Thuế bảo vệ môi trường là gì?

Thuế bảo vệ môi trường

Thuế bảo vệ môi trường là một trong những loại thuế phổ biến. Tuy nhiên, việc hiểu rõ đối tượng hay người nào phải nộp loại thuế này? Cách tính thuế bảo vệ môi trường ra sao vẫn đang là những khó khăn lớn. Bài viết sau đây của Luật Quang Huy sẽ giúp bạn đọc giải đáp các thắc mắc trên.


1. Thuế bảo vệ môi trường là gì?

Theo nghĩa hẹp, bảo vệ môi trường là một phần trong các biện pháp để đảm bảo tính bền vững và phát triển bền vững. Luật Thuế bảo vệ môi trường ra đời khá muộn hơn so với các Luật thuế khác cho nên trước đây pháp luật về bảo vệ môi trường chỉ được lồng ghép trong các sắc thuế khác.

Từ 15/11/2010, Luật Thuế bảo vệ môi trường chính thức được ban hành và có hiệu lực từ ngày 01/01/2012 quy định về đối tượng chịu thuế, đối tượng không chịu thuế, người nộp thuế, căn cứ tính thuế, khai thuế, tính thuế, nộp thuế và hoàn thuế bảo vệ môi trường.

Theo Khoản 1 Điều 2 Luật Thuế bảo vệ môi trường năm 2010, ta có thể hiểu thuế này là loại thuế gián thu, thu vào sản phẩm, hàng hóa (sau đây gọi chung là hàng hóa) khi sử dụng gây tác động xấu đến môi trường.

Theo đó, bất kể hàng hóa nào có nguy cơ gây hại đến môi trường khi sử dụng đều có thể bị tính thuế bảo vệ môi trường. Ví dụ như xăng, dầu khi sử dụng vận hành động cơ sẽ tạo khói gây ô nhiễm môi trường, hay túi nilon khó phân hủy sẽ làm xói mòn đất, ngăn cản oxy đi qua đất ảnh hưởng đến sinh trưởng của cây trồng, gây tắc nghẽn kênh mương, ứ đọng nước thải khi bị vứt xuống nước.


2. Đặc điểm của thuế bảo vệ môi trường là gì?

Từ khái niệm trên ta có thể thấy các đặc điểm sau ở thuế bảo vệ môi trường:

Thứ nhất, thuế bảo vệ môi trường là loại thuế gián thu giống như một số loại thuế tiêu dùng khác như thuế giá trị gia tăng, thuế tiêu thụ đặc biệt.

Bởi vì người tiêu dùng sản phẩm cuối cùng là người gánh chịu số tiền thuế được xác định trong số tiền thanh toán.

Thứ hai, mục đích định hướng tiêu dùng được thể hiện khá rõ ràng ở thuế bảo vệ môi trường. Các mặt hàng thuộc diện chịu thuế bảo vệ môi trường đều có tác động xấu đến môi trường khi sử dụng chúng.

Việc giảm thiểu việc sử dụng các hàng hoá gây tổn hại môi trường bằng việc làm tăng giá thanh toán đối với hàng hoá đó, tạo điều kiện để người tiêu dùng chuyển thói quen sang sử dụng hàng hoá thân thiện với môi trường là điều cần thiết.

Cũng chính từ yếu tố “hạn chế tiêu dùng” nêu trên nên luật pháp cũng định rõ (liệt kê) các hàng hoá nằm trong diện chịu thuế của loại thuế này.

Thứ ba, thuế bảo vệ môi trường chia sẻ mục tiêu bảo vệ môi trường thông qua thuế của một số loại thuế tiêu dùng khác.

Thay bằng việc thay đổi mức thuế suất hoặc mở rộng diện chịu thuế đối với thuế giá trị gia tăng thuế tiêu thụ đặc biệt, thuế nhập khẩu, thì việc đánh thuế bảo vệ môi trường không chỉ tạo nguồn thu cho ngân sách Nhà nước (trong đó có sử dụng cho việc tái tạo môi trường) mà còn chia sẻ mục tiêu cho các loại thuế khác.

Thứ tư, thuế bảo vệ môi trường chỉ nộp một lần đối với hàng hoá sản xuất hoặc nhập khẩu.


3. Vai trò của thuế bảo vệ môi trường

Thứ nhất, tăng cường trách nhiệm và nâng cao nhận thức của tổ chức, cá nhân đối với môi trường.

Cơ sở kinh tế ban hành thuế bảo vệ môi trường là sự cần thiết khách quan của việc đưa chi phí “gây ô nhiễm môi trường” (các yếu tố ngoại ứng) và giá bán của hàng hóa. Trước đây khi chưa có thuế bảo vệ môi trường, chi phí này không được tính trong gia hàng hóa. Thuế bảo vệ môi trường sẽ giúp thực hiện nguyên tắc “người gây ô nhiễm phải chi trả”. Buộc các chủ thể gây ô nhiễm và các liên đới phải chịu trách nhiệm về chi phí do hoạt động gây ô nhiễm của họ bằng cách đưa chi phí ngoại ứng vào giá.

Thuế bảo vệ môi trường sẽ đưa chi phí ngoại ứng vào giá “nội hóa các chi phí ngoại ứng”, nhờ đó chi phí xã hội và chi phí cá nhân của các nhà sản xuất tiến gần nhau hơn. Các mức giá trở lên chính xác hơn, do đã bao gồm đầy đủ các yếu tố cần thiết. Từ đó, tạo cơ hội thúc đẩy các hoạt động có hiệu quả hơn đối với các khu vực thị trường, giao thông hoặc năng lượng. Nội hóa các chi phí ngoại ứng cũng sẽ dẫn đến phân bổ lại nguồn lực của nền kinh tế theo hướng tạo ra các “mức giá công bằng và hiệu quả hơn” do phân phối lại chi phí.

Thuế bảo vệ môi trường còn góp phần thực hiện các mục tiêu khác về môi trường như khuyến khích các hành vi “sạch hơn”, khuyến khích thực hiện các cuộc “cách mạng” thân thiện với môi trường và góp phần tăng thu ngân sách.

Thứ hai, khuyến khích sản xuất, tiêu dùng hàng hóa thân thiện với môi trường hơn

Thuế bảo vệ môi trường làm tăng giá sản phẩm, hàng hóa. Từ đó có thể sử dụng thuế để kích thích và điều chỉnh sản xuất và tiêu dùng theo hướng bảo vệ môi trường. Đối với cả người tiêu dùng (muốn mua với giá thấp hơn) và nhà sản xuất (bán được nhiều sản phẩm hơn, lợi nhuận cao hơn) thì thuế bảo vệ môi trường sẽ có tác dụng khuyến khích, điều chỉnh định hướng sản xuất và tiêu dùng theo hướng thân thiện với môi trường hơn.

Tuy nhiên, giá cả chỉ là một trong nhiều yếu tố tác động đến hành vi của nền kinh tế. Thành công của thuế bảo vệ môi trường trong việc điều chỉnh hành vi kinh tế còn phụ thuộc vào từng thị trường cụ thể, đối với từng đối tượng đánh thuế. Nếu không có biện pháp hữu ích nào khả dĩ có thể giúp giảm lượng tiêu thụ năng lượng hóa thạch để thay thế, thì việc áp dụng biện pháp tăng giá năng lượng thông qua thuế bảo vệ môi trường sẽ đem lại hiệu quả rất ít nếu không muốn nói là không đem lại kết quả gì trong nỗ lực thay đổi hành vi tiêu dùng năng lượng hóa thạch của các tác nhân trong nền kinh tế.

Tương tự, nếu không kết hợp việc tạo ra các sản phẩm đủ sức cạnh tranh, thay thế, tin cậy và an toàn khác (như giao thông công cộng, xe đạp…), nếu chỉ áp dụng riêng lẻ thuế bảo vệ môi trường làm tăng giá xăng dầu thì hiệu quả điều chỉnh hành vi sử dụng ô tô xe máy là rất thấp. Sự thất bại trong nỗ lực thay đổi hành vi do tiến hành thay đổi giá trong các trường hợp “cầu không co dãn” là rất rõ. Không thể quá hy vọng sử dụng công cụ thuế trong trường hợp này.

Trong các trường hợp như vậy, hoặc phải áp dụng thuế rất cao, hoặc phải sử dụng các biện pháp khác như hỗ trợ sử dụng hiệu quả năng lượng, nâng cao chất lượng, tiện nghi, đa dạng hóa giao thông công cộng thì mới có thể làm thay đổi hành vi của người tiêu dùng. Vai trò của Nhà nước là rất rõ nét và quan trọng. Điều này giải thích tại sao thuế bảo vệ môi trường sẽ phát huy hiệu quả nhất khi chính sách thuế đồng bộ trong các chính sách khác chống ô nhiễm, bảo vệ môi trường.

Giảm ô nhiễm môi trường là mục đích chính của những nỗ lực làm thay đổi hành vi. Thuế là công cụ đem lại hiệu quả nhất về chi phí trong việc giảm ô nhiễm môi trường so với việc ban hành các quy định hành chính khác. Nghĩa vụ đóng thuế tạo động cơ thúc đẩy người gây ô nhiễm tìm phương pháp giảm ô nhiễm mới. Đây là ưu điểm của thuế và là một trong những lý do khiến công cụ thuế cho phép giảm chi phí quản lý ô nhiễm, khuyến khích các cuộc cách mạng về bảo vệ môi trường.

Thứ ba, thúc đẩy cải cách đổi mới công nghệ

Nếu đánh thuế bảo vệ môi trường mà giá nhiên liệu tăng thì điều này sẽ thúc đẩy việc nghiên cứu tìm ra các nguồn năng lượng mới nhằm đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng của con người. Điều đó có thể dẫn tới việc ra đời của các công nghệ, chu trình và sản phẩm mới.

Rõ ràng thuế bảo vệ môi trường có thể giúp chuyển dịch nền kinh tế theo hướng sử dụng có hiệu quả đối với các loại năng lượng và nguồn lực bằng việc tăng giá sản phẩm tự nhiên. Thuế bảo vệ môi trường có tác động làm thay đổi cả quy mô và cơ cấu của sản xuất và tiêu dùng. Đặc biệt, khi các dấu hiệu về giá được dự báo dần dần vượt qua mức giá dự kiến trong kế hoạch dài hạn của nền công nghiệp.

Thứ tư, tác động về mặt xã hội

Thu thuế bảo vệ môi trường sẽ góp phần nâng cao nhận thức của tổ chức, cá nhân đối với môi trường. Thuế bảo vệ môi trường góp phần hạn chế sản xuất và tiêu dùng các sản phẩm gây ô nhiễm; khuyến khích người tiêu dùng sử dụng sản phẩm thay thế hoặc hạn chế tiêu dùng sản phẩm (xăng, dầu, than…). Từ đó, tiết kiệm cá nhân, tiết kiệm xã hội, giảm ô nhiễm môi trường, giảm chi phí xử lý ô nhiễm. Nâng cao ý thức bảo vệ môi trường trong đầu tư, sản xuất và tiêu dùng của các cá nhân, tổ chức; khuyến khích sử dụng năng lượng tiết kiệm, hiệu quả, giảm bớt các tác động tiêu cực của sản xuất, tiêu dùng đến môi trường, giảm thiểu ô nhiễm và suy thoái môi trường.

Thứ năm, tác động về mặt môi trường

Thuế bảo vệ môi trường góp phần hạn chế sản xuất và tiêu dùng các sản phẩm gây ô nhiễm của các tổ chức, cá nhân; khuyến khích sử dụng năng lượng tiết kiệm, hiệu quả, giảm bớt các tác động tiêu cực đến môi trường (khí Cacbon, lưu huỳnh thải ra khi sử dụng xăng, dầu, than, HCFC ảnh hưởng tới môi trường không khí và tầng ôzôn, tăng hiệu ứng nhà kính, biến đổi khí hậu, gây hiệu quả nghiêm trọng đối với con người và thiên nhiên cũng như tổn thất về kinh tế). Từ đó, hướng tới nền kinh tế phát triển bền vững, phát triển kinh tế gắn với bảo vệ môi trường.

Thứ sáu, tăng nguồn vốn đầu tư cải tạo môi trường

Với khung thuế quy định tại Luật, số thu thuế bảo vệ môi trường thu sẽ tăng. Đây là nguồn thu đáng kể, nhằm đầu tư cải tạo môi trường.

Luật thuế bảo vệ môi trường là công cụ quan trọng, cùng với hệ thống các công cụ khác: Giáo dục, đầu tư, hành chính… nhằm thực hiện được các mục tiêu bảo vệ môi trường tại Việt Nam.

Tóm lại, Bảo vệ môi trường là mục tiêu to lớn, cơ bản và lâu dài của mọi quốc gia. Để bảo vệ môi trường có thể sử dụng các chính sách, công cụ khác nhau, trong đó, chính sách thuế được coi là một chính sách kinh tế rất quan trọng điều chỉnh các chủ thể trong nền kinh tế, xã hội, các hoạt động trong lĩnh vực môi trường, từ đó, có tác động trực tiếp đến bảo vệ môi trường của một quốc gia.

Chính sách thuế bảo vệ môi trường là công cụ hữu hiệu để ngăn chặn các tác nhân gây ô nhiễm môi trường, điều hòa các quan hệ lợi ích giữa xã hội và doanh nghiệp, từ đó, làm lành mạnh các quan hệ xã hội, khuyến khích ý thức tiết kiệm, giảm bớt sự lãng phí trong quá trình khai thác, sử dụng các nguồn tài nguyên thiên nhiên và tăng cường các biện pháp bảo vệ môi trường.


4. Đối tượng chịu thuế bảo vệ môi trường

Nhóm 1: Xăng, dầu, mỡ nhờn, bao gồm:

  • Xăng, trừ etanol;
  • Nhiên liệu bay;
  • Dầu diezel
  • Dầu hỏa
  • Dầu mazut;
  • Dầu nhờn,
  • Mỡ nhờn.

Nhóm 2: Than đá, bao gồm:

  • Than nâu;
  • Than an-tra-xít (antraxit);
  • Than mỡ;
  • Than đá khác.

Nhóm 3: Dung dịch hydro-chloro-fluoro-carbon (Dung dịch HCFC)

Nhóm 4: Túi ni lông thuộc diện chịu thuế.

Nhóm 5: Thuốc diệt cỏ, thuốc bảo quản lâm sản, thuốc khử trùng kho, thuốc trừ mối thuộc loại hạn chế sử dụng.


5. Người nộp thuế bảo vệ môi trường bao gồm những ai?

Người nộp thuế bảo vệ môi trường là tổ chức, hộ gia đình, cá nhân sản xuất, nhập khẩu hàng hóa thuộc đối tượng chịu thuế. Theo quy định này, các tổ chức, cá nhân có hành vi sau đây sẽ trở thành người nộp thuế bảo vệ môi trường:

  • Hành vi nhập khẩu hàng hóa thuộc diện chịu thuế bảo vệ môi trường;
  • Hành vi sản xuất hàng hóa thuộc diện chịu thuế bảo vệ môi trường.
Thuế bảo vệ môi trường
Thuế bảo vệ môi trường

6. Biểu thuế bảo vệ môi trường

Ủy ban Thường vụ Quốc hội đã ban hành Nghị quyết số 1148/2020/UBTVQH14 sửa đổi, bổ sung tiểu mục 2 mục I Biểu thuế bảo vệ môi trường quy định tại khoản 1 Điều 1 Nghị quyết số 579/2018/UBTVQH14 ngày 26/9/2018 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về Biểu thuế bảo vệ môi trường đã được sửa đổi, bổ sung theo Nghị quyết số 979/2020/UBTVQH14 quy định về biểu thuế bảo vệ môi trường như sau:

TT Hàng hóa Đơn vị tính Mức thuế (đồng/đơn vị hàng hóa)
I Xăng, dầu, mỡ nhờn
1 Xăng, trừ etanol lít 4.000
2 Nhiên liệu bay lít 2.100
3 Dầu diesel lít 2.000
4 Dầu hỏa lít 1.000
5 Dầu mazut lít 2.000
6 Dầu nhờn lít 2.000
7 Mỡ nhờn kg 2.000
II Than đá
1 Than nâu tấn 15.000
2 Than an tra xít (antraxit) tấn 30.000
3 Than mỡ tấn 15.000
4 Than đá khác tấn 15.000
III Dung dịch Hydro-chloro-fluoro-carbon (HCFC), bao gồm cả dung dịch HCFC có trong hỗn hợp chứa dung dịch HCFC kg 5.000
IV Túi ni lông thuộc diện chịu thuế kg 50.000
V Thuốc diệt cỏ thuộc loại hạn chế sử dụng kg 500
VI Thuốc trừ mối thuộc loại hạn chế sử dụng kg 1.000
VII Thuốc bảo quản lâm sản thuộc loại hạn chế sử dụng kg 1.000
VIII Thuốc khử trùng kho thuộc loại hạn chế sử dụng kg 1.000

7. Cách tính thuế bảo vệ môi trường

Theo quy định của Luật Bảo vệ môi trường như sau:

Căn cứ tính thuế bảo vệ môi trường là số lượng hàng hóa tính thuế và mức thuế tuyệt đối.

Số lượng hàng hóa tính thuế được quy định như sau:

  • Đối với hàng hóa sản xuất trong nước, số lượng hàng hóa tính thuế là số lượng hàng hóa sản xuất bán ra, trao đổi, tiêu dùng nội bộ, tặng cho;
  • Đối với hàng hóa nhập khẩu, số lượng hàng hóa tính thuế là số lượng hàng hóa nhập khẩu.
Thuế bảo vệ môi trường phải nộp = Số lượng đơn vị hàng hoá tính thuế x Mức thuế tuyệt đối trên một đơn vị hàng hoá

Phương thức tính thuế bảo vệ môi trường:

Số thuế bảo vệ môi trường phải nộp bằng số lượng đơn vị hàng hóa chịu thuế nhân với mức thuế tuyệt đối quy định trên một đơn vị hàng hóa. Cụ thể như sau:

Căn cứ tính thuế bảo vệ môi trường là số lượng hàng hóa tính thuế và mức thuế tuyệt đối:

Thuế bảo vệ môi trường phải nộp = Số lượng đơn vị hàng hóa tính thuế x Mức thuế tuyệt đối trên một đơn vị hàng hóa.

Số lượng đơn vị hàng hóa tính thuế được xác định:

  • Hàng hóa sản xuất trong nước: số lượng hàng hóa tính thuế là số lượng hàng hóa sản xuất ra, trao đổi, tiêu dùng nội bộ, tặng cho, khuyến mại, quảng cáo.
  • Hàng hóa nhập khẩu: số lượng hàng hóa tính thuế là số lượng hàng hóa nhập khẩu.
  • Hàng hóa là nhiên liệu hỗn hợp chứa xăng, dầu… Số lượng hàng hóa tính thuế trong kỳ là số lượng xăng, dầu, mỡ nhờn gốc hóa thạch có trong số lượng nhiên liệu hỗn hợp nhập khẩu hoặc sản xuất bán ra, trao đổi, tặng cho, đưa vào tiêu dùng nội bộ được quy đổi ra đơn vị đo lường quy định tính thuế của hàng hóa tương ứng. Cách tính như sau:

Số lượng xăng, dầu, mỡ nhờn gốc hóa thạch tính thuế = số lượng nhiên liệu hỗn hợp nhập khẩu, sản xuất bán ra, tiêu dùng, trao đổi, tặng cho x tỷ lệ % xăng, dầu, mỡ nhờn gốc hóa thạch có trong nhiên liệu hỗn hợp.


8. Thời điểm tính thuế bảo vệ môi trường

Thời điểm tính thuế bảo vệ môi trường được quy định tại Điều 9 Luật thuế bảo vệ môi trường 2010, theo đó:

  • Đối với hàng hóa sản xuất bán ra, trao đổi, tặng cho, thời điểm tính thuế là thời điểm chuyển giao quyền sở hữu hoặc quyền sử dụng hàng hóa;
  • Đối với hàng hóa sản xuất đưa vào tiêu dùng nội bộ, thời điểm tính thuế là thời điểm đưa hàng hóa vào sử dụng;
  • Đối với hàng hóa nhập khẩu, thời điểm tính thuế là thời điểm đăng ký tờ khai hải quan;
  • Đối với xăng, dầu sản xuất hoặc nhập khẩu để bán, thời điểm tính thuế là thời điểm đầu mối kinh doanh xăng, dầu bán ra.

9. Các trường hợp hoàn thuế bảo vệ môi trường

Theo quy định tại Điều 11 Luật thuế bảo vệ môi trường 2010, Điều 8 Thông tư 152/2011/TT-BTC, những trường hợp người nộp thuế được hoàn thuế bảo vệ môi trường đã nộp bao gồm:

Một là, hàng hóa nhập khẩu còn lưu kho, lưu bãi tại cửa khẩu và đang chịu sự giám sát của cơ quan Hải quan được tái xuất khẩu ra nước ngoài.

Hai là, hàng hóa nhập khẩu để giao, bán cho nước ngoài thông qua đại lý tại Việt Nam; xăng, dầu bán cho phương tiện vận tải của hãng nước ngoài trên tuyến đường qua cảng Việt Nam hoặc phương tiện vận tải của Việt Nam trên tuyến đường vận tải quốc tế theo quy định của pháp luật.

Ba là, hàng hóa tạm nhập khẩu để tái xuất khẩu theo phương thức kinh doanh hàng tạm nhập, tái xuất được hoàn lại số thuế bảo vệ môi trường đã nộp tương ứng với số hàng tái xuất khẩu.

Bốn là, hàng nhập khẩu do người nhập khẩu tái xuất khẩu (kể cả trường hợp trả lại hàng) ra nước ngoài được hoàn lại số thuế bảo vệ môi trường đã nộp đối với số hàng tái xuất ra nước ngoài.

Năm là, hàng tạm nhập khẩu để tham gia hội chợ, triển lãm, giới thiệu sản phẩm được hoàn lại số thuế bảo vệ môi trường đã nộp tương ứng với số hàng hoá khi tái xuất khẩu ra nước ngoài.

Việc hoàn thuế bảo vệ môi trường chỉ thực hiện đối với hàng hóa thực tế xuất khẩu. Thủ tục, hồ sơ, trình tự, thẩm quyền giải quyết hoàn thuế bảo vệ môi trường đối với hàng xuất khẩu được thực hiện theo quy định như đối với việc giải quyết hoàn thuế nhập khẩu theo quy định của pháp luật về thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu.


10. Cơ sở pháp lý

  • Luật Thuế bảo vệ môi trường năm 2010;
  • Nghị quyết số 1148/2020/UBTVQH14 sửa đổi, bổ sung tiểu mục 2 mục i biểu thuế bảo vệ môi trường quy định tại khoản 1 điều 1 nghị quyết số 579/2018/UBTVQH14 ngày 26 tháng 9 năm 2018 của ủy ban thường vụ quốc hội về biểu thuế bảo vệ môi trường đã được sửa đổi, bổ sung theo nghị quyết số 979/2020/UBTVQH14;
  • Nghị quyết số 579/2018/UBTVQH14 về biểu thuế bảo vệ môi trường;
  • Nghị quyết số 979/2020/UBTVQH14 sửa đổi, bổ sung tiểu mục 2 mục i biểu thuế bảo vệ môi trường quy định tại khoản 1 điều 1 nghị quyết số 579/2018/UBTVQH14 ngày 26 tháng 9 năm 2018 của ủy ban thường vụ quốc hội về biểu thuế bảo vệ môi trường.

Trên đây là bài tư vấn của chúng tôi về vấn đề thuế bảo vệ môi trường theo quy định pháp luật hiện hành.

Để được tư vấn đầy đủ và chính xác nhất, mời quý khách hàng liên hệ qua Tổng đài tư vấn luật thuế bảo vệ môi trường trực tuyến của HOTLINE 19006588 của Luật Quang Huy để nhận tư vấn thêm về vấn đề mà quý khách hàng đang gặp phải.

Trân trọng./.

5/5 - (1 bình chọn)

TÁC GIẢ BÀI VIẾT

Luật sư Nguyễn Văn Tình
Luật sư Nguyễn Văn Tình
Có nhiều kinh nghiệm hỗ trợ và tranh tụng trong các lĩnh vực dân sự, hôn nhân và gia đình, hình sự, đất đai, hành chính,...
Theo dõi
Thông báo của
guest
0 Góp ý
Phản hồi nội tuyến
Xem tất cả bình luận
phone-call

GỌI HOTLINE 1900.6588

Scroll to Top
Mục lục