Quy định về đình chỉ điều tra và tạm đình chỉ điều tra

Do nhu cầu tư vấn giải đáp thắc mắc liên quan đến luật hình sự tăng cao, Luật Quang Huy đã cung cấp đường dây nóng hỗ trợ hỏi đáp luật hình sự. 100% cuộc gọi tới đường dây này được bảo mật thông tin cuộc gọi. Nếu bạn đọc có nhu cầu được hỗ trợ về luật hình sự, hãy liên hệ ngay qua Tổng đài 1900.6784.

Làm sao để phân biệt đình chỉ điều tra và tạm đình chỉ điều tra trong vụ án hình sự khác nhau như thế nào? Thủ tục ra quyết định đình chỉ điều tra và tạm đình chỉ điều tra được pháp luật quy định ra sao? Mời bạn theo dõi bài viết bên dưới, chúng tôi sẽ giúp bạn hiểu rõ vấn đề trên.


1. Khái niệm đình chỉ điều tra và tạm đình chỉ điều tra là gì?

Đình chỉ điều tra là việc hoạt động điều tra vụ án bị dừng lại vĩnh viễn (trừ trường hợp có căn cứ khôi phục điều tra) khi có các căn cứ để đình chỉ theo quy định pháp luật. Đình chỉ điều tra cũng là một trong các hình thức kết thúc điều tra.

Tạm đình chỉ điều tra là việc hoạt động điều tra vụ án hoặc bị can bị tạm ngừng lại vì những lý do khách quan theo quy định pháp luật mà phải tạm ngừng hoạt động điều tra và chưa đưa ra được kết luận cuối cùng về vụ án. Việc tạm đình chỉ điều tra có thể dẫn đến các trường hợp sau:

Trường hợp 1: Hết thời hạn tạm đình chỉ và lý do tạm đình chỉ không còn, Cơ quan điều tra được tiếp tục thực hiện hoạt động điều tra để đưa ra kết luận cuối cùng, phục vụ cho giai đoạn tố tụng tiếp theo – giai đoạn truy tố.

Trường hợp 2: Hết thời hạn tạm đình chỉ mà có căn cứ để đình chỉ điều tra thì hoạt động điều tra có thể bị đình chỉ theo quy định pháp luật.


2. Phân biệt đình chỉ điều tra và tạm đình chỉ điều tra?

Để phân biệt đình chỉ điều tra và tạm đình chỉ điều tra khác nhau như thế nào, mời bạn theo dõi bảng bên dưới:

Tiêu chí Đình chỉ điều tra Tạm đình chỉ điều tra
Căn cứ Căn cứ vào Khoản 1, Điều 230, Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2021 theo đó khi có một trong các trường hợp sau đây, cơ quan điều tra sẽ ra quyết định đình chỉ điều tra vụ án hình sự:
  • Trường hợp người đã yêu cầu khởi tố rút yêu cầu thì vụ án phải được đình chỉ, trừ trường hợp có căn cứ xác định người đã yêu cầu rút yêu cầu khởi tố trái với ý muốn của họ do bị ép buộc, cưỡng bức thì tùy người đã yêu cầu khởi tố rút yêu cầu, Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án vẫn tiếp tục tiến hành tố tụng đối với vụ án.
  • Các trường hợp không khởi tố vụ án hình sự (Điều 157, Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2021);
  • Tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội (Điều 16, Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung 2017) ;
  • Có căn cứ miễn trách nhiệm hình sự (Điều 29, Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung 2017);
  • Nguyên tắc xử lý đối với người dưới 18 tuổi phạm tội (Khoản 2, Điều 91, Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung 2017);
  • Đã hết thời hạn điều tra vụ án mà không chứng minh được bị can đã thực hiện tội phạm.
Căn cứ vào Khoản 1, Điều 229, Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2021 cơ quan điều tra ra quyết định tạm đình chỉ vụ án khi có một trong những căn cứ sau đây:
  • Khi chưa xác định được bị can hoặc không biết rõ bị can đang ở đâu nhưng đã hết thời hạn điều tra vụ án.
  • Có kết luận giám định tư pháp xác định bị can bị bệnh tâm thần hoặc bệnh hiểm nghèo thì có thể tạm đình chỉ điều tra trước khi hết thời hạn điều tra;
  • Khi trưng cầu giám định, yêu cầu định giá tài sản, yêu cầu nước ngoài tương trợ tư pháp chưa có kết quả nhưng đã hết thời hạn điều tra. Trong trường hợp này, việc giám định, định giá tài sản, tương trợ tư pháp vẫn tiếp tục được tiến hành cho đến khi có kết quả.
Chủ thể có thẩm quyền ra quyết định Căn cứ Khoản 1, Điều 229 và Khoản 1, Điều 230, Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2021 theo đó cả hai quyết định này đều do cơ quan điều tra ra quyết định và gửi cho Viện kiểm sát.
Đối với quyết định tạm đình chỉ điều tra vụ án thì ngoài gửi cho Viện kiểm sát, cơ quan điều tra còn gửi cho bị can, người bào chữa hoặc người đại diện của bị can; thông báo cho bị hại, đương sự và người bảo vệ quyền lợi của họ trong thời hạn 02 ngày kể từ ngày ra quyết định (Khoản 3, Điều 229, Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2021).
Hậu quả pháp lý khi áp dụng Tạm đình chỉ điều tra, đình chỉ điều tra vụ án hình sự sẽ làm tạm thời ngừng, ngừng quá trình điều tra vụ án hình sự lại, cho đến khi có lý do để hủy bỏ quyết định tạm đình chỉ điều tra và cơ quan điều tra ra quyết định phục hồi điều tra.
Thời hạn chấm dứt tạm đình chỉ điều tra, đình chỉ điều tra Căn cứ Khoản 1, Điều 235, Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2021 khi có lý do để hủy bỏ quyết định đình chỉ điều tra hoặc quyết định tạm đình chỉ điều tra thì Cơ quan điều tra ra quyết định phục hồi điều tra, nếu chưa hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự.

Nếu việc điều tra bị đình chỉ theo quy định tại khoản 5 và khoản 6 Điều 157 của Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2021 mà bị can không đồng ý và yêu cầu điều tra lại thì Cơ quan điều tra hoặc Viện kiểm sát cùng cấp ra quyết định phục hồi điều tra.

Quy định về đình chỉ điều tra và tạm đình chỉ điều tra
Quy định về đình chỉ điều tra và tạm đình chỉ điều tra

3. Thời hiệu đối với các vụ án tạm đình chỉ để là căn cứ đình chỉ

Căn cứ Điều 27, Bộ luật Hình sự 2015 sửa đổi, bổ sung 2017 quy định thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự bao gồm:

  • 05 năm đối với tội phạm ít nghiêm trọng;
  • 10 năm đối với tội phạm nghiêm trọng;
  • 15 năm đối với tội phạm rất nghiêm trọng;
  • 20 năm đối với tội phạm đặc biệt nghiêm trọng.

Mặt khác, Khoản 3, Điều 27, Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 quy định nếu trong thời hạn truy cứu trách nhiệm hình sự, người phạm tội cố tình trốn tránh và đã có quyết định truy nã, thì thời hiệu tính lại kể từ khi người đó ra đầu thú hoặc bị bắt giữ.

Theo điểm a, Khoản 1, Điều 229, Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2021 thì trường hợp không biết rõ bị can đang ở đâu, Cơ quan điều tra phải ra quyết định truy nã trước khi tạm đình chỉ điều tra. Như vậy lúc này vụ án đã bị tạm đình chỉ điều tra.

Vụ án tạm đình chỉ điều tra mà hết thời hạn truy cứu trách nhiệm hình sự được quy định trên sẽ tiến hành đình chỉ điều tra vụ án hình sự.


4. Thủ tục tạm đình chỉ điều tra

Thẩm quyền ra quyết định tạm đình chỉ điều tra vụ án hình sự là cơ quan điều tra đang thụ lý, điều tra vụ án hình sự đó.

Trình tự ra quyết định tạm đình chỉ điều tra bao gồm:

Bước 1: Rà soát, kiểm tra lại căn cứ tạm chỉ điều tra

Khi có căn cứ tạm đình chỉ điều tra theo quy định, Điều tra viên và Kiểm sát viên phối hợp rà soát các tài liệu, chứng cứ nhằm bảo đảm việc ra quyết định tạm đình chỉ điều tra có căn cứ hợp pháp.

Bước 2: Xử lý các vấn đề liên quan đến bị can(nếu có) theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự và các quy định khác của pháp luật có liên quan trước khi ra quyết định tạm đình chỉ điều tra vụ án đối với bị can hoặc tạm đình chỉ điều tra đối với bị can.

Trách nhiệm thực hiện: Cơ quan điều tra đang thụ lý, điều tra vụ án.

Bước 3: Cơ quan điều tra ra quyết định tạm đình chỉ điều tra và mở sổ theo dõi và quản lý các vụ án, bị can tạm đình chỉ điều tra.

Riêng đối với trường hợp tạm đình chỉ điều tra theo căn cứ quy định tại điểm b Khoản 1 Điều 229 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2021, thời điểm để Cơ quan điều tra ra quyết định tạm đình chỉ khi Viện kiểm sát quyết định áp dụng biện pháp bắt buộc chữa bệnh tâm thần hoặc khi cơ quan có thẩm quyền kết luận tình trạng bệnh hiểm nghèo của bị can.

Trường hợp ra quyết định đình chỉ điều tra đối với từng bị can trong vụ án có nhiều bị can mà lý do tạm đình chỉ điều tra không liên quan đến tất cả bị can được thực hiện như sau:

  • Cơ quan điều tra ra quyết định tạm đình chỉ điều tra vụ án hình sự đối với bị can và quyết định tạm đình chỉ điều tra bị can;
  • Sau đó lập hồ sơ tạm đình chỉ điều tra đối với từng bị can; hồ sơ gồm các quyết định tố tụng, tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án có liên quan đến bị can tạm đình chỉ. Quyết định tố tụng, tài liệu, chứng cứ phải là bản gốc hoặc bản sao y bản chính. Việc sao y thực hiện theo quy định của các bộ, ngành có liên quan.

Bước 4: Gửi, thông báo quyết định tạm đình chỉ điều tra

Trong thời hạn 02 ngày kể từ ngày ra quyết định tạm đình chỉ điều tra, Cơ quan điều tra phải gửi quyết định tạm đình chỉ điều tra cho Viện kiểm sát cùng cấp, bị can, người bào chữa hoặc người đại diện của bị can; thông báo cho bị hại, đương sự và người bảo vệ quyền lợi của họ.


5. Thủ tục ra quyết định đình chỉ điều tra

Thẩm quyền ra quyết định đình chỉ điều tra vụ án hình sự là Thủ trưởng hoặc Phó Thủ trưởng Cơ quan điều tra.

Thủ tục ra quyết định đình chỉ điều tra bao gồm:

Bước 1: Rà soát, kiểm tra lại căn cứ tạm chỉ điều tra

Khi có căn cứ đình chỉ điều tra theo quy định, Điều tra viên và Kiểm sát viên phối hợp rà soát các tài liệu, chứng cứ nhằm bảo đảm việc ra quyết định tạm đình chỉ điều tra có căn cứ hợp pháp. Sau đó báo cáo với Thủ trưởng Cơ quan điều tra.

Nếu không có căn cứ thì tiếp tục điều tra. Nếu có căn cứ đình chỉ thì thực hiện các bước tiếp theo.

Bước 2: Ra quyết định đình chỉ điều tra

Thủ trưởng Cơ quan điều tra ra quyết định điều tra và thực hiện các trách nhiệm sau: hủy bỏ biện pháp ngăn chặn, biện pháp cưỡng chế, trả lại tài liệu, đồ vật đã tạm giữ (nếu có), xử lý vật chứng, những vấn đề khác có liên quan.

Bước 3: Thông báo, gửi cho Viện kiểm sát theo quy định.

Đối với biện pháp ngăn chặn, biện pháp cưỡng chế do Viện kiểm sát phê chuẩn, Cơ quan điều tra phải có văn bản thông báo để Viện kiểm sát quyết định việc hủy bỏ.


6. Cơ sở pháp lý

  • Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2021.

Trên đây là bài tư vấn của chúng tôi về đình chỉ điều tra và tạm đình chỉ điều tra. Qua bài viết này, chúng tôi mong rằng sẽ giúp các bạn hiểu rõ hơn về vấn đề này.

Để được tư vấn đầy đủ và chính xác nhất, mời quý khách hàng liên hệ tới Tổng đài tư vấn Luật hình sự trực tuyến qua HOTLINE 19006588 của Luật Quang Huy để nhận tư vấn thêm về vấn đề mà quý khách hàng đang gặp phải.

Trân trọng./.

5/5 - (1 bình chọn)
Tác giả bài viết
phone-call

GỌI ĐỂ TƯ VẤN MIỄN PHÍ

Scroll to Top