Tổng hợp những trường hợp không được hưởng bảo hiểm thất nghiệp

Nếu có vấn đề cần giải đáp thắc mắc về bảo hiểm thất nghiệp, bạn vui lòng liên hệ ngay qua số điện thoại Tổng đài hỏi đáp bảo luật bảo hiểm thất nghiệp 19006573 để được tư vấn hỗ trợ trực tuyến. Trân trọng.

Không phải tất cả trường hợp người lao động có đóng bảo hiểm thất nghiệp sẽ được giải quyết hưởng trợ cấp thất nghiệp khi nghỉ việc. Dưới đây là những trường hợp không được hưởng bảo hiểm thất nghiệp mà người lao động cần biết.

@tuvanluatlaodongbaohiem

Gọi ngay 1900 6795 để được tư vấn về những lý do thường gặp khiến người lai động không được nhận bảo hiểm thất nghiệp #luatquanghuy #baohiemxahoi #bhxhvn #baohiem #baohiemthatnghiep #bhxhvietnam #luatlaodong

♬ nhạc nền – Tư vấn luật lao động, bảo hiểm – Tư vấn luật lao động, bảo hiểm

Điều kiện hưởng bảo hiểm thất nghiệp

Người lao động thuộc đối tượng bắt buộc tham gia bảo hiểm thất nghiệp đang đóng bảo hiểm thất nghiệp thì được hưởng trợ cấp thất nghiệp khi có đủ các điều kiện sau:

  • Chấm dứt hợp đồng lao động hoặc hợp đồng làm việc (trừ trường hợp đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động, hợp đồng làm việc trái luật; hưởng lương hưu, trợ cấp mất sức lao động hằng tháng).
  • Phải đóng bảo hiểm thất nghiệp từ đủ 12 tháng trở lên trong thời gian 24 tháng trước khi chấm dứt hợp đồng lao động đối với Hợp đồng lao động có xác định và không xác định thời hạn; đã đóng bảo hiểm thất nghiệp từ đủ 12 tháng trở lên trong thời gian 36 tháng trước khi chấm dứt hợp đồng lao động theo mùa vụ hoặc theo một công việc nhất định có thời hạn từ đủ 03 tháng đến dưới 12 tháng.
  • Tháng liền kề trước khi nghỉ có đóng bảo hiểm thất nghiệp
  • Đã nộp hồ sơ hưởng trợ cấp tại Trung tâm dịch vụ việc làm trong thời hạn 03 tháng, kể từ ngày chấm dứt hợp đồng lao động hoặc hợp đồng làm việc.
  • Chưa tìm được việc làm sau 15 ngày, kể từ ngày nộp hồ sơ hưởng bảo hiểm thất nghiệp, trừ các trường hợp: Thực hiện nghĩa vụ quân sự, nghĩa vụ công an; đi học có thời hạn từ đủ 12 tháng trở lên; chấp hành quyết định áp dụng biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng, cơ sở giáo dục, cai nghiện bắt buộc; bị tạm giam, chấp hành hình phạt tù; ra nước ngoài định cư; đi lao động ở nước ngoài theo hợp đồng; chết.

Những trường hợp không được hưởng bảo hiểm thất nghiệp

Người lao động đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động hoặc hợp đồng làm việc trái luật

Căn cứ quy định tại Bộ luật lao động 2019, người lao động đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật là trường hợp chấm dứt hợp đồng lao động không đúng quy định tại các điều 35, cụ thể như sau:

Điều 35. Quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động của người lao động

1. Người lao động có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động nhưng phải báo trước cho người sử dụng lao động như sau:

a) Ít nhất 45 ngày nếu làm việc theo hợp đồng lao động không xác định thời hạn;

b) Ít nhất 30 ngày nếu làm việc theo hợp đồng lao động xác định thời hạn có thời hạn từ 12 tháng đến 36 tháng;

c) Ít nhất 03 ngày làm việc nếu làm việc theo hợp đồng lao động xác định thời hạn có thời hạn dưới 12 tháng;

d) Đối với một số ngành, nghề, công việc đặc thù thì thời hạn báo trước được thực hiện theo quy định của Chính phủ.

2. Người lao động có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động không cần báo trước trong trường hợp sau đây:

a) Không được bố trí theo đúng công việc, địa điểm làm việc hoặc không được bảo đảm điều kiện làm việc theo thỏa thuận, trừ trường hợp quy định tại Điều 29 của Bộ luật này;

b) Không được trả đủ lương hoặc trả lương không đúng thời hạn, trừ trường hợp quy định tại khoản 4 Điều 97 của Bộ luật này;

c) Bị người sử dụng lao động ngược đãi, đánh đập hoặc có lời nói, hành vi nhục mạ, hành vi làm ảnh hưởng đến sức khỏe, nhân phẩm, danh dự; bị cưỡng bức lao động;

d) Bị quấy rối tình dục tại nơi làm việc;

đ) Lao động nữ mang thai phải nghỉ việc theo quy định tại khoản 1 Điều 138 của Bộ luật này;

e) Đủ tuổi nghỉ hưu theo quy định tại Điều 169 của Bộ luật này, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác;

g) Người sử dụng lao động cung cấp thông tin không trung thực theo quy định tại khoản 1 Điều 16 của Bộ luật này làm ảnh hưởng đến việc thực hiện hợp đồng lao động.

Người lao động nếu vi phạm quy định này thì sẽ không đủ điều kiện để hưởng bảo hiểm thất nghiệp. Ngoài ra, người lao động sẽ không được trợ cấp thôi việc; phải bồi thường cho công ty nửa tháng tiền lương theo hợp đồng lao động, phải bồi thường cho công ty một khoản tiền tương ứng với tiền lương của người lao động trong những ngày không báo trước, phải hoàn trả chi phí đào tạo cho công ty.

Người lao động nghỉ việc hưởng lương hưu, trợ cấp mất sức lao động hằng tháng

Theo quy định tại Điểm a Khoản 1 Điều 49 Luật Việc làm 2013, do đang được hưởng khoản lương hưu, trợ cấp mất sức lao động hàng tháng, người lao động cũng sẽ không được hưởng bảo hiểm thất nghiệp.

Người lao động không đóng bảo hiểm thất nghiệp đủ thời gian theo quy định

Theo quy định tại Khoản 2 Điều 49 Luật Việc làm 2013 thì người lao động đã đóng bảo hiểm thất nghiệp từ đủ 12 tháng trở lên trong thời gian 24 tháng trước khi chấm dứt hợp đồng lao động hoặc hợp đồng làm việc đối với trường hợp quy định tại Điểm a và Điểm b Khoản 1 Điều 43 của Luật Việc làm 2013 hoặc đã đóng bảo hiểm thất nghiệp từ đủ 12 tháng trở lên trong thời gian 36 tháng trước khi chấm dứt hợp đồng lao động đối với trường hợp quy định tại điểm c khoản 1 Điều 43 của Luật Việc làm 2013 thì mới được giải quyết hưởng chế độ trợ cấp thất nghiệp.

Ngoài ra, còn phải đáp ứng quy định khác về thời gian đóng là tháng liền kề trước khi nghỉ việc, người lao động phải đóng bảo hiểm thất nghiệp

Do đó, trường hợp người lao động không đáp ứng đủ điều kiện về thời gian đóng bảo hiểm thất nghiệp nêu trên thì không được giải quyết hưởng trợ cấp thất nghiệp khi nghỉ việc.

Không nộp hồ sơ đề nghị hưởng trợ cấp thất nghiệp trong thời gian quy định

Khoản 3 Điều 49 của Luật Việc làm 2013 quy định trong thời gian 03 tháng, kể từ ngày chấm dứt hợp đồng lao động, người lao động đủ điều kiện phải nộp hồ sơ hưởng bảo hiểm thất nghiệp tại Trung tâm dịch vụ việc làm. Sau 03 tháng mà không nộp hồ sơ, người lao động sẽ mất quyền lợi.

Tuy nhiên, đừng quá lo lắng, nếu quá 03 tháng mà người lao động không nộp hồ sơ thì vẫn được coi là chưa hưởng trợ cấp thất nghiệp. Do đó thời gian chưa hưởng trợ cấp thất nghiệp này vẫn được bảo lưu cộng dồn để tính hưởng trợ cấp thất nghiệp cho những lần hưởng tiếp theo khi người lao động đủ điều kiện.

Người lao động đang thực hiện nghĩa vụ quân sự, nghĩa vụ công an

Trong thời gian này, người lao động sẽ nhận được các khoản trợ cấp và phụ cấp như: phụ cấp theo quân hàm hiện hưởng; trợ cấp một lần sau khi xuất ngũ; trợ cấp tạo việc làm…nhưng không hưởng trợ cấp thất nghiệp.

Người lao động đi học tập có thời hạn từ đủ 12 tháng trở lên

Người lao động đi học tập có thời hạn từ đủ 12 tháng trở lên không được hưởng bảo hiểm thất nghiệp vì bảo hiểm thất nghiệp được thiết lập nhằm hỗ trợ những người lao động gặp khó khăn khi mất việc làm, giúp họ có nguồn thu nhập tạm thời cho đến khi tìm được công việc mới. Trong khi đó, khi người lao động đi học tập, họ chủ động lựa chọn không làm việc để nâng cao trình độ, kỹ năng và kiến thức của mình. Do đó, trong thời gian này, người lao động không đáp ứng được yêu cầu của bảo hiểm thất nghiệp và không được hưởng các quyền lợi từ chế độ này.

Người lao động đang chấp hành biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng, cơ sở giáo dục bắt buộc, cơ sở cai nghiện

Người lao động đủ điều kiện hưởng bảo hiểm thất nghiệp nhưng lại thuộc một trong các trường hợp trên sẽ không được hưởng bảo hiểm thất nghiệp theo quy định.

Người lao động đang bị tạm giam hoặc chấp hành hình phạt tù

Khi người lao động bị tạm giam hoặc chấp hành hình phạt tù, họ bị hạn chế tự do và không thể tham gia vào hoạt động lao động bên ngoài, bị mất một số quyền lợi trong đó có quyền hưởng bảo hiểm thất nghiệp.

Người lao động ra nước ngoài định cư, đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng:

Đây không được coi là trường hợp người lao động bị mất việc làm. Mặt khác, khi sinh sống ở nước ngoài, người lao động cũng không thể thực hiện khai báo tình trạng việc làm hàng tháng nên trường hợp này, người lao động sẽ không được nhạn tiền trợ cấp thất nghiệp. Tuy nhiên, vẫn được rút tiền bảo hiểm xã hội một lần.

Người lao động chết

Khi người lao động qua đời, thân nhân của họ có thể được hưởng các khoản trợ cấp khác như: trợ cấp mai táng, trợ cấp tuất hàng tháng, trợ cấp tuất 1 lần, nhưng không được hưởng bảo hiểm thất nghiệp.

Trên đây là tổng hợp của chúng tôi về những trường hợp người lao động không được nhận bảo hiểm thất nghiệp. Người lao động cần lưu ý những nội dung trên để đảm bảo quyền lợi của mình một cách tốt nhất. Nếu nội dung tư vấn còn chưa rõ, có nội dung gây hiểu nhầm hoặc có thắc mắc cần tư vấn cụ thể hơn, bạn có thể kết nối tới Tổng đài tư vấn luật bảo hiểm thất nghiệp trực tuyến qua HOTLINE 19006588 của Luật Quang Huy để được tư vấn trực tiếp.

Trân trọng./.

Đánh giá
Nguyễn Thị Huyền
Nguyễn Thị Huyền
Chuyên viên pháp lý Nguyễn Thị Huyền. Hiện đang là Trưởng phòng Quản lý Nhân sự tại Công ty Luật TNHH Quang Huy và Cộng sự. Chuyên về các vấn đề pháp lý liên quan đến pháp luật lao động, pháp luật bảo hiểm,...
Theo dõi
Thông báo của
guest
1 Bình luận
Phản hồi nội tuyến
Xem tất cả bình luận
Vĩnh Nguyên
Khách
Vĩnh Nguyên
22/07/2023 14:12

Luật Sư cho tôi hỏi, tôi hiện đang đi làm cho một công ty có đóng bảo hiểm xã hội đầy đủ và hiện tôi đang là thành viên gop vốn 70% của 1 công ty TNHH 2 thành viên (không có ký hợp đồng lao động với công ty… Đọc tiếp »

phone-call

HOTLINE TƯ VẤN BHXH

Scroll to Top