Khách thể của tội phạm là gì? Quy định về khách thể tội phạm

Khách thể của tội phạm là gì? Quy định về khách thể tội phạm
Do nhu cầu tư vấn giải đáp thắc mắc liên quan đến luật hình sự tăng cao, Luật Quang Huy đã cung cấp đường dây nóng hỗ trợ hỏi đáp luật hình sự. 100% cuộc gọi tới đường dây này được bảo mật thông tin cuộc gọi. Nếu bạn đọc có nhu cầu được hỗ trợ về luật hình sự, hãy liên hệ ngay qua Tổng đài 1900.6784.

Bạn thắc mắc không biết khách thể của tội phạm là gì? Cách xác định từng loại khách thể của tội phạm như thế nào? Hãy theo dõi bài viết sau đây của Luật Quang Huy, chúng tôi sẽ giúp bạn giải đáp.





1. Khách thể của tội phạm là gì?

Khách thể của tội phạm là quan hệ xã hội bị tội phạm xâm phạm. Bất cứ hành vi phạm tội nào cũng đều gây thiệt hại hoặc hướng tới gây thiệt hại cho quan hệ xã hội nhất định được luật hình sự bảo vệ. Không gây thiệt hại hoặc hướng tới gây thiệt hại cho đối tượng là quan hệ xã hội được luật hình sự bảo vệ thì hành vi khách quan không có tính gây thiệt hại và do vậy cũng không có tội phạm.

Nhìn chung mỗi khách thể của tội phạm sẽ mang những đặc trưng cơ bản sau:

  • Là căn cứ để định tội.
  • Phân biệt tội phạm với các vi phạm pháp luật khác.
  • Xác định tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của tội phạm.
  • Phản ánh được bản chất giai cấp của luật hình sự

2. Ví dụ về khách thể của tội phạm

Ví dụ về khách thể của tội phạm:

  • Hành vi cướp tài sản vừa xâm hại đến quan hệ nhân thân vừa xâm hại đến quan hệ sở hữu. Bản chất nguy hiểm của hành vi cướp tài sản chỉ được thể hiện đầy đủ qua cả việc xâm hại quan hệ nhân thân và quan hệ sở hữu. Chính vì thế, cả hai khách thể đều là khách thể trực tiếp của tội phạm.
  • A trộm cắp tài sản của B. A đã xâm hại đến khách thể trực tiếp là quyền sở hữu tài sản của B và gây phương hại đến khách thể chung và khách thể loại là quyền sở hữu của công dân.

3. Ví dụ về hành vi xâm phạm khách thể của tội phạm

Ví dụ: Hành vi giật túi xách của người đi đường làm cho chủ sở hữu ngã dẫn đến thương tích. Ở đây có hai khách thể bị xâm hại là quyền sở hữu và sức khỏe. Tuy nhiên, quyền sở hữu đúng là khách thể trực tiếp của hành vi cướp giật tài sản, sức khỏe không là khách thể trực tiếp của hành vi này.

Khách thể của tội phạm là gì? Quy định về khách thể tội phạm
Khách thể của tội phạm là gì? Quy định về khách thể tội phạm

4. Phân tích khách thể của tội phạm

Theo Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017, những khách thể của tội phạm bao gồm: độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ Tổ quốc, xâm phạm chế độ chính trị, chế độ kinh tế, nền văn hoá, quốc phòng, an ninh, trật tự, an toàn xã hội, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, tự do, tài sản,… Việc nghiên cứu và nắm bắt khái niệm khách thể có ý nghĩa quan trọng trong việc nhận thức và vận dụng để giải quyết các vụ phạm tội, cụ thể như sau:

  • Khách thể của tội phạm thể hiện bản chất của Nhà nước. Pháp luật thể hiện ý chí của giai cấp thống trị, do đó, thông qua các lợi ích được luật hình sự bảo vệ, chúng ta sẽ thấy được tính giai cấp và tính xã hội của Nhà nước. Pháp luật hình sự Việt Nam bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích của giai cấp công nhân và toàn thể nhân dân lao động.
  • Khách thể của tội phạm là một trong những căn cứ để định tội đối với hành vi phạm tội. Cùng với các yếu tố khác của cấu thành tội phạm, khách thể góp phần vào việc định tội danh, sẽ không có tội phạm nếu như hành vi phạm tội không xâm phạm đến quan hệ xã hội được pháp luật hình sự bảo vệ.
  • Khách thể là cơ sở để xác định tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của tội phạm. Dựa vào các quan hệ xã hội mà tội phạm xâm phạm đến có thể đánh giá được tính chất và mức độ nguy hiểm của tội phạm, điều này thể hiện rõ qua các nhóm tội phạm cũng như các tội phạm cụ thể trong Bộ luật hình sự.
  • Khách thể của tội phạm là một trong những căn cứ quan trọng để phân biệt tội phạm với các vi phạm pháp luật khác. Mỗi vi phạm pháp luật xâm phạm đến những lợi ích khác nhau và tính chất, mức độ cũng khác nhau.
  • Luật hình sự Việt Nam dựa vào phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng để phân loại khách thể của tội phạm. Trên cơ sở đó, khách thể của tội phạm được phân ra làm ba loại: khách thể chung; khách thể loại; khách thể trực tiếp. Sự phân loại này chính là phương pháp để xác định khách thể của tội phạm trong các vụ án hình sự, giúp hoạt động định tội danh được chính xác. Cụ thể quy định về từng loại khách thể, chúng tôi sẽ phân tích ở nội dung tiếp theo đây.

5. Các loại khách thể của tội phạm

5.1. Khách thể chung của tội phạm

  • Khách thể chung của tội phạm là tổng hợp tất cả các quan hệ xã hội được luật hình sự bảo vệ trước hành vi xâm hại của tội phạm.
  • Tổng thể các quan hệ xã hội được luật hình sự bảo vệ ghi nhận tại khoản 1 Điều 8 của Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017. Việc xác định khách thể chung của tội phạm, có thể thấy được phạm vi các quan hệ xã hội được luật hình sự bảo vệ cũng như thấy được chính sách hình sự của Nhà nước. Trong mỗi thời kỳ lịch sử, tùy thuộc vào điều kiện kinh tế – chính trị – xã hội của đất nước, pháp luật hình sự sẽ bảo vệ những lợi ích cơ bản và quan trọng khác nhau.

5.2. Khách thể loại của tội phạm

  • Khách thể loại của tội phạm là một nhóm các quan hệ xã hội có tính chất tương đồng nhau, được một nhóm các quy phạm pháp luật hình sự bảo vệ trước sự xâm phạm của một nhóm các tội phạm cụ thể được quy định trong Bộ luật hình sự.
  • Trên cơ sở khách thể chung, Bộ luật Hình sự quy định các nhóm quan hệ xã hội cùng tính chất, tương đồng nhau bị tội phạm xâm hại Khách thể loại của tội phạm là một nhóm các quan hệ xã hội có tính chất tương đồng nhau, được một nhóm các quy phạm pháp luật hình sự bảo vệ trước sự xâm phạm của một nhóm các tội phạm cụ thể được quy định trong Bộ luật hình sự.
  • Trên cơ sở khách thể chung, Bộ luật hình sự quy định các nhóm quan hệ xã hội cùng tính chất, tương đồng nhau bị tội phạm xâm hại

5.3. Khách thể trực tiếp của tội phạm

  • Khách thể trực tiếp của tội phạm là quan hệ xã hội cụ thể bị một loại phạm cụ thể trực tiếp xâm hại. Thông qua việc gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại đối với khách thể trực tiếp, tội phạm đã gây phương hại đến khách thể chung và khách thể loại của tội phạm.
  • Một tội phạm có thể xâm hại đến nhiều khách thể nhưng không phải lúc nào tất cả các khách thể đó đều được xem là khách thể trực tiếp. Khách thể trực tiếp khi đó là quan hệ xã hội mà tội phạm gây thiệt hại thể hiện được đầy đủ bản chất nguy hiểm cho xã hội của tội phạm.
  • Tùy vào tính chất đặc trưng của mỗi loại tội phạm, có tội phạm chỉ có một khách thể trực tiếp, có tội phạm có nhiều khách thể trực tiếp. Ví dụ: Tội giết người tại Điều 123 của Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 chỉ có một khách thể trực tiếp, đó là tội phạm xâm phạm đến tính mạng (quyền sống) của người khác được luật hình sự bảo vệ; Tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ tại Điều 260 của Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 là tội có nhiều khách thể trực tiếp, ngoài việc xâm phạm đến trật tự an toàn giao thông, tội phạm còn xâm phạm đến quyền nhân thân và quyền sở hữu tài sản, đối với những tội phạm này, tính chất, mức độ nguy hiểm của tội phạm chỉ được thể hiện đầy đủ khi xâm phạm đến các quan hệ xã hội cụ thể trên.

6. Đối tượng tác động của tội phạm

Đối tượng tác động của tội phạm là một bộ phận của khách thể của tội phạm mà khi tác động lên nó, người phạm tội gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại cho những quan hệ xã hội được luật hình sự bảo vệ. Đối tượng tác động của tội phạm cho thấy sự thể hiện ở 2 mặt như sau:

6.1. Về mặt nội dung

Về mặt nội dung thì đối tượng tác động của tội phạm là cái thông qua sự tác động lên nó tội phạm trực tiếp gây thiệt hại cho các quan hệ xã hội là khách thể bảo vệ của luật hình sự. Vấn đề này có thể được đánh giá qua sự phân tích các ví dụ sau:

  • Ví dụ 1: Đối với tội phạm giết người: A dùng dao đâm chết B. Trong trường hợp phạm tội này, tội phạm xâm hại quan hệ nhân thân của B và chỉ có thể thông qua sự tác động lên cơ thể của B mới có thể gây thiệt hại đến tính mạng của B. Do đó, đối tượng tác động của tội phạm là con người B – B là chủ thể của quan hệ nhân thân.
  • Ví dụ 2: Đối với tội phạm giết người: A trộm tivi của B. Tội phạm xâm hại đến quan hệ sở hữu của B. Trong trường hợp này, chỉ có thể thông qua sự tác động vào chiếc tivi mới có thể gây thiệt hại cho quan hệ sở hữu của B. Do đó, đối tượng tác động của tội phạm là chiếc ti vi của B – là đối tượng vật chất là khách thể của quan hệ xã hội.
  • Ví dụ 3: Đối với tội đưa hối lộ: A là cán bộ kiểm lâm đã nhận 10 triệu đồng của B là lâm tặc đang vận chuyển gỗ lậu. Trong trường hợp này tội phạm xâm hại đến quan hệ về sự hoạt động đúng đắn của ngành kiểm lâm và chỉ có thể thông qua sự tác động làm thay đổi tới quyền và nghĩa vụ của cán bộ kiểm lâm mới có thể gây thiệt hại cho sự hoạt động đúng đắn của ngành kiểm lâm. Do đó, đối tượng tác động của tội phạm là quyền và nghĩa vụ của A – là nội dung của quan hệ xã hội.

6.2. Về mặt cấu trúc

  • Xét về mặt cấu trúc đối tượng tác động của tội phạm là một bộ phận của khách thể của tội phạm. Như vậy, khách thể của tội phạm phải được hợp thành bởi nhiều bộ phận trong đó có một bộ phận là về đối tượng tác động của tội phạm.
  • Khách thể của tội phạm chính là các quan hệ xã hội được luật hình sự bảo vệ. Như vậy, các bộ phận hợp thành của khách thể của tội phạm cũng chính là các bộ phận hợp thành của các quan hệ xã hội là khách thể của tội phạm.
  • Các bộ phận hợp thành của quan hệ xã hội đó là: Con người chủ thể của quan hệ xã hội, các đối tượng vật chất là lợi ích mà các chủ thể hướng tới là khách thể của quan hệ xã hội và quyền và nghĩa vụ của các chủ thể là nội dung của quan hệ xã hội. Đối tượng tác động của tội phạm có thể là một trong ba bộ phận trên của khách thể của tội phạm.

7. Các loại đối tượng tác động của tội phạm

Đối tượng tác động của tội phạm bao gồm các biểu hiện như sau:

  • Con người với tư cách là chủ thể của quan hệ xã hội có thể là đối tượng tác động của tội phạm. Ví dụ: Trong tội giết người, người thực hiện hành vi phạm tội thông qua việc tác động vào con người (một thực thể tự nhiên đang tồn tại), đã xâm phạm đến tính mạng – quyền sống của con người được luật hình sự bảo vệ.
  • Các đối tượng vật chất với ý nghĩa là khách thể của quan hệ xã hội có thể là đối tượng tác động của tội phạm. Ví dụ: Ở các tội xâm phạm sở hữu, để xâm phạm quyền sở hữu, người phạm tội phải tác động vào tài sản (đối tượng vật chất).
  • Quyền và nghĩa vụ của các chủ thể là nội dung của quan hệ xã hội có thể là đối tượng tác động của tội phạm. Ví dụ: Tội đưa hối lộ, người phạm tội khi xâm phạm đến hoạt động đúng đắn, bình thường của cơ quan nhà nước thì phải tác động đến quyền và nghĩa vụ của chủ thể có chức vụ, quyền hạn.

Như vậy, tùy vào từng tội phạm cụ thể, khi thực hiện hành vi phạm tội, người phạm tội chỉ tác động đến một loại đối tượng, cũng có thể tác động đến nhiều loại đối tượng khác nhau.




8. Cơ sở pháp lý

  • Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Trên đây là bài tư vấn của chúng tôi về vấn đề khách thể của tội phạm. Qua bài viết này, chúng tôi mong rằng sẽ giúp các bạn hiểu rõ hơn về vấn đề này.

Để được tư vấn đầy đủ và chính xác nhất, mời quý khách hàng liên hệ tới Tổng đài tư vấn Luật hình sự trực tuyến qua HOTLINE 19006588 của Luật Quang Huy để nhận tư vấn thêm về vấn đề mà quý khách hàng đang gặp phải.

Trân trọng./.

Đánh giá
Tác giả bài viết
phone-call

GỌI ĐỂ TƯ VẤN MIỄN PHÍ

Scroll to Top