Người thực hành trong đồng phạm là gì?

3 điều phải biết về người thực hành trong đồng phạm
Do nhu cầu tư vấn giải đáp thắc mắc liên quan đến luật hình sự tăng cao, Luật Quang Huy đã cung cấp đường dây nóng hỗ trợ hỏi đáp luật hình sự. 100% cuộc gọi tới đường dây này được bảo mật thông tin cuộc gọi. Nếu bạn đọc có nhu cầu được hỗ trợ về luật hình sự, hãy liên hệ ngay qua Tổng đài 1900.6784.

Người thực hành trong đồng phạm được Bộ luật hình sự quy định như thế nào? Có phải chịu trách nhiệm hình sự không? Bài viết sau đây, Luật Quang Huy sẽ giải đáp thắc mắc cho quý khách về vấn đề này.





1. Người thực hành trong đồng phạm là gì?

Căn cứ theo Điều 17 Bộ Luật Hình sự, đồng phạm là trường hợp có hai người trở lên cố ý cùng thực hiện một tội phạm.

Người đồng phạm bao gồm người tổ chức, người thực hành, người xúi giục, người giúp sức. Cũng theo điều luật này quy định về người thực hành trong đồng phạm là người trực tiếp thực hiện phạm tội. Người thực hành thường là người giữ vai trò quan trọng trong vụ án.

Nhưng cũng có nhiều trường hợp, người thực hành không phải là người đóng vai trò chính trong vụ đồng phạm. Tuy vậy, về mặt pháp lý, hành vi của người thực hành được coi là vị trí trung tâm vì nhiều vấn đề về định tội và quyết định hình phạt được giải quyết căn cứ vào hành vi đó.


2. Quy định pháp luật về người thực hành trong đồng phạm

Căn cứ khoản 3 Điều 17 Bộ Luật Hình sự 2015 quy định

Người thực hành là người trực tiếp thực hiện tội phạm.

Theo quy định trên, người thực hành là người có vai trò quyết định việc thực hiện tội phạm vì họ là người trực tiếp thực hiện tội phạm.

Nếu không có người thực hành thì tội phạm chỉ dừng lại ở giai đoạn chuẩn bị phạm tội, mục đích tội phạm không được thực hiện, hậu quả vật chất của tội phạm chưa xảy ra và trách nhiệm hình sự đối với những người đồng phạm khác sẽ được xem xét theo hướng khác.

Trong trường hợp người thực hành tự ý thực hiện hành vi phạm tội nằm ngoài dự tính của các thành viên khác thì họ phải chịu trách nhiệm hình sự nặng hơn so với những người khác.

Như vậy, để xác định được mức độ chịu trách nhiệm hình sự của người thực hành thì phải căn cứ vào từng tình tiết có trong hồ sơ vụ án, tính chất của từng hành vi phạm tội, lời khai của đương sự.

3 điều phải biết về người thực hành trong đồng phạm
3 điều phải biết về người thực hành trong đồng phạm

3. Người thực hành trong đồng phạm có phải chịu trách nhiệm hình sự không?

Như đã phân tích ở trên, người thực hành có vai trò quyết định việc thực hiện tội phạm. Dù là đồng phạm giản đơn hay phạm tội có tổ chức thì bao giờ cũng có người thực hành.

Theo luật hình sự Việt Nam, trực tiếp thực hiện tội phạm bao gồm hai trường hợp sau:

Trường hợp thứ nhất là trường hợp tự mình thực hiện hành vi được mô tả trong cấu thành tội phạm. Người phạm tội trong trường hợp này có thể sử dụng công cụ, phương tiện phạm tội kể cả sử dụng cơ thể người khác hoặc con vật như là công cụ.

Trong vụ đồng phạm có thể có nhiều người cùng tự mình thực hiện hành vi được mô tả trong cấu thành tội phạm và họ được gọi là người đồng thực hành. Khi đó không đòi hỏi mỗi người đồng thực hành phải thực hiện đầy đủ hành vi được mô tả trong cấu thành tội phạm mà có thể mỗi người chỉ thực hiện một phần hành vi đó nhưng đòi hỏi hành vi tổng hợp của họ phải là hành vi có đủ dấu hiệu của cấu thành tội phạm.

Ví dụ: Trong trường hợp hai vợ chồng cùng thực hiện hành vi giết con mới đẻ, chồng phạm tội giết người căn cứ theo Điều 123 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017, còn vợ phạm tội giết hoặc vứt bỏ con mới đẻ căn cứ theo Điều 124 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Đối với trường hợp này, hai vợ chồng là người thực hành trong đồng phạm phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi của mình.

Trường hợp thứ hai là không tự mình thực hiện hành vi được mô tả trong cấu thành tội phạm như không tự mình thực hiện hành vi tước đoạt tính mạng người khác (đâm, bắn, chém…) hoặc không tự mình thực hiện hành vi hủy hoại tài sản (đốt cháy, đập, phá…) mà chỉ có hành động (cố ý) tác động người khác để người này thực hiện hành vi được mô tả trong cấu thành tội phạm nhưng họ lại không phải chịu trách nhiệm hình sự cùng với người đã tác động.

Việc người đã thực hiện hành vi được mô tả trong cấu thành tội phạm không phải chịu trách nhiệm hình sự có thể vì một trong các lý do sau:

  • Người không có năng lực trách nhiệm hình sự (chưa đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự theo Điều 12 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 hoặc trong tình trạng không có năng lực trách nhiệm hình sự theo Điều 21 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017);
  • Họ không có lỗi hoặc chỉ có lỗi vô ý do sai lầm;
  • Họ được loại trừ trách nhiệm hình sự do bị cưỡng bức tinh thần.

Ví dụ: A và B xúi C (12 tuổi) đốt nhà hàng xóm. Trong trường hợp này A và B là người thực hành tội huỷ hoại tài sản; hoặc A và B đã lừa dối và nhờ C đi lĩnh hàng hộ bằng phiếu lĩnh hàng giả. Trong trường hợp này A và B là người thực hành tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản…

Do C chỉ mới 12 tuổi là người không có năng lực trách nhiệm hình sự theo quy định luật hình sự nên dù C là người thực hành trong đồng phạm cũng không phải chịu trách nhiệm hình sự.




4. Cơ sở pháp lý

  • Bộ Luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Trên đây là toàn bộ câu trả lời của chúng tôi về người thực hành trong đồng phạm.

Nếu còn vấn đề thắc mắc hoặc chưa rõ bạn có thể liên hệ trực tiếp với chúng tôi qua Tổng đài tư vấn luật hình sự trực tuyến của HOTLINE 19006588 của Luật Quang Huy để được tư vấn trực tiếp.

Trân trọng./

5/5 - (1 bình chọn)
Tác giả bài viết
phone-call

GỌI ĐỂ TƯ VẤN MIỄN PHÍ

Scroll to Top