Quy định về các trường hợp loại trừ trách nhiệm hình sự

Những trường hợp loại trừ trách nhiệm hình sự
Do nhu cầu tư vấn giải đáp thắc mắc liên quan đến luật hình sự tăng cao, Luật Quang Huy đã cung cấp đường dây nóng hỗ trợ hỏi đáp luật hình sự. 100% cuộc gọi tới đường dây này được bảo mật thông tin cuộc gọi. Nếu bạn đọc có nhu cầu được hỗ trợ về luật hình sự, hãy liên hệ ngay qua Tổng đài 1900.6784.

Bạn thắc mắc không biết những trường hợp loại trừ trách nhiệm hình sự gồm những gì? Bạn băn khoăn không biết căn cứ để được miễn trách nhiệm hình sự là gì? Hãy theo dõi bài viết sau đây của Luật Quang Huy, chúng tôi sẽ giúp bạn giải đáp.





1. Loại trừ trách nhiệm hình sự là gì?

Loại trừ trách nhiệm hình sự là việc một người không phải chịu trách nhiệm hình sự, hành vi của họ không bị xem là tội phạm và không bị xem là có án tích.

Theo quy định Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017, các trường hợp loại trừ trách nhiệm hình sự sẽ bao gồm 02 nhóm:

  • Nhóm các trường hợp loại trừ trách nhiệm hình sự do chưa đủ yếu tố cấu thành tội phạm, do vậy vấn đề trách nhiệm hình sự không được đặt ra, bao gồm: Sự kiện bất ngờ; tình trạng không có năng lực trách nhiệm hình sự;
  • Nhóm các trường hợp loại trừ trách nhiệm hình sự đủ hoặc có thể đủ yếu tố cấu thành tội phạm, nhưng có những “căn cứ” làm cho hành vi gây thiệt hại có tính hợp pháp, không còn tính trái pháp luật hình sự nên không coi là tội phạm bao gồm: phòng vệ chính đáng; tình thế cấp thiết; gây thiệt hại trong khi bắt giữ tội phạm; rủi ro trong nghiên cứu, thử nghiệm, áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật và công nghệ và thi hành mệnh lệnh của người chỉ huy hoặc của cấp trên.

Lưu ý:

(1) Loại trừ trách nhiệm hình sự không đồng nhất với miễn trách nhiệm hình sự.

Về miễn trách nhiệm hình sự:

  • Là trường hợp một người có hành vi, và hành vi đó có đủ yếu tố cấu thành tội phạm (có tội phạm xảy ra) nhưng họ được Viện kiểm sát hoặc Tòa án miễn trách nhiệm hình sự.
  • Một người phạm tội có thể được miễn trách nhiệm hình sự, nếu khi tiến hành điều tra, truy tố hoặc xét xử, do sự chuyển biến của tình hình mà hành vi phạm tội hoặc người phạm tội không còn nguy hiểm cho xã hội nữa, hoặc trước khi hành vi phạm tội được phát giác, người phạm tội đã tự thú, khai rõ sự việc góp phần có hiệu quả vào việc phát hiện và điều tra tội phạm, cố gắng hạn chế đến mức thấp nhất hậu quả của tội phạm.
  • Miễn trách nhiệm hình sự là trường hợp lẽ ra người phạm tội phải bị truy cứu trách nhiệm hình sự, nhưng vì có lý do chính đáng nên họ được miễn.

Về loại trừ trách nhiệm hình sự: Là người có hành vi không bị coi là phạm tội, và theo quy định của pháp luật thì họ không bị truy cứu trách nhiệm hình sự.

(2) Loại trừ trách nhiệm hình sự không đồng nghĩa với trường hợp không có sự việc phạm tội.

Về không có sự việc phạm tội:

  • Là không có hành vi gây thiệt hại hoặc đe dọa gây ra thiệt hại cho xã hội, nhưng do những yếu tố khách quan hoặc chủ quan nên các cơ quan tiến hành tố tụng đã truy cứu trách nhiệm hình sự oan một người hoặc một số người;
  • Tùy theo giai đoạn tố tụng mà cơ quan điều tra, truy tố hoặc xét xử phát hiện việc truy cứu trách nhiệm hình sự là không đúng nên đã ra quyết định đình chỉ vụ án, nếu bản án hoặc quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật mà phát hiện không có sự việc phạm tội, thì bị kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm hoặc tái thẩm, và Hội đồng giám đốc thẩm hoặc tái thẩm hủy bản án hoặc quyết định đã có hiệu lực pháp luật đó và đình chỉ vụ án;
  • Không có sự việc phạm tội là không có tội phạm xảy ra, nhưng mọi người kể cả các cơ quan tiến hành tố tụng tưởng lầm là có tội phạm xảy ra, nên đã khởi tố, truy tố hoặc kết án người không thực hiện hành vi phạm tội.

Ví dụ: B bị chết vì ăn phải thức ăn có thuốc độc, nhưng thân nhân của B lại nghi cho A đã đầu độc B vì trước đó A và B có mâu thuẫn với nhau. Cơ quan điều tra khởi tố  vụ án, khởi tố bị can đối với A, khám nhà A, cơ quan điều tra lại thu được chất độc cùng với chất độc đã gây cho B chết theo kết luận của cơ quan pháp y, Trong quá trình bị tạm giam, có lúc A nhận tội, nhưng sau đó lại chối tội.

Sau khi A bị kết án, gia đình B đã dọn dẹp đồ dùng cá nhân của B thì phát hiện được lá thư tuyệt mệnh của B, với nội dung trong thời gian công tác ở nước ngoài B đã bị nhiễm HIV, B không muốn lây bệnh cho vợ và biết mình sắp chết nên đã tự tử.


2. Những trường hợp loại trừ trách nhiệm hình sự

Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 quy định những trường hợp sau đây sẽ được loại trừ trách nhiệm hình sự: Sự kiện bất ngờ; tình trạng không có năng lực trách nhiệm hình sự; Phòng vệ chính đáng; Tình thế cấp thiết; Gây thiệt hại trong khi bắt giữ tội phạm; rủi ro trong nghiên cứu, thử nghiệm, áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật và công nghệ và Thi hành mệnh lệnh của người chỉ huy hoặc của cấp trên. Cụ thể như sau:

2.1. Sự kiện bất ngờ (Điều 20 Bộ luật Hình sự 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017)

Điều 20 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 khẳng định: Người thực hiện hành vi gây hậu quả nguy hại cho xã hội trong trường hợp không thể thấy trước hoặc không buộc phải thấy trước hậu quả của hành vi đó, thì không phải chịu trách nhiệm hình sự.

Bản chất pháp lý của trường hợp sự kiện bất ngờ:

  • Người thực hiện hành vi không có lỗi do họ không tự lựa chọn thực hiện hành vi gây thiệt hại;
  • Họ đã không thấy trước được tính chất nguy hiểm cho xã hội do hành vi của mình gây ra;
  • Hoàn cảnh khách quan không cho phép họ có thể thấy trước hậu quả của hành vi. Họ cũng không có nghĩa vụ phải thấy trước việc gây ra hậu quả đó;
  • Do vậy, tính có lỗi – cơ sở để xem xét một hành vi có là tội phạm không, có cần phải xử lý hình sự không đã không được thỏa mãn.

Như vậy, trong trường hợp sự kiện bất ngờ, việc chủ thể đã không thấy trước được hậu quả nguy hiểm cho xã hội mà hành vi của mình đã gây ra là do khách quan. Đây chính là điểm khác biệt so với các trường hợp như sự kiện bất khả kháng, tình trạng không thể khắc phục được hoặc đối với trường hợp lỗi vô ý vì cẩu thả.

2.2. Tình trạng không có năng lực trách nhiệm hình sự (Điều 21 Bộ luật Hình sự 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017)

Điều 21 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 khẳng định: Người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội trong khi đang mắc bệnh tâm thần, một bệnh khác làm mất khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi của mình, thì không phải chịu trách nhiệm hình sự.

Do đó, người thực hiện nguy hiểm cho xã hội trong khi mắc bệnh thì Viện kiểm sát hoặc Tòa án căn cứ vào kết luận giám định pháp y, giám định pháp y tâm thần có thể quyết định đưa họ vào một cơ sở điều trị chuyên khoa để bắt buộc chữa bệnh.

Theo quy định của điều luật, tình trạng không có năng lực trách nhiệm hình sự được hiểu là người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội trong trường hợp mất khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi do đang trong tình trạng mắc bệnh tâm thần hoặc bệnh khác.

Như vậy, có 02 dấu hiệu để xác định tình trạng không có năng lực trách nhiệm hình sự, đó là:

  • Dấu hiệu y học – điều kiện cần;
  • Dấu hiệu tâm lý – điều kiện đủ.

Cả hai dấu hiệu này có mối liên quan chặt chẽ với nhau, dấu hiệu này là tiền đề của dấu hiệu kia và ngược lại. Có nghĩa rằng họ phải thỏa mãn đồng thời hai dấu hiệu trên, thì mới được coi là người không có năng lực trách nhiệm hình sự.

2.3. Phòng vệ chính đáng (Điều 22 Bộ luật Hình sự 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017)

Khoản 1 điều 22 Bộ Huật hình sự 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 quy định: Phòng vệ chính đáng là hành vi của người vì bảo vệ quyền hoặc lợi ích chính đáng của mình, của người khác hoặc lợi ích của Nhà nước, của cơ quan, tổ chức mà chống trả lại một cách cần thiết người đang có hành vi xâm phạm các lợi ích nói trên. Phòng vệ chính đáng không phải là tội phạm.

Một hành vi được coi là phòng vệ chính đáng khi thoả mãn các dấu hiệu sau:

  • Có hành vi tấn công đang hiện hữu, xâm phạm đến lợi ích của Nhà nước, của tập thể, tổ chức, quyền và lợi ích chính đáng của người phòng vệ hoặc của người khác (cơ sở phát sinh quyền phòng vệ chính đáng);
  • Hành vi phòng vệ gây thiệt hại cho người xâm phạm là cần thiết (nội dung và phạm vi của phòng vệ chính đáng).

Lưu ý: Hành vi vượt quá giới hạn của phòng vệ chính đáng phải chịu trách nhiệm hình sự.

Vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng được hiểu là:

  • Là hành vi chống trả rõ ràng quá mức cần thiết, không phù hợp với tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi xâm hại. Người có hành vi vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng phải chịu trách nhiệm hình sự theo quy định của Bộ luật này;
  • Đây là trường hợp người phòng vệ do đánh giá sai tính chất và mức độ nguy hiểm của hành vi xâm phạm, do đó người phòng vệ đã dùng những phương tiện và phương pháp gây ra thiệt hại quá đáng cho người xâm hại mà tính chất và mức độ nguy hiểm của hành vi xâm hại cũng như hoàn cảnh cụ thể chưa đòi hỏi phải dùng các phương tiện và phương pháp đó.

Người vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng phải chịu trách nhiệm hình sự do lỗi vượt quá của mình. Tuy nhiên, trách nhiệm hình sự của họ được giảm nhẹ hơn so với các trường hợp bình thường. Mức độ trách nhiệm hình sự được giảm nhẹ nhiều hay ít phụ thuộc vào mức độ vượt quá giới hạn phòng vệ và các trường hợp giảm nhẹ khác.

2.4. Tình thế cấp thiết (Điều 23 Bộ luật Hình sự 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017)

Khoản 1 điều 23 Bộ luật Hình sự 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 quy định: Tình thế cấp thiết là một trong những trường hợp loại trừ trách nhiệm hình sự, đó là tình thế của người đứng trước sự đe dọa đến một lợi ích được pháp luật bảo vệ, và để bảo vệ lợi ích này, người đó không còn cách nào khác là phải gây một thiệt hại cho một lợi ích khác được pháp luật bảo vệ.

Để được coi là gây thiệt hại trong tình thế cấp thiết và không phải chịu trách nhiệm hình sự thì phải có đầy đủ các điều kiện sau đây:

  • Phải có sự đe dọa hiện hữu và thực tế xâm phạm đối với lợi ích được pháp luật bảo vệ (tức là lợi ích của Nhà nước, của tổ chức, lợi ích chính đáng của bản thân người thực hiện hành vi hay của người khác);
  • Hành vi gây thiệt hại là biện pháp duy nhất để khắc phục sự nguy hiểm;
  • Thiệt hại trong tình thế cấp thiết gây ra phải nhỏ hơn thiệt hại cần ngăn ngừa.

Lưu ý: Vượt quá yêu cầu của tình thế cấp thiết thì phải chịu trách nhiệm hình sự.

Vượt quá yêu cầu của tình thế cấp thiết được hiểu là:

  • Là tình trạng một người vì muốn tránh một nguy cơ đang thực tế đe dọa lợi ích của Nhà nước, của tổ chức, quyền, lợi ích chính đáng của mình hoặc của người khác mà không còn cách nào khác là gây thiệt hại bằng hoặc lớn hơn thiệt hại cần ngăn ngừa;
  • Đây là trường hợp chủ thể có cơ sở để hành động trong tình thế cấp thiết nhưng đã vượt quá phạm vi cho phép. Cũng giống như vượt quá yêu cầu của phòng vệ chính đáng, người có hành vi gây thiệt hại do vượt quá yêu cầu của tình thế cấp thiết thì cũng phải chịu trách nhiệm hình sự.

Khoản 2 Điều 24 khẳng định: trong trường hợp thiệt hại gây ra rõ ràng vượt quá yêu cầu của tình thế cấp thiết, thì người gây thiệt hại đó phải chịu trách nhiệm hình sự.

Tuy nhiên, khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 có quy định một cách cụ thể, rõ ràng: vượt quá yêu cầu của tình thế cấp thiết là một trong những tình tiết để giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Đây được coi là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự – cơ sở để giảm nhẹ hình phạt trong phạm vi của khung luật tương ứng.

2.5. Gây thiệt hại trong khi bắt giữ người phạm tội (Điều 24 Bộ luật Hình sự 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017)

Khoản 1 điều 24 Bộ luật Hình sự 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 quy định: hành vi của người để bắt giữ người thực hiện hành vi phạm tội mà không còn cách nào khác là buộc phải sử dụng vũ lực cần thiết gây thiệt hại cho người bị bắt giữ thì không phải là tội phạm.

Để được coi là gây thiệt hại trong bắt giữ người phạm tội là một trường hợp loại trừ Bộ luật hình sự, hành vi bắt giữ phải thỏa mãn các điều kiện sau:

  • Hành vi bắt giữ phải thuộc về các chủ thể có thẩm quyền bắt giữ người phạm tội; Hành vi dùng vũ lực gây thiệt hại cho người bị bắt giữ phải là biện pháp cuối cùng, không còn cách nào khác để bắt giữ người phạm tội;
  • Hành vi dùng vũ lực gây thiệt hại cho người bị bắt giữ phải là cần thiết.

Lưu ý: Trường hợp gây thiệt hại do sử dụng vũ lực rõ ràng vượt quá mức cần thiết, thì người gây thiệt hại phải chịu trách nhiệm hình sự.

Tuy nhiên, đối với trường hợp gây thiệt hại do sử dụng vũ lực rõ ràng vượt quá mức cần thiết cho người bị bắt giữ, thì người gây thiệt hại tuy phải chịu trách nhiệm hình sự nhưng pháp luật hình sự Việt Nam vẫn xác định đó là một trong những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự.

Những trường hợp loại trừ trách nhiệm hình sự
Những trường hợp loại trừ trách nhiệm hình sự

2.6. Rủi ro trong nghiên cứu, thử nghiệm, áp dụng tiến bộ khoa học, kỹ thuật và công nghệ (Điều 25 Bộ luật Hình sự 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017)

Điều 25 Bộ luật Hình sự 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 quy định: Rủi ro trong nghiên cứu, thử nghiệm, áp dụng tiến bộ khoa học, kỹ thuật và công nghệ là một trường hợp loại trừ trách nhiệm hình sự.

Đó là hành vi của một người đã gây thiệt hại khi tiến hành, thực hiện việc nghiên cứu, thử nghiệm, áp dụng tiến bộ khoa học, kỹ thuật và công nghệ mới mặc dù đã tuân thủ đúng quy trình, quy phạm, áp dụng đầy đủ biện pháp phòng ngừa. Hành vi gây thiệt trong trường hợp nói trên không phải là tội phạm.

Để coi rủi ro trong nghiên cứu, thử nghiệm, áp dụng tiến bộ khoa học, kỹ thuật và công nghệ là một trường hợp loại trừ trách nhiệm hình sự, hành vi gây thiệt hại trong nghiên cứu, thử nghiệm, áp dụng tiến bộ khoa học, kỹ thuật và công nghệ phải thỏa mãn các điều kiện sau:

  • Hành vi gây thiệt hại trong nghiên cứu, thử nghiệm, áp dụng tiến bộ khoa học, kỹ thuật và công nghệ phải nhằm mục đích đem lại lợi ích cho xã hội;
  • Lĩnh vực của hành vi gây thiệt hại chỉ giới hạn trong nghiên cứu, thử nghiệm, áp dụng tiến bộ khoa học, kỹ thuật và công nghệ;
  • Người gây ra thiệt hại đã tuân thủ đúng quy trình, quy phạm, áp dụng đầy đủ biện pháp phòng ngừa.

Bên cạnh đó, không được thừa nhận là rủi ro trong nghiên cứu, thử nghiệm, áp dụng tiến bộ khoa học, kỹ thuật và công nghệ trong các trường hợp sau:

  • Người nào đó trước khi tiến hành hoạt động nghề nghiệp, sản xuất hoặc nghiên cứu khoa học đã nhìn thấy trước nguy cơ đe dọa tính mạng con người, đe dọa gây ra thảm họa môi trường hoặc tai họa cho xã hội;
  • Không áp dụng đúng quy trình, quy phạm, không áp dụng đầy đủ biện pháp phòng ngừa.

Trong trường hợp này nếu mà gây thiệt hại thì vẫn phải chịu trách nhiệm hình sự. Quy định này góp phần khắc phục tình trạng thiếu trách nhiệm trong các hoạt động nghiên cứu, ứng dụng những tiến bộ khoa học kỹ thuật và công nghệ, góp phần giảm thiểu đến mức thấp nhất những nguy cơ xảy ra thiệt hại của các hoạt động nghiên cứu, ứng dụng khoa học công nghệ.

2.7. Thi hành mệnh lệnh của người chỉ huy hoặc của cấp trên (Điều 26 Bộ luật Hình sự 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 )

Thi hành mệnh lệnh của người chỉ huy hoặc cấp trên là một trường hợp loại trừ trách nhiệm hình sự chính thức được quy định trong Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Đó là hành vi gây thiệt hại trong khi thi hành mệnh lệnh của người chỉ huy hoặc của cấp trên trong lực lượng vũ trang nhân dân để thực hiện nhiệm vụ quốc phòng, an ninh nếu đã thực hiện đầy đủ quy trình báo cáo người ra mệnh lệnh nhưng người ra mệnh lệnh vẫn yêu cầu chấp hành mệnh lệnh đó. Hành vi gây thiệt hại trong trường hợp này không phải chịu trách nhiệm hình sự.

Để coi thi hành mệnh lệnh của người chủ huy hoặc cấp trên là một trường hợp loại trừ trách nhiệm hình sự, khi hành vi gây thiệt hại khi thi hành mệnh lệnh của người chỉ huy hoặc cấp trên phải thỏa mãn các điều kiện sau:

  • Mệnh lệnh mà người có hành vi gây thiệt hại thi hành phải là mệnh lệnh của người chỉ huy hoặc cấp trên (người có thẩm quyền) thuộc lực lượng vũ trang nhân dân;
  • Mục đích của việc thi hành mệnh lệnh của người chỉ huy hoặc cấp trên thuộc lực lượng vũ trang phải nhằm mục đích thực hiện các nhiệm vụ quốc phòng, an ninh;
  • Người có hành vi gây thiệt hại đã thực hiện đầy đủ quy trình báo cáo người ra mệnh lệnh nhưng người ra mệnh lệnh vẫn yêu cầu chấp hành mệnh lệnh đó;
  • Việc thi hành mệnh lệnh này không thuộc trường hợp phạm tội phá hoại hòa bình, gây chiến tranh xâm lược do thi hành mệnh lệnh của cấp trên (khoản 2 Điều 421), tội chống loài người do thi hành mệnh lệnh của cấp trên (khoản 2 Điều 422), tội phạm chiến tranh do thi hành mệnh lệnh của cấp trên (khoản 2 Điều 423).

Như vậy, hành vi gây thiệt hại thi hành mệnh lệnh của người chủ huy hoặc cấp trên thỏa mãn các điều kiện nói trên sẽ được coi là trường hợp loại trừ trách nhiệm hình sự và người thực hiện hành vi gây thiệt hại này sẽ không phải chịu trách nhiệm hình sự.

Tuy nhiên, đối với người ra mệnh lệnh nói trên sẽ phải chịu trách nhiệm hình sự theo quy định của pháp luật.

Lưu ý, trách nhiệm hình sự có thể được đặt ra đối với người thi hành mệnh lệnh của người chỉ huy hoặc của cấp trên có tính chất trái pháp luật và nguy hiểm đáng kể gây thiệt hại cho xã hội, nếu người thi hành mệnh lệnh nhận thức được và buộc phải nhận thức được tính trái pháp luật của mệnh lệnh mà không thực hiện đầy đủ quy trình báo cáo người chỉ huy hoặc cấp trên đã ra mệnh lệnh.

Đặc biệt, quy định về loại trừ trách nhiệm hình sự trong khi thi hành mệnh lệnh của người chỉ huy hoặc của cấp trên không được áp dụng đối với các trường hợp quy định tại:

  • Khoản 2 Điều 421 (Tội phá hoại hòa bình, gây chiến tranh xâm lược);
  • Khoản 2 Điều 422 (Tội chống loài người);
  • Khoản 2 Điều 423 (Tội phạm chiến tranh.

Chương XXVI (Các tội phá hoại hòa bình, chống loài người và tội phạm chiến tranh) của Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.


3. Căn cứ miễn trách nhiệm hình sự

Người phạm tội được miễn trách nhiệm hình sự khi có một trong những căn cứ sau đây:

  • Khi tiến hành điều tra, truy tố hoặc xét xử, do có sự thay đổi chính sách, pháp luật làm cho hành vi phạm tội không còn nguy hiểm cho xã hội nữa,
  • Khi có quyết định đại xá.

Ngoài ra, người phạm tội có thể được miễn trách nhiệm hình sự khi có một trong các căn cứ sau đây:

  • Khi tiến hành điều tra, truy tố, xét xử do chuyển biến của tình hình mà người phạm tội không còn nguy hiểm cho xã hội nữa;
  • Khi tiến hành điều tra, truy tố, xét xử, người phạm tội mắc bệnh hiểm nghèo dẫn đến không còn khả năng gây nguy hiểm cho xã hội nữa,
  • Trước khi hành vi phạm tội bị phát giác, người phạm tội tự thú, khai rõ sự việc, góp phần có hiệu quả vào việc phát hiện và điều tra tội phạm, cố gắng hạn chế đến mức thấp nhất hậu quả của tội phạm và lập công lớn hoặc có cống hiến đặc biệt, được Nhà nước và xã hội thừa nhận.

Người thực hiện tội phạm nghiêm trọng do vô ý hoặc tội phạm ít nghiêm trọng gây thiệt hại về tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm hoặc tài sản của người khác, đã tự nguyện sửa chữa, bồi thường thiệt hại hoặc khắc phục hậu quả và được người bị hại hoặc người đại diện hợp pháp của người bị hại tự nguyện hòa giải và đề nghị miễn trách nhiệm hình sự, thì có thể được miễn trách nhiệm hình sự.


4. Sự cần thiết của việc quy định những trường hợp loại trừ trách nhiệm hình sự

Sau hơn 10 năm thi hành Bộ luật hình sự 1999 (sửa đổi, bổ sung năm 2009), thực tế đã phát sinh nhiều trường hợp mặc dù có tính nguy hiểm cho xã hội nhưng lại được thực hiện với mục đích vì lợi ích xã hội như:

  • Rủi ro trong nghiên cứu khoa học;
  • Gây thiệt hại cho người bị bắt trong trường hợp bắt, giữ người phạm tội quả tang hoặc đang bị truy nã;
  • Gây thiệt hại khi thi hành mệnh lệnh của cấp trên…

Các trường hợp này, theo quy định của Bộ luật hình sự năm 1999 (sửa đổi, bổ sung năm 2009) thì vẫn bị truy cứu trách nhiệm hình sự. Điều này đã tạo ra một số hạn chế như:

  • Chưa thực sự khuyến khích được những hành vi thực hiện vì mục đích cộng đồng nhưng có rủi ro hoặc gây ra thiệt hại, do vậy, đã gián tiếp ảnh hưởng tới sự phát triển kinh tế, xã hội của đất nước;
  • Việc bảo vệ lợi ích của cá nhân thực hiện hành vi gây thiệt hại nhưng động cơ vì lợi ích chung hoặc chấp hành mệnh lệnh của cấp trên vẫn phải chịu trách nhiệm hình sự là chưa thỏa đáng về cả tình và lý;
  • Xét về thực tiễn phòng, chống tội phạm, thì tính nguy hiểm cho xã hội của các hành vi này và hậu quả xảy ra là rủi ro và ngoài khả năng kiểm soát của người thực hiện hành vi.

Do đó, việc truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người thực hiện hành vi gây thiệt hại trên thực tế là tương đối nặng, chưa phù hợp với bản chất của hành vi. Việc xử lý hình sự đối với các hành vi này chưa thật phù hợp với quan điểm nhân đạo của Đảng và Nhà nước ta.

Xuất phát từ những bất cập trên, việc nghiên cứu bổ sung thêm các trường hợp loại trừ trách nhiệm hình sự trong Bộ luật hình sự năm 2015 là cần thiết đảm bảo các mục tiêu:

  • Phù hợp với thực tiễn đấu tranh phòng, chống tội phạm, góp phần bảo đảm trật tự, an toàn xã hội; đảo đảm tốt hơn quyền con người, quyền cơ bản của công dân;
  • Thể hiện chính sách nhân đạo của Đảng và Nhà nước trong điều kiện mới; góp phần thúc đẩy sự phát triển lành mạnh của xã hội, nâng cao hiệu quả quản lý của Nhà nước và đề cao trách nhiệm của cán bộ, công chức trong việc thi hành công vụ.



5. Cơ sở pháp lý

  • Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Trên đây là bài tư vấn của chúng tôi về vấn đề những trường hợp loại trừ trách nhiệm hình sự theo quy định pháp luật hiện hành. Qua bài viết này, chúng tôi mong rằng sẽ giúp các bạn hiểu rõ hơn về vấn đề này.

Để được tư vấn đầy đủ và chính xác nhất, mời quý khách hàng liên hệ tới Tổng đài tư vấn Luật hình sự trực tuyến qua HOTLINE 19006588 của Luật Quang Huy để nhận tư vấn thêm về vấn đề mà quý khách hàng đang gặp phải.

Trân trọng./.

5/5 - (1 bình chọn)
Tác giả bài viết
phone-call

GỌI ĐỂ TƯ VẤN MIỄN PHÍ

Scroll to Top