Quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu

Luật Quang Huy có cung cấp dịch vụ đăng ký bảo hộ nhãn hiệu, thương hiệu, logo, quyền tác giả, sáng chế, quyền sở hữu công nghiệp,...và tất cả dịch vụ khác liên quan tới sở hữu trí tuệ. Nếu quý khách hàng đang có nhu cầu sử dụng dịch vụ, vui lòng gọi Tổng đài 1900.6671 (trong giờ hành chính) hoặc hotline 09.678910.86 (ngoài giờ hành chính) để được tư vấn miễn phí. Xin cảm ơn.

Hiện nay, đối mặt với tình trạng nhiều nhãn hiệu bị sao chép không có sự đồng ý của chủ sở hữu, pháp luật sở hữu trí tuệ đã có những quy định về loại quyền sở hữu công nghiệp về nhãn hiệu, nhằm bảo vệ thành quả sáng tạo trí tuệ này.

Để có thể nắm rõ được các quy định quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu, xin mời quý bạn đọc cùng theo dõi bài viết dưới đây của Luật Quang Huy.





1. Quyền sở hữu công nghiệp là gì?

Theo quy định tại Khoản 4 Điều 4 Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005 sửa đổi, bổ sung năm 2009, 2019 có quy định thì:

Quyền sở hữu công nghiệp là quyền của tổ chức, cá nhân đối với sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế bố trí mạch tích hợp bán dẫn, nhãn hiệu, tên thương mại, chỉ dẫn địa lý, bí mật kinh doanh do mình sáng tạo ra hoặc sở hữu và quyền chống cạnh tranh không lành mạnh.


2. Đặc điểm của quyền sở hữu công nghiệp

Theo quy định của pháp luật sở hữu trí tuệ (SHTT) hiện hành, quyền sở hữu công nghiệp có những đặc điểm sau:

  • Đối tượng của quyền sở hữu công nghiệp luôn gắn với hoạt động sản xuất kinh doanh
  • Quyền sở hữu công nghiệp chủ yếu hướng tới việc bảo hộ các quyền tài sản. Việc khai thác giá trị quyền được thực hiện thông qua hành vi sử dụng đối tượng.
  • Việc xác lập quyền sở hữu công nghiệp chủ yếu thông qua thủ tục đăng ký tại các cơ quan nhà nước có thẩm quyền trên cơ sở cấp văn bằng bảo hộ.
  • Quyền sở hữu công nghiệp được bảo hộ theo thời hạn của văn bằng bảo hộ.

3. Nhãn hiệu với tư cách là đối tượng của quyền sở hữu công nghiệp

Trong quá trình xây dựng và phát triển nền kinh tế thị trường, nhãn hiệu đóng vai trò cực kỳ quan trọng. Thông qua nhãn hiệu, người tiêu dùng có thể ra quyết định lựa chọn những sản phẩm, dịch vụ phù hợp, góp phần vào việc bảo vệ những quyền và lợi ích hợp pháp của người sản xuất, người cung cấp dịch vụ.

Hơn nữa nhãn hiệu còn được xem là biểu tượng của doanh nghiệp, là yếu tố quyết định tính cạnh tranh của hàng hóa, dịch vụ trên thị trường và là một tài sản kinh doanh có giá trị đặc biệt đối với mỗi doanh nghiệp.

Chức năng cơ bản của nhãn hiệu là phân biệt các sản phẩm, dịch vụ cùng loại của các cơ sở kinh doanh này với các cơ sở kinh doanh khác. Từ đó, pháp luật nước ta quy định:

Nhãn hiệu là dấu hiệu dùng để phân biệt hàng hoá, dịch vụ của các tổ chức, cá nhân khác nhau.

Một khi sản phẩm đã chiếm lĩnh được thị trường  và gây dựng được lòng tin đối với người dùng thì rất dễ bị người khác sử dụng để sản xuất hàng giả hàng nhái.

Do đó, việc bảo vệ nhãn hiệu trước các hành vi xâm phạm là rất cần thiết để bảo vệ doanh nghiệp cũng như người tiêu dùng. Để ngăn chặn điều đó, Điều 72 Luật SHTT quy định về các điều kiện được bảo hộ của nhãn hiệu như sau:

  • Là dấu hiệu nhìn thấy được dưới dạng chữ cái, từ ngữ, hình vẽ, hình dáng, hình ảnh, kể cả hình ba chiều hoặc sự kết hợp các yếu tố đó, được thể hiện bằng một hoặc nhiều màu sắc;
  • Có khả năng phân biệt hàng hóa, dịch vụ của chủ sở hữu nhãn hiệu với hàng hóa, dịch vụ của chủ thể khác.
Quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu
Quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu

4. Nội dung quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu

Quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu sẽ được xác định theo văn bằng bảo hộ do Cục sở hữu trí tuệ cấp. Theo quy định tại Điều 123 Luật SHTT thì chủ sở hữu quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu có các quyền sau:

4.1. Quyền sử dụng và cho phép người khác sử dụng nhãn hiệu

Sử dụng nhãn hiệu bao gồm các hành vi sau đây:

  • Gắn nhãn hiệu được bảo hộ lên hàng hóa, bao bì hàng hóa, phương tiện kinh doanh, phương tiện dịch vụ, giấy tờ giao dịch trong hoạt động kinh doanh;
  • Lưu thông, chào bán. Quảng cáo để bán, tàng trữ để bán hàng hóa mang nhãn hiệu được bảo hộ;
  • Nhập khẩu hàng hóa, dịch vụ mang nhãn hiệu được bảo hộ.

Nhãn hiệu với chức năng là phân biệt hàng hóa sản phẩm của các chủ thể sản xuất khác nhau thì việc gắn nhãn hiệu lên bao bì hàng hóa, phương tiện kinh doanh là hành vi phổ biến nhất trong ba hành vi nêu trên.

4.2. Quyền ngăn cấm người khác sử dụng nhãn hiệu

Pháp luật SHTT Việt Nam hiện hành có những quy định cụ thể về quyền của chủ sở hữu trong việc ngăn cấm người khác sử dụng nhãn hiệu đã được bảo hộ dựa trên việc quy định các hành vi xâm phạm quyền đối với nhãn hiệu tại Khoản 1 Điều 129 Luật SHTT.

Tuy nhiên, trong một số trường hợp, chủ sở hữu không có quyền ngăn cấm người khác sử dụng nhãn hiệu. Đó là các trường hợp không ảnh hưởng đến khả năng khai thác và sử dụng của chủ sở hữu và chứng minh được yếu tố trung thực của việc bảo hộ đó trước ngày nộp đơn đăng ký chỉ dẫn địa lý.

4.3. Quyền định đoạt nhãn hiệu

Nhãn hiệu được coi là một loại tài sản đặc biệt và là một trong những đối tượng sở hữu công nghiệp có giá trị và khả năng khai thác thương mại rất lớn.

Quyền định đoạt tài sản này sẽ thuộc về chủ sở hữu và được quy định cụ thể tại phần chuyển giao quyền sở hữu công nghiệp. Trong đó bao gồm chuyển nhượng và chuyển giao quyền sở hữu công nghiệp. Chuyển nhượng, chuyển giao tức là chủ sở hữu cho phép các cá nhân, tổ chức khác sở hữu, sử dụng nhãn hiệu đó.

Chuyển nhượng quyền sở hữu và chuyển quyền sở hữu nhãn hiệu phải được thực hiện thông qua hợp đồng bằng văn bản. Hợp đồng này chỉ có hiệu lực khi đã được đăng ký với cơ quan quản lý nhà nước về quyền sở hữu công nghiệp.


5. Xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu

Xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp, được hiểu là hành vi chiếm đoạt, sử dụng bất hợp pháp, nhãn hiệu đang được bảo hộ tại Việt Nam, theo đó, xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu sẽ gồm những vấn đề sau:

5.1. Đối tượng bị xem xét

Đối tượng bị xem xét thuộc phạm vi các đối tượng đang được bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu.

Các đối tượng được bảo hộ được xác định trên cơ sở quyết định cấp văn bằng bảo hộ của cơ quan nhà nước có thẩm quyền theo thủ tục đăng ký quy định tại Luật sở hữu trí tuệ hoặc công nhận đăng ký quốc tế theo quy định của Điều ước quốc tế mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên.

Đối với nhãn hiệu nổi tiếng, quyền sở hữu công nghiệp được xác lập trên cơ sở sử dụng, không phụ thuộc vào thủ tục đăng ký theo quy định tại Khoản 3 Điều 6 Luật sở hữu trí tuệ.

5.2. Yếu tố xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu

Căn cứ theo quy định tại Điều 11 Nghị định 105/2006/NĐ-CP yếu tố xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu được xác định như sau:

Yếu tố xâm phạm quyền đối với nhãn hiệu  là dấu hiệu gắn trên hàng hoá, bao bì hàng hoá, phương tiện dịch vụ, giấy tờ giao dịch, biển hiệu, phương tiện quảng cáo và các phương tiện kinh doanh khác, trùng hoặc tương tự tới mức gây nhầm lẫn với nhãn hiệu được bảo hộ.

Căn cứ để xem xét yếu tố xâm phạm quyền đối với nhãn hiệu là phạm vi bảo hộ nhãn hiệu, gồm mẫu nhãn hiệu và danh mục hàng hoá, dịch vụ được xác định tại Giấy chứng nhận đăng ký nhãn hiệu hoặc Giấy chứng nhận nhãn hiệu đăng ký quốc tế được bảo hộ tại Việt Nam.

Để xác định một dấu hiệu bị nghi ngờ có phải là yếu tố xâm phạm quyền đối với nhãn hiệu hay không, cần phải so sánh dấu hiệu đó với nhãn hiệu, đồng thời phải so sánh sản phẩm, dịch vụ mang dấu hiệu đó với sản phẩm, dịch vụ thuộc phạm vi bảo hộ.

Chỉ có thể khẳng định có yếu tố xâm phạm khi đáp ứng cả hai điều kiện sau đây:

  • Dấu hiệu bị nghi ngờ trùng hoặc tương tự đến mức gây nhầm lẫn với nhãn hiệu thuộc phạm vi bảo hộ trong đó một dấu hiệu bị coi là trùng nếu có cùng cấu tạo, cách trình bày (kể cả màu sắc); một dấu hiệu bị coi là tương tự đến mức gây nhầm lẫn với nhãn hiệu thuộc phạm vi bảo hộ nếu có một số đặc điểm hoàn toàn trùng nhau hoặc tương tự đến mức không dễ dàng phân biệt với nhau về cấu tạo, cách phát âm, phiên âm đối với dấu hiệu, chữ, ý nghĩa, cách trình bày, màu sắc và gây nhầm lẫn cho người tiêu dùng về hàng hoá, dịch vụ mang nhãn hiệu;
  • Hàng hoá, dịch vụ mang dấu hiệu bị nghi ngờ trùng hoặc tương tự về bản chất hoặc có liên hệ về chức năng, công dụng và có cùng kênh tiêu thụ với hàng hoá, dịch vụ thuộc phạm vi bảo hộ.

Còn đối với nhãn hiệu nổi tiếng, dấu hiệu bị nghi ngờ bị coi là yếu tố xâm phạm nếu:

  • Dấu hiệu đó đáp ứng điều kiện quy định tại điểm a Khoản 3 Điều 11 Nghị định 105/2006/NĐ-CP.
  • Hàng hoá, dịch vụ mang dấu hiệu bị nghi ngờ đáp ứng điều kiện quy định tại điểm b khoản 3 Điều này hoặc hàng hoá, dịch vụ không trùng, không tương tự, không liên quan tới hàng hoá, dịch vụ mang nhãn hiệu nổi tiếng nhưng có khả năng gây nhầm lẫn cho người tiêu dùng về nguồn gốc hàng hoá, dịch vụ hoặc gây ấn tượng sai lệch về mối quan hệ giữa người sản xuất, kinh doanh sản phẩm, dịch vụ đó với chủ sở hữu nhãn hiệu nổi tiếng.

Người thực hiện hành vi bị xem xét không phải là chủ thể quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu và không phải là người được pháp luật hoặc cơ quan nhà nước có thẩm quyền cho phép.

Tức là, ngoài chủ sở hữu nhãn hiệu hoặc có nhãn hiệu đã đăng ký quốc tế được cơ quan có thẩm quyền công nhận hoặc có nhãn hiệu nổi tiếng theo quy định tại Điều 121 Luật sở hữu trí tuệ 2005 sửa đổi, bổ sung năm 2009, 2019 thì bất kỳ người nào (ngoại trừ người được pháp luật hoặc cơ quan nhà nước có thẩm quyền cho phép) sử dụng nhãn hiệu đã được bảo hộ đều là hành vi xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu.




6. Cơ sở pháp lý

  • Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005 sửa đổi, bổ sung năm 2009, 2019
  • Nghị định 105/2006/NĐ-CP Hướng dẫn Luật Sở hữu trí tuệ về bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ và quản lý nhà nước về sở hữu trí tuệ.

Trên đây là toàn bộ câu trả lời của chúng tôi về các quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu.

Nếu nội dung bài viết còn chưa rõ, hoặc bạn cần tư vấn, hỏi đáp thêm về dịch vụ hỗ trợ, bạn có thể kết nối tới Tổng đài tư vấn luật Sở hữu trí tuệ trực tuyến qua HOTLINE 19006588 của Luật Quang Huy để được tư vấn trực tiếp.

Trân trọng./.

5/5 - (1 bình chọn)
Tác giả bài viết
chat-zalo
phone-call

TƯ VẤN MIỄN PHÍ NGAY!

Scroll to Top