Quy định về người bào chữa trong Tố tụng hình sự

Do nhu cầu tư vấn giải đáp thắc mắc liên quan đến luật hình sự tăng cao, Luật Quang Huy đã cung cấp đường dây nóng hỗ trợ hỏi đáp luật hình sự. 100% cuộc gọi tới đường dây này được bảo mật thông tin cuộc gọi. Nếu bạn đọc có nhu cầu được hỗ trợ về luật hình sự, hãy liên hệ ngay qua Tổng đài 1900.6784.

Bạn đang băn khoăn không biết người bào chữa cho người dưới 18 tuổi gồm những ai? Quyền và nghĩa vụ của người bào chữa được pháp luật quy định như thế nào? Mời bạn đọc bài viết bên dưới của Luật Quang Huy để có câu trả lời nhé.


1. Người bào chữa là gì?

Tại Điều 72 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2021 quy định người bào chữa cụ thể như sau:

Người bào chữa là người được người bị buộc tội nhờ bào chữa hoặc cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng chỉ định và được cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng tiếp nhận việc đăng ký bào chữa.


2. Phân loại người bào chữa

Người bào chữa bao gồm:

  • Luật sư: Luật sư là người có đủ tiêu chuẩn, điều kiện hành nghề theo quy định của pháp luật, thực hiện dịch vụ pháp lý theo yêu cầu của cá nhân, cơ quan, tổ chức. Hoạt động bào chữa của luật sư có tính chất chuyên nghiệp.
  • Người đại diện của người bị buộc tội: Người đại diện cho người bị buộc tội là cha mẹ hoặc người giám hộ của người bị buộc tội chưa thành niên hoặc người có nhược điểm về thể chất mà không thể tự bào chữa hoặc người có nhược điểm về tâm thần; đại diện theo pháp luật của bị can, bị cáo là pháp nhân.
  • Bào chữa viên nhân dân: Bào chữa viên nhân dân là công dân Việt Nam từ 18 tuổi trở lên, trung thành với Tổ quốc, có phẩm chất đạo đức tốt, có kiến thức pháp lý, đủ sức khỏe bảo đảm hoàn thành nhiệm vụ được giao, được ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam hoặc tổ chức thành viên của Mặt trận cử tham gia bào chữa cho người bị buộc tội là thành viên của tổ chức mình.
  • Trợ giúp viên pháp lý trong trường hợp người bị buộc tội thuộc đối tượng được trợ giúp pháp lý.

3. Những người không được bào chữa

Những người không được bào chữa bao gồm:

  • Người đã tiến hành tố tụng vụ án đó; người thân thích của người đã hoặc đang tiến hành tố tụng vụ án đó;
  • Người tham gia vụ án đó với tư cách là người làm chứng, người giám định, người định giá tài sản, người phiên dịch, người dịch thuật;
  • Người đang bị truy cứu trách nhiệm hình sự, người bị kết án mà chưa được xoá án tích, người đang bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, cơ sở giáo dục bắt buộc.

Một người bào chữa có thể bào chữa cho nhiều người bị buộc tội trong cùng vụ án nếu quyền và lợi ích của họ không đối lập nhau.

Nhiều người bào chữa có thể bào chữa cho một người bị buộc tội.

Người bào chữa bao gồm những ai?
Người bào chữa bao gồm những ai?

4. Quyền và nghĩa vụ của người bào chữa được quy định như thế nào?

Tại Điều 73 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2021 quy định như sau:

  • Người bào chữa có quyền:
  • Gặp, hỏi người bị buộc tội;
  • Có mặt khi lấy lời khai của người bị bắt, bị tạm giữ, khi hỏi cung bị can và nếu người có thẩm quyền tiến hành lấy lời khai, hỏi cung đồng ý thì được hỏi người bị bắt, người bị tạm giữ, bị can. Sau mỗi lần lấy lời khai, hỏi cung của người có thẩm quyền kết thúc thì người bào chữa có thể hỏi người bị bắt, người bị tạm giữ, bị can;
  • Có mặt trong hoạt động đối chất, nhận dạng, nhận biết giọng nói và hoạt động điều tra khác theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2021;
  • Được cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng báo trước về thời gian, địa điểm lấy lời khai, hỏi cung và thời gian, địa điểm tiến hành hoạt động điều tra khác theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2021;
  • Xem biên bản về hoạt động tố tụng có sự tham gia của mình, quyết định tố tụng liên quan đến người mà mình bào chữa;
  • Đề nghị thay đổi người có thẩm quyền tiến hành tố tụng, người giám định, người định giá tài sản, người phiên dịch, người dịch thuật; đề nghị thay đổi, hủy bỏ biện pháp ngăn chặn, biện pháp cưỡng chế;
  • Đề nghị tiến hành hoạt động tố tụng theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2021; đề nghị triệu tập người làm chứng, người tham gia tố tụng khác, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng;
  • Thu thập, đưa ra chứng cứ, tài liệu, đồ vật, yêu cầu;
  • Kiểm tra, đánh giá và trình bày ý kiến về chứng cứ, tài liệu, đồ vật liên quan và yêu cầu người có thẩm quyền tiến hành tố tụng kiểm tra, đánh giá;
  • Đề nghị cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng thu thập chứng cứ, giám định bổ sung, giám định lại, định giá lại tài sản;
  • Đọc, ghi chép và sao chụp những tài liệu trong hồ sơ vụ án liên quan đến việc bào chữa từ khi kết thúc điều tra;
  • Tham gia hỏi, tranh luận tại phiên tòa;
  • Khiếu nại quyết định, hành vi tố tụng của cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng;
  • Kháng cáo bản án, quyết định của Tòa án nếu bị cáo là người dưới 18 tuổi, người có nhược điểm về tâm thần hoặc thể chất theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2021;
  • Người bào chữa có nghĩa vụ:
  • Sử dụng mọi biện pháp do pháp luật quy định để làm sáng tỏ những tình tiết xác định người bị buộc tội vô tội, những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị can, bị cáo;
  • Giúp người bị buộc tội về mặt pháp lý nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của họ;
  • Không được từ chối bào chữa cho người bị buộc tội mà mình đã đảm nhận bào chữa nếu không vì lý do bất khả kháng hoặc không phải do trở ngại khách quan;
  • Tôn trọng sự thật; không được mua chuộc, cưỡng ép hoặc xúi giục người khác khai báo gian dối, cung cấp tài liệu sai sự thật;
  • Có mặt theo giấy triệu tập của Tòa án; trường hợp chỉ định người bào chữa theo quy định tại khoản 1 Điều 76 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2021 thì phải có mặt theo yêu cầu của Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát;
  • Không được tiết lộ bí mật điều tra mà mình biết khi thực hiện bào chữa; không được sử dụng tài liệu đã ghi chép, sao chụp trong hồ sơ vụ án vào mục đích xâm phạm lợi ích của Nhà nước, lợi ích công cộng, quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân;
  • Không được tiết lộ thông tin về vụ án, về người bị buộc tội mà mình biết khi bào chữa, trừ trường hợp người này đồng ý bằng văn bản và không được sử dụng thông tin đó vào mục đích xâm phạm lợi ích của Nhà nước, lợi ích công cộng, quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân.
  • Người bào chữa vi phạm pháp luật thì tùy tính chất, mức độ vi phạm mà bị hủy bỏ việc đăng ký bào chữa, bị xử lý kỷ luật, xử phạt vi phạm hành chính hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự; nếu gây thiệt hại phải bồi thường theo quy định của luật.

5. Quyền bào chữa, bảo vệ của người dưới 18 tuổi

Bảo đảm quyền bào chữa của người bị buộc tội, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại, đương sự (Điều 16 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2021) thì người bị buộc tội có quyền tự bào chữa, nhờ luật sư hoặc người khác bào chữa.

Cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng có trách nhiệm thông báo, giải thích và bảo đảm cho người bị buộc tội thực hiện đầy đủ quyền bào chữa, quyền và lợi ích hợp pháp của họ theo quy định.

Quyền bào chữa của người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp, người bị bắt (Điều 58 Bộ Luật Tố tụng hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2021), Người bị tạm giữ (Điều 59 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2021), Bị can (Điều 60 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2021), Bị cáo (Điều 61 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2021): Tự bào chữa, nhờ người bào chữa;

Quyền bảo vệ của người bị tố giác, người bị kiến nghị khởi tố (Điều 57 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2021), có thể tự bảo vệ, nhờ người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho mình;

Quyền của người bị tạm giữ, người bị tạm giam (Điều 9 Luật Thi hành tạm giữ, tạm giam năm 2015): Được gặp thân nhân, người bào chữa, tiếp xúc lãnh sự; Được hướng dẫn, giải thích và bảo đảm thực hiện quyền tự bào chữa, nhờ người bào chữa, trợ giúp pháp lý;

Lựa chọn người bào chữa (Điều 75, Điều 422 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2021): Người bào chữa do người bị buộc tội, người đại diện hoặc người thân thích của họ lựa chọn.

Người bị buộc tội là người dưới 18 tuổi có quyền tự bào chữa hoặc nhờ người khác bào chữa.

Người đại diện của người dưới 18 tuổi bị buộc tội có quyền lựa chọn người bào chữa hoặc tự mình bào chữa cho người dưới 18 tuổi bị buộc tội. Trường hợp người bị buộc tội là người dưới 18 tuổi không có người bào chữa hoặc người đại diện của họ không lựa chọn người bào chữa thì Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án phải chỉ định người bào chữa theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự.

Chỉ định người bào chữa (Điều 76 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2021): Trong các trường hợp sau đây nếu người bị buộc tội, người đại diện hoặc người thân thích của họ không mời người bào chữa thì cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng phải chỉ định người bào chữa cho họ:

  • Bị can, bị cáo về tội mà Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 quy định mức cao nhất của khung hình phạt là 20 năm tù, tù chung thân, tử hình;
  • Người bị buộc tội có nhược điểm về thể chất mà không thể tự bào chữa; người có nhược điểm về tâm thần hoặc là người dưới 18 tuổi.

6. Người bào chữa cho người dưới 18 tuổi

Người bào chữa cho người dưới 18 tuổi có thể là:

  • Luật sư;
  • Người đại diện của người bị buộc tội;
  • Bào chữa viên nhân dân;
  • Trợ giúp viên pháp lý trong trường hợp người bị buộc tội thuộc đối tượng được trợ giúp pháp lý.

7. Ý nghĩa của người bào chữa trong tố tụng hình sự

7.1. Thực hiện quyền bào chữa góp phần bảo vệ quyền con người của người bị buộc tội

Quyền con người là một trong những quyền cơ bản nhất của con người được quy định trong Hiến pháp và các Luật cụ thể. Đồng thời quyền con người cũng là một quyền tự nhiên gắn bó mật thiết nhất với con người.

Nhìn chung quyền con người được hiểu là những nhu cầu, lợi ích tự nhiên, vốn có và khách quan của con người được ghi nhận và bảo vệ trong pháp luật quốc gia cũng như là pháp luật quốc tế.

Nhà nước được thành lập với một trong những nhiệm vụ quan trọng nhất là bảo vệ quyền con người, là công cụ, phương tiện để nhà nước khẳng định và ghi nhận cơ chế đảm bảo các quyền con người đó và nhằm mục đích hạn chế các bất công trong hoạt động tố tụng hình sự.

Ngoài ra cũng xuất phát từ nguyên tắc suy đoán vô tội trong Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2021 không ai bị coi là có tội khi chưa có bản án kết tội của tòa án đã có hiệu lực, do vậy người bị buộc tội được đảm bảo các quyền con người, quyền công dân trong hoạt động tố tụng hình sự thì quyền này được thể hiện bằng quyền bào chữa của họ.

Như vậy việc ban hành một chế định bảo đảm quyền bào chữa cho người bị buộc tội là một nguyên tắc trong việc bảo đảm thực hiện quyền con người của họ.

7.2. Thực hiện quyền bào chữa là góp phần cho việc bảo vệ công lý

Những giá trị của công lý có thể được nhận diện trong các chính sách bảo đảm công bằng xã hội, công bằng trong phân phối thu nhập, cơ hội phát triển và điều kiện thực hiện cơ hội nhằm thỏa mãn một cách hợp lý những nhu cầu của các tầng lớp xã hội, các nhóm xã hội, các cá nhân, xuất phát từ khả năng thực hiện của những điều kiện kinh tế – xã hội nhất định.

Những giá trị mang tính chất công lý cũng thể hiện trong các yêu cầu về xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, hoàn thiện hệ thống pháp luật theo hướng đồng bộ, thống nhất, khả thi, công khai, minh bạch và đẩy mạnh cải cách hành chính, cải cách tư pháp.

Các cơ quan tiến hành tố tụng và các thủ tục tố tụng luôn được xác định là những yếu tố quan trọng trong quá trình giúp các tổ chức, cá nhân tìm kiếm, tiếp cận công lý.

Sự thừa nhận quyền bào chữa của người bị buộc tội cùng cơ chế bảo đảm thực hiện bằng chính sách pháp luật góp phần xác định rõ mục tiêu xây dựng nền tư pháp trong sạch, vững mạnh, dân chủ, nghiêm minh, bảo vệ công lý và tạo điều kiện thuận lợi cho người dân tiếp cận công lý, phù hợp với điều kiện thực tiễn của Việt Nam.

7.3. Thực hiện quyền bào chữa nhằm bảo đảm giải quyết vụ án một cách khách quan

Trong tố tụng hình sự bảo đảm quyền bào chữa của người bị buộc tội góp phần quan trọng vào việc mang lại sự thật khách quan cho quá trình giải quyết vụ án.

Sự tham gia của người bào chữa cũng chính là sự đảm bảo cho sự cọ sát để tìm ra sự thật khách quan mà nếu thiếu cơ chế này, từ phía các cơ quan tiến hành tố tụng hình sự sẽ có nguy cơ bị khép kín và không có cơ chế kiểm soát.

Trong thực tế xét xử các vụ án hình sự chính quá trình tham gia của người bào chữa, đặc biệt là luật sư đã giúp cho chính các cơ quan tiến hành tố tụng tìm ra sự thật của vụ án, khắc phục những sai phạm trong quá trình tố tụng hình sự.

Với vai trò của quyền bào chữa là việc đưa ra các chứng cứ chứng minh cho sự vô tội của mình hoặc để giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với cáo buộc mà các cơ quan buộc tội đưa ra thì việc bảo đảm các yếu tố khách quan trong việc bào chữa là một việc hết sức cần thiết.

Dựa trên các chứng cứ do cơ quan điều tra thu thập được, Tòa án sẽ dựa vào đó để có thể xem xét và quyết định tội danh, tuy nhiên phải căn cứ vào quá trình tranh luận tại phiên tòa để mới có thể đưa ra được một quyết định chính xác nhất.

Do đó mà bị cáo có thể thông qua quyền bào chữa của mình để thể hiện việc phản bác lại các cáo buộc hoặc yêu cầu giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho mình.

7.4. Thực hiện quyền bào chữa góp phần bảo vệ pháp chế và trật tự pháp luật

Pháp chế là một phạm trù thể hiện sự đòi hỏi và những yêu cầu đối với các chủ thể pháp luật, phải triệt để tôn trọng và nghiêm chỉnh thực hiện pháp luật trong đời sống xã hội.

Trong tố tụng hình sự việc đảm bảo quyền bào chữa của người bị buộc tội thể hiện sự bảo vệ pháp chế. Do quyền bào chữa của người bị buộc tội cũng chính là một quyền con người được bảo vệ nên việc thực hiện quyền bào chữa trong hoạt động tố tụng hình sự là việc bảo vệ pháp chế, bảo vệ các quy định của pháp luật đã được ban hành.

Cơ quan tiến hành tố tụng có trách nhiệm và nghĩa vụ đảm bảo cho người bị buộc tội được thực hiện quyền bào chữa của mình. Cũng tương tự việc bảo vệ trật tự pháp lý nhằm bảo đảm rằng các quy định của pháp luật được thực hiện một cách nghiêm túc theo đúng trình tự, thủ tục nhất định.


8. Cơ sở pháp lý

  • Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2021;
  • Luật Thi hành tạm giữ, tạm giam năm 2015.

Trên đây là bài tư vấn của chúng tôi về người bào chữa. Qua bài viết này, chúng tôi mong rằng sẽ giúp các bạn hiểu rõ hơn về vấn đề này.

Để được tư vấn đầy đủ và chính xác nhất, mời quý khách hàng liên hệ tới Tổng đài tư vấn Luật hình sự trực tuyến qua HOTLINE 19006588 của Luật Quang Huy để nhận tư vấn thêm về vấn đề mà quý khách hàng đang gặp phải.

Trân trọng./.

5/5 - (1 bình chọn)
Tác giả bài viết
phone-call

GỌI ĐỂ TƯ VẤN MIỄN PHÍ

Scroll to Top