Người làm chứng là gì? Quyền và nghĩa vụ của người làm chứng trong tố tụng hình sự

Do nhu cầu tư vấn giải đáp thắc mắc liên quan đến luật hình sự tăng cao, Luật Quang Huy đã cung cấp đường dây nóng hỗ trợ hỏi đáp luật hình sự. 100% cuộc gọi tới đường dây này được bảo mật thông tin cuộc gọi. Nếu bạn đọc có nhu cầu được hỗ trợ về luật hình sự, hãy liên hệ ngay qua Tổng đài 1900.6784.

Bạn thắc mắc không biết người làm chứng trong tố tụng hình sự là gì? Người làm chứng có được vắng mặt tại phiên tòa không? Hãy cùng Luật Quang Huy làm rõ vấn đề này thông qua bài viết sau đây.


1. Người làm chứng trong tố tụng hình sự là gì?

Theo quy định tại khoản 1 Điều 66 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2021, người làm chứng là người biết được những tình tiết liên quan đến nguồn tin về tội phạm, về vụ án và được cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng triệu tập đến làm chứng.

Lưu ý: Những người sau đây không được làm chứng:

  • Người bào chữa của người bị buộc tội;
  • Người do nhược điểm về tâm thần hoặc thể chất mà không có khả năng nhận thức được những tình tiết liên quan nguồn tin về tội phạm, về vụ án hoặc không có khả năng khai báo đúng đắn.

2. Quyền và nghĩa vụ của người làm chứng trong tố tụng hình sự

2.1. Quyền của người làm chứng

Theo quy định tại Điều 66 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2021, người làm chứng có các quyền sau:

  • Được thông báo, giải thích quyền và nghĩa vụ quy định tại Điều này;
  • Yêu cầu cơ quan triệu tập bảo vệ tính mạng, sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm, tài sản và quyền, lợi ích hợp pháp khác của mình, người thân thích của mình khi bị đe dọa;
  • Khiếu nại quyết định, hành vi tố tụng của cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng liên quan đến việc mình tham gia làm chứng;
  • Được cơ quan triệu tập thanh toán chi phí đi lại và những chi phí khác theo quy định của pháp luật.

2.2. Nghĩa vụ của người làm chứng

Theo quy định tại Điều 66 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2021, người làm chứng có các quyền nghĩa vụ sau:

  • Có mặt theo giấy triệu tập của cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng. Trường hợp cố ý vắng mặt mà không vì lý do bất khả kháng hoặc không do trở ngại khách quan và việc vắng mặt của họ gây trở ngại cho việc giải quyết nguồn tin về tội phạm, khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử thì có thể bị dẫn giải;
  • Trình bày trung thực những tình tiết mà mình biết liên quan đến nguồn tin về tội phạm, về vụ án và lý do biết được những tình tiết đó.
  • Người làm chứng khai báo gian dối hoặc từ chối khai báo, trốn tránh việc khai báo mà không vì lý do bất khả kháng hoặc không do trở ngại khách quan thì phải chịu trách nhiệm hình sự theo quy định của Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.

3. Thuộc tính của chứng cứ trong tố tụng hình sự

3.1. Tính khách quan của chứng cứ

Tính khách quan là một trong những thuộc tính quan trọng của chứng cứ. Theo định nghĩa thì chứng cứ là những gì có thật. Điều đó có nghĩa rằng chứng cứ là những thông tin, tài liệu, đồ vật khách quan, tồn tại độc lập không phụ thuộc vào ý thức chủ quan của con người.

Các thông tin, tài liệu, đổ vật đó phù hợp với các tình tiết của vụ án đang được chứng minh. Theo khoản 1 Điều 108 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2021, tính khách quan của chứng cứ được gọi là tính xác thực của chứng cứ.

Chứng cứ trong lời khai của người tham gia tố tụng là những thông tin về tội phạm được phản ánh khách quan trong ý thức người chứng kiến sự việc phạm tội đó.

Vì vậy, về bản chất các thông tin được khai báo là khách quan. Tuy nhiên, do tác động của các yếu tố khác nhau (như khả năng tiếp nhận thông tin, quan hệ với người phạm tội, bị hại, động cơ khai báo…) mà thông tin đó được tiếp nhận hoặc cung cấp sai lệch.

Nhiệm vụ của cơ quan tiến hành tố tụng là kiểm tra xem các thông tin đó có khách quan hay không. Những thông tin, tài liệu, đồ vật dù tồn tại trên thực tế nhưng bị xuyên tạc, bóp méo hay bị làm giả theo ý chí chủ quan thì không còn mang tính khách quan. Vì vậy, những thông tin, tài liệu, đồ vật đó không thể là chứng cứ của vụ án được.

Trong thực tiễn điều tra, truy tố, xét xử, việc xác định đúng đắn tính khách quan của chứng cứ có ý nghĩa rất quan trọng trong chứng minh tội phạm.

Việc sử dụng các thông tin, tài liệu bị bóp méo, bị xuyên tạc, bị làm giả để chứng minh cũng như kiểm tra, đánh giá chứng cứ phụ thuộc vào suy luận chủ quan của nguồn chứng cứ (suy luận chủ quan của người cung cấp lời khai, người báo cáo…) sẽ làm cho việc chứng minh thiếu chính xác, sự thật khách quan không được xác định.

Trong bối cảnh đó, rất dễ dẫn đến những phán quyết sai lệch.

Người làm chứng là gì? Quyền và nghĩa vụ của người làm chứng trong tố tụng hình sự
Người làm chứng là gì? Quyền và nghĩa vụ của người làm chứng trong tố tụng hình sự

3.2. Tính liên quan của chứng cứ

Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử một vụ án hình sự, thông thường nhiều thông tin, tài liệu được thu thập. Tuy nhiên, không phải tất các thông tin, tài liệu thu thập được đều là chứng cứ mà chỉ các thông tin, tài liệu liên quan đến vụ án, tức là được dùng làm căn cứ để giải quyết vụ án mới là chứng cứ.

Tính liên quan của chứng cứ thể hiện ở mối liên hệ khách quan của các thông tin, tài liệu với các tình tiết của vụ án cần được xác định. Mối quan hệ này thể hiện ở hai mức độ khác nhau, cụ thể như sau:

  • Ở mức độ thứ nhất, mối quan hệ của chứng cứ với đối tượng chứng minh. Đây là mối quan hệ cơ bản, chủ yếu. Thể hiện mối quan hệ này, chứng cứ được dùng làm căn cứ để giải quyết thực chất vụ án, tức xác định hành vi phạm tội, người phạm tội, lỗi của người phạm tội, các tình tiết khác có ý nghĩa đối với việc quyết định hình phạt, các biện pháp tư pháp.
  • Ở mức độ khác, có những thông tin, tài liệu, đồ vật không được dùng làm căn cứ trực tiếp để giải quyết thực chất vụ án nhưng lại được dùng để xác định các tình tiết khác có ý nghĩa đối với vụ án. Trong trường hợp này tính liên quan của chúng được thể hiện một cách gián tiếp. Mặc dù là quan hệ gián tiếp nhưng trong nhiều trường hợp việc chứng minh tội phạm không thể thiếu được các thông tin, tài liệu, đổ vật này. Ví dụ: Lời khai của người làm chứng rằng vào thời điểm tội phạm xảy ra, người bị tạm giữ có mặt tại nơi xảy ra tội phạm. Mặc dù người làm chứng không thấy được việc người bị tạm giữ có thực hiện hành vi phạm tội hay không nhưng lời khai đó của họ cũng giúp cho cơ quan điều tra trong việc xác lập giả thuyết điều tra, lời khai đó cũng có thể dùng để bác bỏ lời khai của người bị tạm giữ về tình trạng ngoại phạm của mình.
  • Để coi một thông tin, tài liệu, đồ vật có phải là chứng cứ hay không, Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án phải xác định được tính liên quan của thông tin, tài liệu, đồ vật đó ở cả hai mức độ. Tính liên quan của chứng cứ được xác định dựa vào đối tượng chứng minh được quy định. Nếu thông tin, tài liệu, đồ vật không có ý nghĩa trong giải quyết vụ án thì chúng thiếu tính liên quan, vì vậy không phải là chứng cứ.

3.3. Tính hợp pháp của chứng cứ

Tính hợp pháp của chứng cứ là sự phù hợp của nó với các quy định của pháp luật tố tụng hình sự. Tính hợp pháp của chứng cứ thể hiện trong các mặt sau đây:

  • Chứng cứ được xác định bằng nguồn nhất định theo quy định của pháp luật. Những thông tin, tài liệu, đồ vật tuy tồn tại trong thực tế và có liên quan đến vụ án nhưng không được lưu giữ trong nguồn mà pháp luật quy định thì không được coi là chứng cứ.
  • Theo khoản 1 Điều 87 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2021 thì chứng cứ phải được xác định bằng một trong các nguồn như: vật chứng; lời khai, lời trình bày; dữ liệu điện tử; kết luận giám định, định giá tài sản; biên bản trong hoạt động khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án; kết quả thực hiện ủy thác tư pháp và hợp tác quốc tế khác; các tài liệu, đồ vật khác.

Chứng cứ của vụ án có thể được xác định bằng một hay nhiều nguồn khác nhau mà Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2021 quy định. Cụ thể:

  • Tính hợp pháp của chứng cứ đòi hỏi không chỉ ở việc chứng cứ phải được lưu giữ trong một nguồn nhất định mà còn đòi hỏi mỗi loại chứng cứ phải được xác định bằng nguồn tương ứng xác định. Ví dụ: Lời khai của người tham gia tố tụng được thể hiện trong các bản tự khai, biên bản lấy lời khai, biên bản hỏi cung hoặc biên bản phiên tòa.
  • Tính hợp pháp đòi hỏi chứng cứ phải được thu thập theo trình tự, thủ tục do Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2021 quy định. Theo khoản 2 Điều 87 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2021, những gì có thật nhưng không được thu thập theo trình tự, thủ tục do Bộ luật này quy định thì không có giá trị pháp lý và không được dùng làm căn cứ để giải quyết vụ án hình sự.

4. Ví dụ về người làm chứng

A đang đi tập thể dục thì phát hiện ra B đang cố phá khóa chiếc xe máy dừng ở lề đường, sau đó A hô hoán để mọi người biết thì B liền tẩu thoát nhưng bị người dân đuổi theo và bắt được. Như vậy cơ quan chức năng có thể triệu tập A tham gia lấy lời khai.với tư cách là người làm chứng toàn bộ hành vi phạm tội của B.


5. Người làm chứng vắng mặt có được không?

Căn cứ theo điểm a khoản 4 Điều 66 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2021, người làm chứng có nghĩa vụ có mặt theo giấy triệu tập của cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng.

Trường hợp cố ý vắng mặt mà không vì lý do bất khả kháng hoặc không do trở ngại khách quan và việc vắng mặt của họ gây trở ngại cho việc giải quyết nguồn tin về tội phạm, khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử thì có thể bị dẫn giải.

Đồng thời, tại Điều 293 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2021, sự có mặt của người làm chứng trong xét xử sơ thẩm được quy định như sau:

  • Người làm chứng tham gia phiên tòa để làm sáng tỏ những tình tiết của vụ án. Nếu người làm chứng vắng mặt nhưng trước đó đã có lời khai ở Cơ quan điều tra thì chủ tọa phiên tòa công bố những lời khai đó. Nếu người làm chứng về những vấn đề quan trọng của vụ án vắng mặt thì tùy trường hợp, Hội đồng xét xử quyết định hoãn phiên tòa hoặc vẫn tiến hành xét xử.
  • Trường hợp người làm chứng được Tòa án triệu tập nhưng cố ý vắng mặt mà không vì lý do bất khả kháng hoặc không do trở ngại khách quan và việc vắng mặt của họ gây trở ngại cho việc xét xử thì Hội đồng xét xử có thể quyết định dẫn giải theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2021.

Như vậy, từ những quy định nêu trên, người làm chứng có nghĩa vụ phải có mặt theo giấy triệu tập của cơ quan có thẩm quyền. Tùy vào từng trường hợp cụ thể dựa trên sự cần thiết và ảnh hưởng của bạn đến việc làm sáng tỏ những tình tiết vụ án, việc vắng mặt của người làm chứng sẽ được xử lý như sau:

  • Nếu trước đó người làm chứng đã có lời khai ở Cơ quan điều tra thì chủ tọa phiên tòa sẽ công bố những lời khai đó và phiên tòa vẫn được diễn ra bình thường. Do đó, sự vắng mặt của người làm chứng có thể được Hội đồng xét xử chấp nhận.
  • Nếu người làm chứng về những vấn đề quan trọng của vụ án thì tùy trường hợp, Hội đồng xét xử sẽ ra quyết định hoãn phiên tòa hoặc vẫn tiến hành xét xử.
  • Trường hợp người làm chứng được Tòa án triệu tập nhưng cố ý vắng mặt mà không vì lý do bất khả kháng hoặc không do trở ngại khách quan và việc vắng mặt của bạn gây trở ngại cho việc xét xử thì Hội đồng xét xử có thể quyết định dẫn giải người làm chứng  theo quy định.

6. Cơ sở pháp lý

  • Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017;
  • Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2021.

Trên đây là bài tư vấn của chúng tôi về vấn đề người làm chứng. Qua bài viết này, chúng tôi mong rằng sẽ giúp các bạn hiểu rõ hơn về vấn đề này.

Để được tư vấn đầy đủ và chính xác nhất, mời quý khách hàng liên hệ tới Tổng đài tư vấn Luật hình sự trực tuyến qua HOTLINE 19006588 của Luật Quang Huy để nhận tư vấn thêm về vấn đề mà quý khách hàng đang gặp phải.

Trân trọng./.

5/5 - (1 bình chọn)
Tác giả bài viết
phone-call

GỌI ĐỂ TƯ VẤN MIỄN PHÍ

Scroll to Top