Quy định đồng phạm trong luật hình sự

4 điều bạn cần phải biết về đồng phạm
Do nhu cầu tư vấn giải đáp thắc mắc liên quan đến luật hình sự tăng cao, Luật Quang Huy đã cung cấp đường dây nóng hỗ trợ hỏi đáp luật hình sự. 100% cuộc gọi tới đường dây này được bảo mật thông tin cuộc gọi. Nếu bạn đọc có nhu cầu được hỗ trợ về luật hình sự, hãy liên hệ ngay qua Tổng đài 1900.6784.

Bạn thắc mắc không biết pháp luật quy định về đồng phạm như thế nào? Trách nhiệm hình sự của đồng phạm được quy định ra sao? Mời bạn theo dõi bài viết sau đây của Luật Quang Huy để được giải đáp.





1. Đồng phạm là gì?

Đồng phạm là những người cùng tham gia vào việc thực hiện một tội phạm như: cùng thực hiện tội phạm có thể là trực tiếp thực hiện hành vi được mô tả trong cấu thành tội phạm; thực hiện hành vi chủ mưu, chỉ huy, cầm đầu việc thực hiện tội phạm; thực hiện hành vi kích động, dụ dỗ, thúc đẩy người khác thực hiện tội phạm; tạo điều kiện về tinh thần hay vật chất cho người khác thực hiện tội phạm.

Theo đó, khi thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội, mỗi người đồng phạm không chỉ cố ý với hành vi phạm tội của mình mà còn biết và mong muốn sự cùng tham gia của những người đồng phạm khác.


2. Quy định pháp luật về đồng phạm

Theo Điều 17 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017, đồng phạm bao gồm những dấu hiệu sau đây:

  • Thứ nhất, đồng phạm đòi hỏi phải có ít nhất hai người và hai người này phải có đủ điều kiện của chủ thể của tội phạm. Tức là cả hai người đều phải có năng lực trách nhiệm hình sự (có năng lực nhận thức và năng lực điều khiển hành vi và đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự). Nếu trong trường hợp tội phạm được thực hiện là tội phạm có chủ thể đặc biệt thì dấu hiệu chủ thể đặc biệt chỉ đòi hỏi ở người đồng phạm là người thực hành.
  • Thứ hai, về dấu hiệu cố ý cùng thực hiện tội phạm, có nghĩa là mỗi người phải cố ý tham gia vào tội phạm với một trong bốn hành vi như sau:

2.1. Hành vi thực hiện tội phạm

Theo khoản 3 Điều 17 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017, người có hành vi này được gọi là người thực hành. Hành vi thực hiện tội phạm có thể được biểu hiện như sau:

  • Trực tiếp thực hiện tội phạm thể hiện ở việc trực tiếp thực hiện hành vi thỏa mãn dấu hiệu hành vi trong mặt khách quan của tội phạm được quy định tại điều luật cụ thể Phần các tội phạm của Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017. Người trực tiếp thực hiện tội phạm thông thường là người tự mình thực hiện hành vi được quy định là dấu hiệu hành vi trong cấu thành tội phạm. Người thực hiện hành vi có thể không sử dụng hoặc có sử dụng công cụ, phương tiện phạm tội tác động vào đối tượng phạm tội gây hậu quả nguy hiểm cho xã hội.
  • Trong đồng phạm, có thể có nhiều người thực hành. Những người này được gọi là là những người đồng thực hành. Đối với trường hợp này, không đòi hỏi mỗi người đều phải thực hiện toàn bộ hoạt động tạo nên hành vi khách quan được quy định trong cấu thành tội phạm. Mỗi người thực hành có thể chỉ thực hiện một hoạt động, một phần thuộc hành vi khách quan của tội phạm. Tổng hợp các hoạt động của những người đó tạo nên hành vi khách quan của tội phạm. Ví dụ: hành vi khách quan của tội hiếp dâm là dùng vũ lực giao cấu trái ý muốn người khác. Những người giữ chân, giữ tay để người khác giao cấu trái ý muốn nạn nhân đều được coi là người thực hành vì hành vi của họ kết hợp với hành vi giao cấu của người khác tạo nên hành vi khách quan của tội hiếp dâm.
  • Người trực tiếp thực hiện tội phạm còn có thể không tự mình thực hiện hành vi trực tiếp tác động đến đối tượng tác động của tội phạm mà có thể hành động tác động đến người khác để người đó thực hiện hành vi trực tiếp tác động đến đối tượng của tội phạm. Những người mà người phạm tội có thể tác động đến để thực hiện hành vi ý định phạm tội của mình bao gồm: người chưa đến tuổi chịu trách nhiệm hình sự; người không có năng lực trách nhiệm hình sự; người không nhận thức được hành vi nguy hiểm cho xã hội của hành vi của mình (không có lỗi) hoặc có lỗi vô ý do nhận thức sai lầm hành vi của mình.
  • Người thực hành có thể trực tiếp thực hiện tội phạm bằng hành động cụ thể hành vi bị pháp luật cấm hoặc không thực hiện nghĩa vụ nào đó mà pháp luật yêu cầu phải làm và có đủ điều kiện để làm. Người thực hành là người giữ vai trò là trung tâm vụ đồng phạm. Bởi hành vi của người thực hành trực tiếp tác động đến đối tượng, gây thiệt hại cho các quan hệ xã hội là khách thể trực tiếp của tội phạm. Xác định người thực hành trong vụ đồng phạm có ý nghĩa trong việc định tội, quyết định hình phạt, giải quyết các vấn đề khác có liên quan đến trách nhiệm hình sự của những người đồng phạm và vụ án đồng phạm.

2.2. Hành vi tổ chức thực hiện tội phạm

  • Người tổ chức là người chủ mưu, cầm đầu, chỉ huy việc thực hiện tội phạm. Trên thực tế cho thấy, người tổ chức có thể chỉ giữ vai trò là người cầm đầu hoặc chủ mưu hoặc chỉ huy nhóm đồng phạm, nhưng cũng có thể họ vừa chủ mưu, cầm đầu, vừa chỉ huy nhóm đồng phạm thực hiện tội phạm.
  • Trong số những người đồng phạm, người tổ chức thường được coi là người  nguy hiểm nhất. Do vậy, hình thức đối với người tổ chức thường nghiêm khắc hơn những người đồng phạm khác. Phản ánh tính nguy hiểm cao của người đồng phạm với vai trò người tổ chức, Điều 3 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 quy định nguyên tắc xử lý là nghiêm trị người chủ mưu, cầm đầu, chỉ huy, ngoan cố chống đối.

2.3. Hành vi xúi giục người khác thực hiện tội phạm

Người xúi giục là người có hành vi tác động đến ý thức, tư tưởng của người khác làm cho người bị xúi giục thực hiện tội phạm; hoặc là người đã nghĩ ra việc phạm tội và đã xúi giục người khác tham gia vào việc phạm tội đó. Người xúi giục có thể vừa xúi giục người khác thực hiện tội phạm vừa trực tiếp tham gia thực hiện tội phạm với người bị xúi giục. Hành vi này được thể hiện ở đặc điểm:

  • Hành vi xúi giục phải trực tiếp, nghĩa là phải trực tiếp tác động vào một hoặc một số người nhất định nhằm gây ra một tội phạm nhất định. Những lời kêu gọi, hô hào chung chung, không hướng tới những người xác định, không trực tiếp nhằm thực hiện một tội phạm nhất định thì không phải là hành vi xúi giục.
  • Hành vi này phải cụ thể, nghĩa là phải hướng tới việc thực hiện một tội phạm nhất định. Việc truyền bá, phổ biến những tư tưởng xấu cho một người hoặc một số người khiến những người này đi vào con đường phạm tội phải là hành vi xúi giục trong đồng phạm.
  • Lỗi phải là lỗi cố ý trực tiếp.

2.4. Hành vi giúp sức người khác thực hiện tội phạm

Người giúp sức là người tạo ra điều kiện tinh thần hay vật chất cho việc thực hiện tội phạm. Đặc điểm của người giúp sức là tạo ra những điều kiện thuận lợi cho người đồng phạm khác thực hiện tội phạm. Nói cách khác, trong đồng phạm, người giúp sức có thể thực hiện hành vi giúp sức về vật chất hoặc giúp sức về tinh thần cho những người đồng phạm khác thực hiện hành vi phạm tội. Cụ thể:

  • Giúp sức về vật chất có thể được biểu hiện ở những hành vi cụ thể, như cung cấp công cụ, phương tiện cho người khác, loại bỏ, khắc phục những khó khăn, trở ngại để tạo điều kiện thuận lợi cho người thực hành thực hiện tội phạm.
  • Giúp sức về tinh thần có thể được biểu hiện ở việc đưa ra những chỉ dẫn, góp ý kiến, cung cấp sơ đồ nơi gây án, tình hình, quy luật hoạt động của nhân viên bảo vệ, của chủ nhà,… Hành vi giúp sức về tinh thần tạo cho người thực hành có thêm điều kiện thuận lợi để thực hiện tội phạm và củng cố quyết tâm thực hiện tội phạm của người đó.
  • Hành vi giúp sức có thể được thực hiện bằng hành động hoặc không hành động. Ví dụ: thỏa thuận với người thực hành buôn lậu đi qua khu vực tuần tra, canh gác của mình sẽ không bị bắt giữ.
  • Hành vi giúp sức về tinh thần khác hành vi xúi giục trong đồng phạm ở chỗ: Hành vi xúi giục là hành vi tác động đến ý chí người khác chưa có ý định phạm tội hoặc có ý định phạm tội nhưng chưa quyết định thực hiện tội phạm, với ý thức làm cho người bị xúi giục quyết định thực hiện hành vi phạm tội. Còn hành vi giúp sức về tinh thần không có ý nghĩa thúc đẩy người khác quyết định thực hiện tội phạm (người khác đã tự quyết định thực hiện tội phạm rồi) mà chỉ tạo điều kiện thuận lợi, củng cố thêm quyết tâm phạm tội của người được giúp sức khi thực hiện phạm tội.
4 điều bạn cần phải biết về đồng phạm
4 điều bạn cần phải biết về đồng phạm

3. Phân loại đồng phạm

Căn cứ vào đặc điểm mối quan hệ giữa những người đồng phạm về mặt chủ quan và khách quan, khoa học hình sự phân loại đồng phạm thành các loại khác nhau. Cụ thể như sau:

3.1. Phân loại theo dấu hiệu khách quan

Căn cứ vào dấu hiệu khách quan thì có thể chia thành đồng phạm giản đơn và đồng phạm phức tạp. Cụ thể:

3.1.1. Đồng phạm giản đơn

  • Đồng phạm giản đơn là hình thức đồng phạm mà trong đó những đồng phạm đều có vai trò là người thực hành.
  • Trong hình thức đồng phạm, những người đồng phạm được gọi là những người đồng thực hành. Tất cả những người đồng phạm đều trực tiếp thực hiện tội phạm, nghĩa là thực hiện hành vi thỏa mãn dấu hiệu hành vi trong mặt khách quan của tội phạm được quy định tại điều luật của Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017. Họ có thể thực hiện toàn bộ những hành vi khách quan của tội phạm hoặc họ chỉ thực hiện một phần trong hành vi khách quan của tội phạm.

3.1.2. Đồng phạm phức tạp

  • Đồng phạm phức tạp là hình thức đồng phạm trong đó giữa những người đồng phạm có sự phân công vai trò. Một hoặc một số người giữ vai trò người thực hành, còn những người khác giữ vai trò tổ chức, xúi giục hay giúp sức.
  • Trong đồng phạm phức tạp, ngoài người giữ vai trò là người thực hành, là người trực tiếp thực hiện tội phạm còn có những người khác tham gia giữ các vai trò khác nhau: tổ chức, xúi giục hoặc giúp sức….

3.2. Phân loại theo dấu hiệu chủ quan

Có thể chia thành: Đồng phạm có thông mưu trước và đồng phạm không có thông mưu trước. Cụ thể:

3.2.1. Đồng phạm không có thông mưu trước

  • Đồng phạm không có thông mưu trước là hình thức đồng phạm mà trong đó giữa những người cùng thực hiện tội phạm không có sự bàn bạc, thỏa thuận trước với nhau hoặc thỏa thuận, bàn bạc nhưng không đáng kể.
  • Hình thức đồng phạm này thường có trong những trường hợp những người đồng phạm gặp nhau, nảy sinh ý định phạm tội và bắt tay luôn vào thực hiện tội phạm. Một số trường hợp khi tội phạm đang do một người thực hiện lại có thêm người khác cùng tham gia tiếp tục thực hiện tội phạm.

3.2.2. Đồng phạm có thông mưu trước

  • Đồng phạm có thông mưu trước là hình thức đồng phạm trong đó những người đồng phạm có sự bàn bạc, thỏa thuận trước về việc cùng thực hiện tội phạm.
  • Do có sự bàn bạc, thỏa thuận trước nên khả năng gây nguy hại của loại đồng phạm không có thông mưu trước thường có mức độ nguy hiểm cao hơn so với hình thức đồng phạm không có thông mưu trước.

3.3. Phạm tội có tổ chức

Theo khoản 2 Điều 17 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017, phạm tội có tổ chức là hình thức đồng phạm có sự câu kết chặt chẽ giữa những người cùng thực hiện tội phạm. Từ định nghĩa trên thì ngoài các dấu hiệu của đồng phạm nói chung, phạm tội có tổ chức, có dấu hiệu đặc trưng là có sự câu kết chặt chẽ giữa những người cùng thực hiện tội phạm.

Ví dụ: A và B muốn có tiền tiêu nên đã rủ nhau đi trộm cắp tài sản, tại hiện trường, A phân công B canh gác để A lấy trộm tài sản. Đây là trường hợp đồng phạm thông thường; không phải là trường hợp đồng phạm có tổ chức.

Phạm tội có tổ chức có các dấu hiệu của đồng phạm chung và có thêm dấu hiệu có sự câu kết chặt chẽ giữa những người thực hiện. Để phân biệt phạm tội có tổ chức với những trường hợp đồng phạm khác, một số biểu hiện của sự câu kết chặt chẽ giữa những người cùng thực hiện tội phạm có thể thể hiện dưới các dạng như sau:

  • Những người đồng phạm đã tham gia một tổ chức phạm tội như: đảng phái, hội, đoàn phản động, băng, ổ trộm, cướp… có những tên chỉ huy, cầm đầu. Tuy nhiên, cũng có khi tổ chức phạm tội không có những tên chỉ huy, cầm đầu mà chỉ là sự tập hợp những tên chuyên phạm tội đã thống nhất cùng nhau hoạt động phạm tội. Ví dụ: sau khi đã hết hạn tù, một số tên chuyên trộm cắp đã tập hợp nhau lại và thống nhất cùng nhau tiếp tục hoạt động phạm tội.
  • Những người đồng phạm đã cùng nhau phạm tội nhiều lần theo một kế hoạch đã thống nhất trước. Ví dụ: một số nhân viên nhà nước đã thông đồng với nhau tham ô nhiều lần; một số tên chuyên cùng nhau đi trộm cắp; một số tên hoạt động đầu cơ, buôn lậu có tổ chức đường dây để nắm nguồn hàng, vận chuyển, thông tin về giá cả,…
  • Những người đồng phạm chỉ thực hiện tội phạm một lần, nhưng đã tổ chức thực hiện tội phạm theo một kế hoạch được tính toán kỹ càng, chu đáo, có chuẩn bị phương tiện hoạt động và có khi còn chuẩn bị cả kế hoạch che giấu tội phạm. Ví dụ: Trong các trường hợp trộm cắp, cướp tài sản của công dân mà có phân công điều tra trước về nơi ở, quy luật sinh hoạt của gia đình chủ nhà, phân công chuẩn bị phương tiện và hoạt động của mỗi người đồng phạm; tham ô mà có bàn bạc trước về kế hoạch sửa chữa chứng từ sổ sách, hủy chứng từ, tài liệu hoặc làm giả giấy tờ; giết người mà có bàn bạc hoặc phân công điều tra sinh hoạt của nạn nhân, chuẩn bị phương tiện và kế hoạch che giấu tội phạm.
  • Do có sự câu kết chặt chẽ giữa những người cùng thực hiện tội phạm nên trường hợp phạm tội có tổ chức có nhiều khả năng gây ra những hậu quả nguy hại rất lớn hoặc đặc biệt lớn cho xã hội. Trong một số tội phạm, tình tiết phạm tội có tổ chức được quy định là dấu hiệu của cấu thành tội phạm tăng nặng trong Bộ luật hình sự. Ví dụ: một số tội quy định về tiết tăng nặng trong Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 như tội giết người theo điểm o khoản 1 Điều 123, tội hiếp dâm theo điểm a khoản 2 Điều 141; tội cướp tài sản theo điểm a khoản 2 Điều 168;… Ngoài ra, phạm tội có tổ chức còn được coi là một tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo điểm a khoản 1 Điều 52.

4. Trách nhiệm hình sự của người đồng phạm

4.1. Nguyên tắc chịu trách nhiệm chung về toàn bộ tội phạm

  • Tất cả những người đồng phạm đều bị truy tố; xét xử về cùng tội danh, theo cùng điều luật và trong phạm vi chế tài điều luật đó quy định.
  • Các nguyên tắc chung về việc truy cứu trách nhiệm hình sự; về quyết định hình phạt; về thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự đối với tội phạm; mà những người này đã thực hiện được áp dụng chung cho tất cả
  • Những người đồng phạm cùng phải chịu những tình tiết tăng nặng của vụ án, nếu họ cùng biết.

4.2. Nguyên tắc chịu trách nhiệm hình sự độc lập về việc cùng thực hiện tội phạm

  • Người đồng phạm không phải chịu trách nhiệm về hành vi vượt quá của người đồng phạm khác. Trong đó, hành vi vượt quá này được hiểu là hành vi vượt ra ngoài ý định chung của những người đồng phạm; và hành vi này có thể cấu thành tội phạm khác hoặc thỏa mãn dấu hiệu khung hình phạt tăng nặng.
  • Việc miễn trách nhiệm hình sự; hoặc miễn hình phạt đối với người đồng phạm này không loại trừ trách nhiệm của những người còn lại.
  • Hành vi của người tổ chức, xúi giục hay giúp sức; dù chưa đưa đến việc thực hiện tội phạm vẫn phải chịu trách nhiệm hình sự.
  • Hành vi tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội của người đồng phạm này không loại trừ trách nhiệm hình sự của những người khác.

4.3. Nguyên tắc cá thể hóa trách nhiệm hình sự trong đồng phạm

  • Khi quyết định hình phạt đối với những người đồng phạm, Tòa án phải xét đến tính chất của đồng phạm, tính chất và mức độ tham gia phạm tội của từng người đồng phạm; Tất nhiên người nào thực hiện những hành vi nguy hiểm hơn thì phải chịu hình phạt nặng hơn.
  • Các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng hoặc loại trừ trách nhiệm hình sự thuộc người đồng phạm nào thì chỉ áp dụng đối với người đó.



5. Cơ sở pháp lý

  • Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Trên đây là bài tư vấn của chúng tôi về vấn đề đồng phạm. Qua bài viết này, chúng tôi mong rằng sẽ giúp các bạn hiểu rõ hơn về vấn đề này.

Để được tư vấn đầy đủ và chính xác nhất, mời quý khách hàng liên hệ tới Tổng đài tư vấn Luật hình sự trực tuyến qua HOTLINE 19006588 của Luật Quang Huy để nhận tư vấn thêm về vấn đề mà quý khách hàng đang gặp phải.

Trân trọng./.

5/5 - (1 bình chọn)
Tác giả bài viết
phone-call

GỌI ĐỂ TƯ VẤN MIỄN PHÍ

Scroll to Top