Trang chủ » Tư vấn pháp luật » Luật Hình sự » Thế nào là chứng cứ trong tố tụng hình sự?

Thế nào là chứng cứ trong tố tụng hình sự?

Chứng cứ là gì? Phân loại chứng cứ
Nếu bạn có nhu cầu được tư vấn, hỗ trợ về luật hình sự, hãy liên hệ ngay cho luật sư qua hotline cá nhân 0886.886.246Luật sư can thiệp càng sớm, cơ hội bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp càng cao!

Không phải tất cả các chứng cứ thu thập được trong vụ án đều phục vụ cho mục đích chứng minh mà chúng phải thỏa mãn một số thuộc tính bắt buộc và được thu thập theo trình tự luật định. Để hiểu rõ hơn về vấn đề này mời bạn theo dõi bài viết dưới đây của Luật Quang Huy.


1. Khái niệm chứng cứ là gì?

Chứng cứ được người làm luật xác định cụ thể tại Điều 86, Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2021 như sau:

Chứng cứ là những gì có thật được xác định bằng các nguồn nhất định và được thu thập theo trình tự, thủ tục do pháp luật tố tụng hình sự quy định mà chủ thể chứng minh dùng làm căn cứ để xác định có hay không có hành vi phạm tội, người thực hiện hành vi phạm tội và các tình tiết khác có ý nghĩa trong việc giải quyết vụ án.

Đồng thời tại khoản 1, Điều 87 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2021 cũng quy định các nguồn chứng cứ là vật chứng; lời khai, lời trình bày; dữ liệu điện tử; kết luận giám định, định giá tài sản; biên bản trong hoạt động khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án; kết quả thực hiện uỷ thác tư pháp và hợp tác quốc tế; các tài liệu, đồ vật khác.

Như vậy, chứng cứ là những thông tin có ý nghĩa đối với việc giải quyết vụ án được chứa đựng trong các nguồn khác nhau. Vì vậy, cần phân biệt chứng cứ với nguồn chứng cứ. Chứng cứ là các thông tin được chứa đựng trong các nguồn chứng cứ, do vậy, các nguồn không phải là chứng cứ.


2. Các thuộc tính của chứng cứ trong tố tụng hình sự

Các thuộc tính của chứng cứ trong tố tụng hình sự bao gồm tính khách quan, tính liên quan và tính hợp pháp:

2.1. Tính khách quan của chứng cứ

Tính khách quan là một trong những thuộc tính quan trọng của chứng cứ. Theo định nghĩa thì chứng cứ là những gì có thật. Điều đó có nghĩa rằng chứng cứ là những thông tin, tài liệu, đồ vật khách quan, tồn tại độc lập không phụ thuộc vào ý thức chủ quan của con người.

Các thông tin, tài liệu, đồ vật đó phù hợp với các tình tiết của vụ án đang được chứng minh. Trong Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2021 tại khoản 1, Điều 108 quy định  tính khách quan của chứng cứ được gọi là tính xác thực của chứng cứ.

Tuy nhiên, chứng cứ trong lời khai của người tham gia tố tụng là những thông tin về tội phạm được phản ánh khách quan trong ý thức người chứng kiến sự việc phạm tội đó. Vì vậy, về bản chất các thông tin được khai báo là khách quan.

Tuy nhiên, do tác động của các yếu tố khác nhau (như khả năng tiếp nhận thông tin, quan hệ với người phạm tội, người bị hại…) mà thông tin đó được tiếp nhận hoặc cung cấp sai lệch. Nhiệm vụ của cơ quan tiến hành tố tụng là kiểm tra xem các thông tin đó có khách quan hay không.

Các thông tin mà Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án hay người có thẩm quyền khác nhận được mà không khách quan thì dù bất kỳ lý do gì đều không được coi là chứng cứ.

Những thông tin, tài liệu, đồ vật dù tồn tại trên thực tế nhưng bị xuyên tạc, bóp méo hay bị làm giả theo ý chí chủ quan thì không còn mang tính khách quan. Vì vậy, những thông tin, tài liệu, đồ vật đỏ không thể là chứng cứ của vụ án được.

Trong thực tiễn điều tra, truy tố, xét xử, việc xác định đúng đắn tính khách quan của chứng cứ có ý nghĩa rất quan trọng trong chứng minh tội phạm.

Việc sử dụng các thông tin, tài liệu bị bóp méo, bị xuyên tạc, bị làm giả để chứng minh cũng như kiểm tra, đánh giá chứng cứ phụ thuộc vào suy luận chủ quan của nguồn chứng cứ (suy luận chủ quan của người cung cấp lời khai, người báo cáo…) sẽ làm cho việc chứng minh thiếu chính xác, sự thật khách quan không được xác định. Khi đó vụ án sẽ bị giải quyết sai lệch.

2.2. Tính liên quan của chứng cứ

Chứng cứ là những thông tin, tài liệu, đồ vật mà cơ quan, người có thẩm quyền dùng làm căn cứ để xác định có hay không có hành vi phạm tội, người thực hiện hành vi phạm tội và các tình tiết khác có ý nghĩa trong việc giải quyết vụ án.

Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử một vụ án hình sự, thông thường nhiều thông tin, tài liệu được thu thập. Tuy nhiên, không phải tất các thông tin, tài liệu thu thập được đều là chứng cứ mà chỉ các thông tin, tài liệu liên quan đến vụ án, tức dùng làm căn cứ để giải quyết vụ án mới là chứng cứ.

Tính liên quan của chứng cứ thể hiện ở mối liên hệ khách quan của các thông tin, tài liệu với các tình tiết của vụ án cần được xác định. Mối quan hệ này thể hiện ở hai mức độ khác nhau:

  • Ở mức độ thứ nhất, mối quan hệ của chứng cứ với đối tượng chứng minh. Đây là mối quan hệ cơ bản, chủ yếu. Trong mối quan hệ này, chứng cứ được dùng làm căn cứ để giải quyết thực chất vụ án, tức xác định hành vi phạm tội, người phạm tội, lỗi của người phạm tội, các tình tiết khác có ý nghĩa đối với việc quyết định hình phạt, các biện pháp tư pháp…;
  • Ở mức độ thứ hai, có những thông tin, tài liệu, đồ vật không được dùng làm căn cứ trực tiếp để giải quyết thực chất vụ án nhưng lại được dùng để xác định các tình tiết khác có ý nghĩa đối với vụ án. Trong trường hợp này tính liên quan của chúng được thể hiện một cách gián tiếp. Mặc dù là quan hệ gián tiếp nhưng trong nhiều trường hợp việc chứng minh tội phạm không thể thiếu được các thông tin, tài liệu, đồ vật này.

Ví dụ: Lời khai của người làm chứng rằng vào thời điểm tội phạm xảy ra, người bị tạm giữ có mặt tại nơi xảy ra tội phạm. Mặc dù người làm chứng không thấy được việc người bị tạm giữ có thực hiện hành vi phạm tội hay không nhưng lời khai đó của họ cũng giúp cho cơ quan điều tra trong việc xác lập phương án điều tra, lời khai đó cũng có thể dùng để bác bỏ lời khai của người bị tạm giữ về tình trạng ngoại phạm của mình.

Để coi một thông tin, tài liệu, đồ vật có phải là chứng cứ hay không, Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án phải xác định được tính liên quan của thông tin, tài liệu, đồ vật đó ở cả hai mức độ.

Nếu thông tin, tài liệu, đồ vật không có ý nghĩa trong giải quyết vụ án thì chúng thiếu tính liên quan, vì vậy không phải là chứng cứ.

2.3. Tính hợp pháp của chứng cứ

Tính hợp pháp của chứng cứ là sự phù hợp của nó với các quy định của pháp luật tố tụng hình sự. Tính hợp pháp của chứng cứ thể hiện trong các mặt sau đây:

  • Chứng cứ được xác định bằng nguồn nhất định theo quy định của pháp luật. Những thông tin, tài liệu, đồ vật tuy tồn tại trong thực tế và có liên quan đến vụ án nhưng không được lưu giữ trong nguồn mà pháp luật quy định thì không được coi là chứng cứ.
  • Theo khoản 1 Điều 87 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2021 thì chứng cứ phải được xác định bằng một trong các nguồn:
  • Vật chứng;
  • Lời khai, lời trình bày;
  • Dữ liệu điện tử;
  • Kết luận giám định, định giá tài sản;
  • Biên bản trong hoạt động khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án;
  • Kết quả thực hiện uỷ thác tư pháp và hợp tác quốc tế khác;
  • Các tài liệu, đồ vật khác.

Chứng cứ của vụ án có thể được xác định bằng một hay nhiều nguồn khác nhau mà Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2021 quy định.

Tính hợp pháp của chứng cứ đòi hỏi không chỉ ở việc chửng cứ phải được lưu giữ trong nguồn nhất định mà còn đòi hỏi mỗi loại chứng cứ phải được xác định bằng nguồn tương ứng.

Ví dụ: Lời khai của người tham gia tố tụng được thể hiện trong các bản tự khai, biên bản lấy lời khai, biên bản hỏi cung hoặc biên bản phiên tòa. Mặc dù Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2021 có quy định khi hỏi cung bị can, lấy lời khai, đối chất bắt buộc hoặc có thể ghi âm, ghi hình có âm nhưng điều đó chủ yếu là để giám sát hoạt động tố tụng. Các bản ghi âm, ghi hình có được coi là biên bản (tức nguồn chứng cứ) hay không đang được bàn luận tiếp.

Tính hợp pháp đòi hỏi chứng cứ phải được thu thập theo trình tự, thủ tục do Bộ luật tố tụng hình sự quy định. Theo khoản 2 Điều 87 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2021: Những gì có thật nhưng không được thu thập theo trình tự, thủ tục do Bộ luật này quy định thì không có giá trị pháp lý và không được dùng làm căn cứ để giải quyết vụ án hình sự.

Tùy theo đặc điểm, tính chất của từng loại chứng cứ mà Bộ luật tố tụng hình sự quy định các trình tự, thủ tục thu thập khác nhau nhằm đảm bảo tính khách quan và giá trị chứng minh của chứng cứ trong tất cả các giai đoạn tố tụng.

Cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng thu thập chứng cứ bằng cách lấy lời khai, trưng cầu giám định, tiến hành khám xét, khám nghiệm và các hoạt động điều tra khác theo quy định của pháp luật (Điều 88 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2021).

Lời khai của người làm chứng, người bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án chỉ được dùng làm chứng nếu họ nói rõ vì sao biết được tình tiết mà họ trình bày (theo quy định tại Điều 91, 92, 93, 94 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2021).

Vật chứng phải được thu thập kịp thời, đầy đủ, mô tả đúng thực trạng vào biên bản và đưa vào hồ sơ vụ án. Trường hợp vật chứng không thể đưa vào hồ sơ vụ án thì phải chụp ảnh, có thể ghi hình để đưa vào hồ sơ vụ án.

Vật chứng phải được niêm phong, bảo quản theo quy định của pháp luật (Điều 105 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2021); các tình tiết không được mô tả trong biên bản thu giữ vật chứng thì không phải là chứng cứ và không có giá trị chứng minh.

Ví dụ: Trong biên bản thu giữ vật chứng là cái áo của người phạm tội có miêu tả rằng áo thiếu một cúc và các cúc áo còn lại giống cúc áo thu giữ được tại hiện trường vụ án giết người và không miêu tả gì thêm. Tuy nhiên, sau đó cơ quan giám định lại phát hiện trên ống tay áo có vết máu thì kết luận giám định về vết máu đó không phải là chứng cứ vì vết máu không được mô tả trong biên bản khi thu giữ chiếc áo.

Các hoạt động điều tra để thu thập chứng cứ như khám xét người (Điều 194 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2021), khám xét chỗ ở, nơi làm việc, địa điểm, phương tiện (Điều 195 bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2021), khám nghiệm hiện trường (Điều 201 bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2021), khám nghiệm tử thi (Điều 202 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2021), xem xét dấu vết trên thân thể (Điều 203 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2021).., phải có người chứng kiến, nếu thiếu người chứng kiến thì thông tin, tài liệu, đồ vật thu giữ được trong các hoạt động đó không được sử dụng làm chứng cứ.

Tính hợp pháp của chứng cứ đòi hỏi việc thu thập phải đúng trình tự do pháp luật quy định.

Tính khách quan, tính liên quan và tính hợp pháp là các thuộc tính cần và đủ của chứng cứ. Chúng thể hiện các mặt khác nhau của chứng cứ nhưng liên quan rất chặt chẽ với nhau để tạo thành thể thống nhất về nội dung cũng như hình thức, bảo đảm cho chứng cứ có giá trị chứng minh.

Các thuộc tính đều có ý nghĩa pháp lý như nhau, không được coi thường thuộc tính nào. Thiếu một trong các thuộc tính này thông tin, tư liệu thu thập được không thể được coi là chứng cứ.


3. Các đặc điểm của chứng cứ

Các thuộc tính của chứng cứ chính là những đặc điểm của chứng cứ, bao gồm các đặc điểm sau đây:

Tính khách quan: Chứng cứ hình thành và tồn tại một cách khách quan không phụ thuộc vào ý chí chủ quan của con người. Đương sự và các cơ quan tiến hành tố tụng không được tạo ra chứng cứ, nếu vậy tính khách quan sẽ không còn; do đó không thể coi là chứng cứ. Con người phát hiện, thu thập và tìm ra chứng cứ, con người nghiên cứu và đánh giá để sử dụng nó.

Tính liên quan:

  • Tính liên quan trong vụ việc tố tụng được hiểu là các tình tiết, sự kiện có liên quan trực tiếp hoặc gián tiếp với vụ việc mà tòa án đang giải quyết. Chứng cứ là những thông tin làm cơ sở cho việc khẳng định sự tồn tại hoặc không tồn tại của những sự kiện có ý nghĩa cho việc giải quyết vụ việc dân sự.
  • Các sự kiện, tình tiết được coi là chứng cứ khi nó chứa đựng những nội dung gắn liền với việc giải quyết vụ án. Bộ luật tố tụng dân sự và Bộ luật tố tụng hình sự có quy định cụ thể các loại nguồn của chứng cứ, tuy nhiên Tòa án chỉ chọn lọc, đánh giá những gì có thật liên quan đến vụ việc.

Tính liên quan của chứng cứ có thể là trực tiếp hoặc gián tiếp. Mối quan hệ trực tiếp là mối quan hệ dựa vào đó có thể xác định ngay các tình tiết, theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự xem đây là tình tiết, sự kiện không cần phải chứng minh. Mối liên hệ gián tiếp là mối quan hệ qua khâu trung gian mới tìm được tình tiết, sự kiện. Từ việc đánh giá rõ tình tiết liên quan, Tòa án có thể xác định đúng chứng cứ cần sử dụng để giải quyết đúng đắn sự việc dân sự hoặc hình sự mà không để xảy ra trường hợp thừa hay không đầy đủ chứng cứ.

Tính hợp pháp: Không phải bất kỳ thông tin thực tế nào liên quan đến các tình tiết sự kiện của vụ án đều có thể làm căn cứ cho Tòa án giải quyết vụ án mà chỉ có những thông tin thực tế được thu thập, kiểm tra và đánh giá theo trình tự do luật định mới được xem là hợp pháp. Mặt khác, chỉ có những thông tin thực tế thu thập từ những nguồn do luật định mới có thể được coi là chứng cứ.

Chứng cứ phải được pháp luật thừa nhận, các tình tiết, sự kiện chỉ được coi là chứng cứ khi mà pháp luật dân sự quy định nó là một trong những loại nguồn của chứng cứ. Vật chứng luôn là vật gốc có tính đặc định, liên quan đến vụ việc dân sự thì mới có giá trị pháp lý, nếu sao chép, tái hiện lại vật chứng thì không được coi là vật chứng.

Vì vậy tòa án không chỉ thu thập đúng trình tự mà còn phải bảo quản, giữ gìn, đánh giá một cách đầy đủ, toàn diện để đảm bảo tính đúng đắn hợp pháp của chứng cứ. Tính hợp pháp của chứng cứ được xác định một cách cụ thể:

  • Phải là một trong các nguồn hợp pháp mà Bộ luật Tố tụng dân sự hoặc Bộ luật tố tụng hình sự quy định;
  • Phải là phương tiện chứng minh hợp pháp mà Bộ luật tố tụng dân sự hoặc Bộ luật tố tụng hình sự quy định;
  • Phải được giao nộp trong một thời hạn hợp pháp;
  • Phải được công bố công khai theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự hoặc Bộ luật tố tụng hình sự, phải được thu thập cung cấp theo đúng pháp luật tố tụng.

4. Phân loại chứng cứ trong tố tụng hình sự

Căn cứ vào các yếu tố sau đây để phân loại chứng cứ trong tố tụng hình sự:

  • Căn cứ khi kèm theo, chứng cứ sẽ bao gồm:
  • Chứng cứ theo người gồm chứng cứ theo lời nói của con người và chứng cứ kết luận giám định(chứng cứ khách quan về mặt chuyên môn) do các chuyên gia có chuyên môn giám định.
  • Chứng cứ theo vật chiếm đa phần các loại chứng cứ có thể là con dao, di chúc.
  • Căn cứ vào mối quan hệ với đối tượng cần chứng minh, chứng cứ bao gồm:
  • Chứng cứ trực tiếp là những chứng cứ ảnh hưởng luôn, không thông qua một nguồn nào khác. Ví dụ: giấy vay nợ, hợp đồng mua bán tài sản,…
  • Chứng cứ gián tiếp là những chứng cứ cần phải thông qua một trung gian nào đó. Ví dụ: giấy đi công tác, hóa đơn chứng từ khi nghỉ, hóa đơn khi đi ăn..
  • Căn cứ vào hình thức, chứng cứ được phân thành:
  • Chứng cứ gốc là những lời khai của người biết đầu tiên; không thông qua một ai; trực tiếp mình nhìn thấy, nghe thấy.
  • Chứng cứ sao chép thuật lại là chứng cứ mà một người được kể lại từ một người khác, hay thuật lại, tường thuật lại.
Chứng cứ là gì? Phân loại chứng cứ
Chứng cứ là gì? Phân loại chứng cứ

5. Nguyên tắc sử dụng chứng cứ

Để việc sử dụng chứng cứ đạt được mục đích, chủ thể tiến hành tố tụng cần phải quán triệt và thực hiện một số vấn đề mang tính nguyên tắc trong sử dụng chứng cứ, đó là:

  • Nguyên tắc khách quan, toàn diện và đầy đủ trong tố tụng hình sự: Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng chỉ được sử dụng những chứng cứ với đầy đủ các thuộc tính bắt buộc là tính khách quan, tính liên quan và tính hợp pháp. Các tài liệu, chứng cứ thu thập được qua biện pháp điều tra, trinh sát, phải được chuyển hóa thành chứng cứ hợp pháp mới được sử dụng. Những tài liệu, chứng cứ phải được kiểm tra, xác minh đầy đủ, phải phù hợp với thực tế khách quan, đảm bảo sự tin cậy vững chắc và có đủ căn cứ mới được sử dụng. Tuyệt đối không sử dụng chứng cứ chưa qua nghiên cứu, kiểm tra, xác minh làm căn cứ, cơ sở để đưa ra những quyết định pháp lý, hoặc sử dụng vào việc kiểm tra, đánh giá các chứng cứ khác. Khi sử dụng chứng cứ không được định kiến, chủ quan, thiên lệch, coi trọng chứng cứ này mà bỏ qua chứng cứ kia, chỉ coi trọng sử dụng chứng cứ gốc, chứng cứ trực tiếp mà bỏ qua, coi nhẹ chứng cứ sao chép, chứng cứ thuật lại, chứng cứ gián tiếp, không chỉ sử dụng chứng cứ buộc tội mà sử dụng cả chứng cứ gỡ tội và ngược lại.
  • Khi sử dụng chứng cứ phải tuân theo đúng những quy định của pháp luật: Pháp luật tố tụng hình sự đã quy định thế nào là chứng cứ, cũng như quy định về nguồn chứng cứ. Do vậy, khi sử dụng những chứng cứ phải chấp hành nghiêm chỉnh theo những quy định của pháp luật tố tụng.

Chẳng hạn, khi sử dụng lời khai của bị can, bị cáo làm chứng cứ thì phải hết sức thận trọng vì lời nhận tội của bị can, bị cáo chỉ có thể được coi là chứng cứ, nếu phù hợp với các chứng cứ khác của vụ án. Không được dùng lời nhận tội của bị can, bị cáo làm chứng cứ duy nhất để kết tội (khoản 2 Điều 98 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2021).

Đối với bị can, bị cáo là người dưới 18 tuổi hoặc là người có nhược điểm về tâm thần hoặc thể chất hoặc trong những trường hợp cần thiết khác, thì việc lấy lời khai, hỏi cung những người này phải có mặt đại diện của gia đình, trừ trường hợp đại diện gia đình cố ý vắng mặt mà không có lý do chính đáng. Khi sử dụng lời khai của người làm chứng cần lưu ý:

  • Người làm chứng trình bày những gì mà họ biết nguồn tin về tội phạm, về vụ án, nhân thân của người bị buộc tội, bị hại, quan hệ giữa họ với người bị buộc tội, bị hại, người làm chứng khác và trả lời những câu hỏi đặt ra.
  • Không được dùng làm chứng cứ những tình tiết do người làm chứng trình bày nếu họ không thể nói rõ vì sao biết được tình tiết đó” (Điều 91 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2021).
  • Sử dụng chứng cứ phải đảm bảo tính kịp thời.

Sau khi phát hiện, thu thập chứng cứ, cơ quan tiến hành tố tụng cần tiến hành nghiên cứu, kiểm tra, đánh giá ngay để sử dụng nhằm đảm bảo tính nhanh chóng, kịp thời của các hoạt động tiếp theo, vừa đảm bảo thời gian đã được quy định đối với hoạt động điều tra, truy tố, xét xử, vừa đảm bảo yêu cầu của công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm, ngăn chặn tội phạm có thể xảy ra, hạn chế những thiệt hại cho xã hội, bắt giữ ngay người phạm tội không để chúng có thời gian lẩn trốn, tiêu hủy tài sản, chứng cứ tang vật, xóa hết dấu vết hoặc tiếp tục gây án.

Ngoài ra, các chứng cứ sau khi kiểm tra đánh giá, đã xác định được giá trị chứng minh của chứng cứ thì chỉ được sử dụng đúng với giá trị của nó, việc sử dụng cần căn cứ vào giới hạn, giá trị chứng minh của từng chứng cứ, không được phép phán đoán chủ quan, sử dụng gượng ép, ngoài khả năng chứng minh của từng chứng cứ. Sử dụng đúng giá trị chứng minh của chứng cứ cho phép người tiến hành tố tụng xác định đúng sự thật khách quan, không làm oan người vô tội, không bỏ lọt kẻ phạm tội.


6. Chứng cứ, nguồn chứng cứ và phương tiện chứng minh trong tố tụng dân sự

Chứng cứ, nguồn chứng cứ, phương tiện chứng minh đều đóng vai trò quan trọng trong tố tụng dân sự.

6.1. Về mối quan hệ giữa chứng cứ và nguồn chứng cứ

Chứng cứ bắt buộc phải được rút ra từ một trong những nguồn và thu thập bằng biện pháp do pháp luật quy định. Trong quá trình giải quyết vụ việc dân sự, các chủ thể chứng minh phải tuân thủ đúng các quy định của pháp luật về chứng cứ.

Đối với những thông tin không được rút ra từ các nguồn do pháp luật quy định, không được thu thập, nghiên cứu, đánh giá và sử dụng theo đúng quy định của pháp luật thì không được coi là chứng cứ, không được sử dụng để giải quyết vụ việc dân sự.

Nguồn chứng cứ là nguồn được thu nhập, cung cấp theo trình tự pháp luật quy định và được liệt kê tại Điều 82 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2021.

Nếu không có nguồn chứng cứ sẽ không có chứng cứ giải thích, làm sáng tỏ các tình tiết và diễn biến của vụ án, kéo theo hậu quả là các cơ quan tiến hành tố tụng sẽ đưa ra những kết luận không đúng, không chính xác và không đầy đủ để giải quyết vụ việc dân sự.

6.2. Về mối quan hệ giữa chứng cứ và phương tiện chứng minh

Trong thực tiễn có những tin tức, dấu viết liên quan đến các tình tiết, sự kiện của vụ việc dân sự phải được ghi lại, phản ánh lại để mọi người có thể nhận thức được. Thông qua phương tiện chứng minh, các đương sự, người đại diện hay người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự đưa ra chứng cứ để chứng minh cho yêu cầu hay sự phản đối của họ.

Trong nhiều trường hợp chứng cứ được chứa đựng trong phương tiện chứng minh; những sự kiện, tình tiết liên quan đến vụ án đã kiểm tra được tính xác thực thông qua phương tiện chứng minh thì được coi là chứng cứ và được sử dụng làm căn cứ để giải quyết vụ việc dân sự.

6.3. Về mối quan hệ giữa nguồn chứng cứ và phương tiện chứng minh

Nguồn chứng cứ và phương tiện chứng minh là hai khái niệm khác nhau tuy nhiên trên thực tế chúng thường được hiểu là một. Trong một số trường hợp các phương tiện chứng minh cũng chính là cái có thể rút ra các tin tức về vụ việc dân sự như vật chứng, tài liệu chứa đựng chứng cứ…nó cũng chính là nguồn chứng cứ.

Để phân biệt nguồn chứng cứ và phương tiện chứng minh, cần phân tích dựa trên các phương diện và những góc độ khác nhau như nơi rút ra chứng cứ hay công cụ được sử dụng để xác định các tình tiết của vụ việc dân sự.

Bản thân nguồn chứng cứ chỉ thể hiện khả năng chứa đựng chứng cứ, nếu không có sự tác động của các chủ thể nhất định thì chứng cứ tiềm ẩn trong đó không được phát hiện và như vậy, nguồn chứng cứ chưa thể sử dụng vào việc chứng minh.

Tuy nhiên, khi đã có sự xem xét, đánh giá, khai thác chứng cứ trên cơ sở nguồn chứng cứ, thì lúc này những nguồn chứng cứ đó được sử dụng như một công cụ dùng vào việc xác định những tình tiết, sự kiện của vụ việc dân sự, góp phần giải quyết vụ việc; nói cách khác, lúc này nguồn chứng cứ được nhìn nhận là phương tiện chứng minh.

Chứng cứ là những gì có thật phản ánh sự thật khách quan về vụ việc dân sự và được thu thập theo trình tự nhất định do pháp luật quy định. Chứng cứ được dùng là căn cứ để tòa án xác định yêu cầu hay phản đối yêu cầu của đương sự đúng hay không.

Tòa án thu thập các chứng cứ cần thiết từ các nguồn chứng cứ để từ đó sử dụng vào việc tìm ra sự thật vụ án và đưa ra quyết định đúng đắn để giải quyết vụ việc dân sự đó. Phương tiện chứng minh có tính chất quyết định đối với kết quả giải quyết vụ việc dân sự.

Để đảm bảo việc phải giải quyết vụ việc dân sự đúng đắn, pháp luật cần quy định những phương tiện chứng minh cụ thể mà các chủ thể chứng minh được sử dụng.


7. Cơ sở pháp lý

  • Bộ Luật tố tụng Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2021;
  • Bộ luật tố tụng Dân sự năm 2015.

Trên đây là bài tư vấn của chúng tôi về chứng cứ. Qua bài viết này, chúng tôi mong rằng sẽ giúp các bạn hiểu rõ hơn về vấn đề này.

Để được tư vấn đầy đủ và chính xác nhất, mời quý khách hàng liên hệ tới Tổng đài tư vấn Luật hình sự trực tuyến qua HOTLINE 19006588 của Luật Quang Huy để nhận tư vấn thêm về vấn đề mà quý khách hàng đang gặp phải.

Trân trọng./.

5/5 - (1 bình chọn)
phone-call

GỌI ĐỂ TƯ VẤN MIỄN PHÍ

Scroll to Top