ án và không thể tách được thành các vụ án riêng biệt thì hội đồng xét xử trả hồ sơ điều tra bổ sung (xem Điều 5 Thông tư liên tịch số 02/2017/TTLT-VKSNDTC-TANDTC-BCA-BQP quy định về việc phối hợp giữa các cơ quan tiến hành tố tụng trong thực hiện một số quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2021 về trả hồ sơ để điều tra bổ sung.

Nếu có thể tách được thành các vụ án riêng biệt thì Hội đồng xét xử có thể khởi tố vụ án hoặc yêu cầu Viện kiểm sát khởi tố vụ án.

2.4. Thẩm quyền khởi tố vụ án hình sự của bộ đội biên phòng, hải quan, kiểm lâm, lực lượng cảnh sát biển, kiểm ngư

Các cơ quan của bộ đội biên phòng khi thực hiện nhiệm vụ trong lĩnh vực quản lý của mình mà phát hiện tội phạm quy định tại Chương XIII và các Điều 150, 151, 152, 153, 188, 189, 192, 193, 195, 207, 227, 235, 236, 242, 247, 248, 249, 250, 251, 252, 253, 254, 255, 256, 303, 304, 305, 306, 309, 330, 337, 338, 346, 347, 348, 349 và 350 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 xảy ra trong khu vực biên giới trên đất liền, bờ biển, hải đảo và các vùng biển do bộ đội biên phòng quản lý thì có quyền khởi tố vụ án hình sự.

Thẩm quyền khởi tố vụ án thuộc về Cục trưởng Cục trinh sát biên phòng; Cục trưởng Cục phòng, chống ma tuý và tội phạm; đoàn trưởng đoàn đặc nhiệm phòng, chống ma tuý và tội phạm; chỉ huy trưởng bộ đội biên phòng tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương; chỉ huy trưởng biên phòng cửa khẩu cảng, đồn trưởng đồn biên phòng tuỳ thuộc vào vụ án khởi tố về tội nào trong các tội trên (Điều 32 Luật tổ chức cơ quan điều tra hình sự năm 2015).

Các cơ quan của hải quan khi thực hiện nhiệm vụ trong lĩnh vực quản lý của mình mà phát hiện tội phạm quy định tại các Điều 188, 189 và 190 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 thì Cục trưởng Cục điều tra chống buôn lậu, Cục trưởng Cục kiểm tra sau thông quan, Cục trưởng Cục hải quan tỉnh, liên tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, chi cục trưởng chi cục hải quan cửa khẩu có quyền ra quyết định khởi tố vụ án (Điều 33 Luật tổ chức cơ quan điều tra hình sự năm 2015).

Các cơ quan của kiểm lâm khởi tố vụ án hình sự khi thực hiện nhiệm vụ trong lĩnh vực quản lý của mình mà phát hiện tội phạm quy định tại các Điều 232, 243, 244, 245, 313, và 345 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 thì thẩm quyền khởi tố thuộc về Cục trưởng Cục kiểm lâm, chi cục trưởng chi cục kiểm lâm vùng, chi cục trưởng chi cục kiểm lâm, hạt trưởng hạt kiểm lâm (Điều 34 Luật tổ chức cơ quan điều tra hình sự năm 2015).

Các đơn vị thuộc lực lượng cảnh sát biển khi thực hiện nhiệm vụ trong lĩnh vực quản lý của mình mà phát hiện tội phạm quy định tại Chương XIII và các Điều 188, 189, 227, 235, 236, 237, 242, 249, 250, 251, 252, 253, 254, 272, 273, 282, 284, 303, 304, 305, 309, 311, 346, 347 và 348 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 xảy ra trên các vùng biển và thềm lục địa của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam do lực lượng cảnh sát biển quản lý thì có quyền khởi tố vụ án.

Thẩm quyền thuộc Tư lệnh cảnh sát biển, Tư lệnh vùng cảnh sát biển, Cục trưởng Cục nghiệp vụ và pháp luật, hải đoàn trưởng, hải đội trưởng và đội trưởng đội nghiệp vụ cảnh sát biển.

Đoàn trưởng đoàn đặc nhiệm phòng, chống tội phạm ma tuý có quyền khởi tố vụ án đối với các tội phạm quy định tại các Điều 249, 250, 251, 252, 253 và 254 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 (Điều 35 Luật tổ chức cơ quan điều tra hình sự năm 2015).

Các cơ quan của kiểm ngư khi thực hiện nhiệm vụ trong lĩnh vực quản lý của mình mà phát hiện tội phạm quy định tại các Điều 111, 242, 244, 245, 246, 305 và 311 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 xảy ra trên các vùng biển và thềm lục địa của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam do kiểm ngư quản lý thì Cục trưởng Cục kiểm ngư, chi cục trưởng chi cục kiểm ngư vùng có quyền khởi tố vụ án hình sự (Điều 36 Luật tổ chức cơ quan điều tra hình sự năm 2015).

Các cơ quan khác của lực lượng cảnh sát trong công an nhân dân được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra trong khi thi hành nhiệm vụ mà phát hiện sự việc có dấu hiệu tội phạm thuộc thẩm quyền điều tra của cơ quan cảnh sát điều tra thì Cục trưởng, giám đốc, trưởng phòng, giám thị của các cơ quan cảnh sát này quyết định khởi tố vụ án hình sự (Điều 38 Luật tổ chức cơ quan điều tra hình sự năm 2015).

Các cơ quan khác thuộc lực lượng an ninh trong công an nhân dân được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra khởi tố vụ án hình sự khi thực hiện nhiệm vụ của mình mà phát hiện sự việc có dấu hiệu của tội phạm thuộc thẩm quyền điều tra của cơ quan an ninh điều tra trong công an nhân dân thì thẩm quyền khởi tố thuộc về Cục trưởng, trưởng phòng của các cơ quan an ninh quy định tại Khoản 6 Điều 9 Luật tổ chức cơ quan điều tra hình sự năm 2015.

Cơ quan khác trong quân đội nhân dân được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra trong khi làm nhiệm vụ của mình mà phát hiện sự việc có dấu hiệu của tội phạm thuộc thẩm quyền điều tra của cơ quan điều tra hình sự đến mức phải truy cứu trách nhiệm hình sự thì khởi tố vụ án hình sự. Thẩm quyền khởi tố vụ án thuộc về giám thị trại giam trong quân đội.


3. Giải quyết các tranh chấp về thẩm quyền khởi tố vụ án hình sự

Điều 150 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2021 quy định về việc giải quyết tranh chấp về thẩm quyền giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố, cụ thể được xác định như sau:

  • Tranh chấp về thẩm quyền giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố do Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp giải quyết. Tranh chấp thẩm quyền giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố của cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra do Viện kiểm sát có thẩm quyền giải quyết.
  • Tranh chấp về thẩm quyền giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố giữa các Cơ quan điều tra cấp tỉnh, giữa các Cơ quan điều tra quân sự cấp quân khu do Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Viện kiểm sát quân sự trung ương giải quyết. Tranh chấp về thẩm quyền giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố giữa các Cơ quan điều tra cấp huyện thuộc các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương khác nhau, giữa các Cơ quan điều tra quân sự khu vực thuộc các quân khu khác nhau do Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh, Viện kiểm sát quân sự cấp quân khu nơi đầu tiên tiếp nhận tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố giải quyết.
  • Tranh chấp về thẩm quyền giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố giữa các Cơ quan điều tra của Công an nhân dân, Cơ quan điều tra trong Quân đội nhân dân và Cơ quan điều tra Viện kiểm sát nhân dân tối cao do Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao giải quyết.

4. Các trường hợp phải từ chối hoặc thay người có thẩm quyền tiến hành tố tụng

Người có thẩm quyền tiến hành tố tụng phải từ chối tiến hành tố tụng hoặc bị thay đổi khi thuộc một trong các trường hợp:

  • Người có thẩm quyền tiến hành tố tụng đồng thời là bị hại, đương sự; là người đại diện, người thân thích của bị hại, đương sự hoặc của bị can, bị cáo;
  • Người có thẩm quyền tiến hành tố tụng đã tham gia với tư cách là người bào chữa, người làm chứng, người giám định, người định giá tài sản, người phiên dịch, người dịch thuật trong vụ án đó;
  • Có căn cứ rõ ràng khác để cho rằng họ có thể không vô tư trong khi làm nhiệm vụ.



5. Cơ sở pháp lý

  • Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017;
  • Luật tổ chức cơ quan điều tra hình sự năm 2015.
  • Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2021.

Trên đây là bài tư vấn của chúng tôi về thẩm quyền khởi tố vụ án hình sự. Qua bài viết này, chúng tôi mong rằng sẽ giúp các bạn hiểu rõ hơn về vấn đề này.

Để được tư vấn đầy đủ và chính xác nhất, mời quý khách hàng liên hệ tới Tổng đài tư vấn Luật hình sự trực tuyến qua HOTLINE 19006588 của Luật Quang Huy để nhận tư vấn thêm về vấn đề mà quý khách hàng đang gặp phải.

Trân trọng./.

5/5 - (1 bình chọn)
Tác giả bài viết
phone-call

GỌI ĐỂ TƯ VẤN MIỄN PHÍ

Scroll to Top