Luật Quang Huy có cung cấp dịch vụ đăng ký bảo hộ nhãn hiệu, thương hiệu, logo, quyền tác giả, sáng chế, quyền sở hữu công nghiệp,...và tất cả dịch vụ khác liên quan tới sở hữu trí tuệ. Nếu quý khách hàng đang có nhu cầu sử dụng dịch vụ, vui lòng liên hệ hotline 033.990.6588 để được tư vấn miễn phí. Xin cảm ơn.
Hiện nay, vấn đề xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp, đặc biệt là vi phạm nhãn hiệu ngày càng trở nên phổ biến, ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thể có liên quan. Để bảo vệ quyền lợi của mình, các chủ thể cần hiểu rõ quy định của pháp luật về vấn đề này.
Trong bài viết này, Luật Quang Huy tập trung nghiên cứu và làm rõ các hành vi xâm phạm quyền đối với nhãn hiệu và trách nhiệm, quy trình xử lý đối với hành vi xâm phạm nhãn hiệu.
1. Vi phạm nhãn hiệu là gì?
Nhãn hiệu là dấu hiệu dùng để phân biệt hàng hóa, dịch vụ của các tổ chức, cá nhân khác nhau. Vi phạm nhãn hiệu là một trong những hành vi ảnh hưởng trực tiếp tới quyền sở hữu trí tuệ của một chủ thể.
Vi phạm nhãn hiệu là hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ đối với nhãn hiệu, có thể là các hành vi sao chép, làm giả, sử dụng trái phép toàn bộ hoặc một phần của nhãn hiệu đã được cấp giấy chứng nhận đăng ký nhãn hiệu mà không được sự đồng ý của chủ sở hữu nhãn hiệu đó.
2. Các hành vi xâm phạm quyền đối với nhãn hiệu
Thứ nhất, sử dụng dấu hiệu trùng với nhãn hiệu được bảo hộ cho hàng hóa, dịch vụ trùng với hàng hóa, dịch vụ thuộc danh mục đăng ký kèm theo nhãn hiệu đó. Hành vi này bị xem là xâm phạm quyền đối với nhãn hiệu nếu có đủ các yếu tố sau:
- Sử dụng nhưng không được phép của chủ sở hữu nhãn hiệu.
- Sử dụng dấu hiệu trùng với nhãn hiệu đã được bảo hộ về cấu trúc, nội dung, ý nghĩa và hình thức thể hiện.
- Sử dụng cho hàng hóa, dịch vụ trùng với hàng hóa dịch vụ đã đăng ký cho nhãn hiệu đó.
Ví dụ: Nhãn hiệu “TRƯỜNG SINH” được Friesland Brands B.V. đăng ký bảo hộ cho sản phẩm sữa và đã được bảo hộ tại Việt Nam năm 2013. Năm 2019, Ông A sử dụng nhãn hiệu “TRƯỜNG SINH” cho sản phẩm sữa đậu nành. Như vậy, hành vi của ông A bị xem là hành vi xâm phạm quyền đối với với nhãn hiệu
Thứ hai, sử dụng dấu hiệu trùng với nhãn hiệu được bảo hộ cho hàng hóa, dịch vụ tương tự hoặc liên quan tới hàng hóa, dịch vụ thuộc danh mục đăng ký kèm theo nhãn hiệu đó, nếu việc sử dụng có khả năng gây nhầm lẫn về nguồn gốc hàng hóa, dịch vụ. Hành vi này bị xem là xâm phạm quyền đối với nhãn hiệu nếu có đủ các yếu tố sau:
- Sử dụng nhưng không được phép của chủ sở hữu nhãn hiệu.
- Sử dụng dấu hiệu trùng với nhãn hiệu đã được bảo hộ về cấu trúc, nội dung, ý nghĩa và hình thức thể hiện.
- Sử dụng cho hàng hóa, dịch vụ tương tự hoặc liên quan với hàng hóa dịch vụ đã đăng ký cho nhãn hiệu đó.
- Có khả năng gây nhầm lẫn về nguồn gốc hàng hóa, dịch vụ.
Hai hàng hóa, dịch vụ được coi là tương tự nhau khi chúng cùng/tương tự nhau về bản chất hoặc chức năng hoặc mục đích sử dụng. Ví dụ: Bánh mì và Bánh quy; thiết kế thi công và thiết kế nội ngoại thất.
Ví dụ: Năm 2007, Công ty TNHH sản xuất thương mại An Hưng Phát đăng ký bảo hộ nhãn hiệu “An Hưng Phát” tại Việt Nam cho nhóm đồ gỗ gia dụng: bàn, ghế, giường, tủ và đã được cấp Văn bằng bảo hộ.
Năm 2012, Ông B đã sản xuất một số lượng lớn giá sách làm bằng gỗ và sử dụng nhãn hiệu “An Hưng Phát” cho sản phẩm này. Như vậy, hành vi này của ông B được xem là sử dụng nhãn hiệu trùng với nhãn hiệu đã được bảo hộ cho hàng hóa tương tự (bàn, ghế, giường, tủ và giá sách là hàng hóa tương tự nhau), việc sử dụng có khả năng gây nhầm lẫn về nguồn gốc hàng hóa. Vì vậy, hành vi của ông B bị xem là là hành vi xâm phạm quyền đối với với nhãn hiệu.
Thứ ba, sử dụng dấu hiệu tương tự với nhãn hiệu được bảo hộ cho hàng hóa, dịch vụ trùng, tương tự hoặc liên quan tới hàng hóa, dịch vụ thuộc danh mục đăng ký kèm theo nhãn hiệu đó, nếu việc sử dụng có khả năng gây nhầm lẫn về nguồn gốc hàng hóa, dịch vụ. Hành vi này bị xem là xâm phạm quyền đối với nhãn hiệu nếu có đủ các yếu tố sau:
- Sử dụng nhưng không được phép của chủ sở hữu nhãn hiệu.
- Sử dụng dấu hiệu tương tự với nhãn hiệu đã được bảo hộ: dấu hiệu đó gần giống với nhãn hiệu đã được bảo hộ về cấu trúc hoặc cách phát âm hoặc ý nghĩa, nội dung hoặc hình thức thể hiện.
- Sử dụng cho hàng hóa, dịch vụ trùng hoặc tương tự hoặc liên quan với hàng hóa dịch vụ đã đăng ký cho nhãn hiệu đó.
- Có khả năng gây nhầm lẫn về nguồn gốc hàng hóa, dịch vụ.
Ví dụ: Công ty cổ phần Vincom đã đăng ký bảo hộ nhãn hiệu “VINCOM và hình” cho nhóm dịch vụ “bất động sản” tại Cục SHTT năm 2005 và đã được cấp văn bằng bảo hộ. Đầu năm 2009, Công ty CP Tài chính và Bất động sản Vincon công bố một số dự án khu du lịch sinh thái.
Nhãn hiệu “Vincon” được sử dụng trong lĩnh vực bất động sản đã gây nhầm lẫn với nhãn hiệu “VINCOM” đã được bảo hộ. Vì vậy, hành vi này của Công ty “CP Tài chính và Bất động sản Vincon bị xem là hành vi xâm phạm quyền đối với nhãn hiệu “VINCOM”
Thứ tư, sử dụng dấu hiệu trùng hoặc tương tự với nhãn hiệu nổi tiếng hoặc dấu hiệu dưới dạng dịch nghĩa, phiên âm từ nhãn hiệu nổi tiếng cho hàng hóa, dịch vụ bất kỳ, kể cả hàng hóa, dịch vụ không trùng, không tương tự và không liên quan tới hàng hóa, dịch vụ thuộc danh mục hàng hóa, dịch vụ mang nhãn hiệu nổi tiếng, nếu việc sử dụng có khả năng gây nhầm lẫn về nguồn gốc hàng hóa hoặc gây ấn tượng sai lệch về mối quan hệ giữa người sử dụng dấu hiệu đó với chủ sở hữu nhãn hiệu nổi tiếng.

Nhãn hiệu nổi tiếng là nhãn hiệu được người tiêu dùng biết đến rộng rãi trên toàn lãnh thổ Việt Nam. Ví dụ như: “KFC”, “Nike”, “HM”. Hành vi này bị xem là xâm phạm quyền đối với nhãn hiệu nếu có đủ các yếu tố sau:
- Sử dụng dấu hiệu trùng hoặc tương tự hoặc dịch nghĩa, phiên âm từ nhãn hiệu nổi tiếng.
- Có khả năng gây nhầm lẫn về nguồn gốc hàng hóa hoặc gây ấn tượng sai lệch về mối quan hệ giữa người sử dụng dấu hiệu đó với chủ sở hữu nhãn hiệu nổi tiếng.
Ví dụ: Bất kỳ cá nhân, tổ chức nào sử dụng nhãn hiệu nổi tiếng “Coca cola” để đăng ký cho bất kỳ sản phẩm, dịch vụ nào tại Việt Nam mà không được sự đồng ý của chủ sở hữu nhãn hiệu “Coca cola” đều bị xem là hành vi xâm phạm quyền đối với nhãn hiệu.
3. Căn cứ xác định hành vi xâm phạm
Nghị định 105/2006/NĐ-CP đã quy định căn cứ xác định hành vi xâm phạm. Theo đó, hành vi bị xem xét bị coi là hành vi xâm phạm khi có đủ các căn cứ sau đây:
- Đối tượng bị xem xét thuộc phạm vi các đối tượng đang được bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ.
- Có yếu tố xâm phạm trong đối tượng bị xem xét.
- Người thực hiện hành vi bị xem xét không phải là chủ thể quyền sở hữu trí tuệ và không phải là người được pháp luật hoặc cơ quan có thẩm quyền cho phép theo các trường hợp ngoại lệ.
- Hành vi bị xem xét xảy ra tại Việt Nam. Hành vi bị xem xét cũng bị coi là xảy ra tại Việt Nam nếu hành vi đó xảy ra trên mạng internet nhưng nhằm vào người tiêu dùng hoặc người dùng tin tại Việt Nam.
4. Các yếu tố xâm phạm quyền đối với nhãn hiệu
Căn cứ vào Nghị định số 119/2010/NĐ-CP ngày 30/12/2010 ,sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 105/2006/NĐ-CP ngày 22 tháng 9 năm 2006 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Sở hữu trí tuệ về bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ và quản lý nhà nước về sở hữu trí tuệ :
Yếu tố xâm phạm quyền đối với nhãn hiệu là dấu hiệu gắn trên hàng hoá, bao bì hàng hoá, phương tiện dịch vụ, giấy tờ giao dịch, biển hiệu, phương tiện quảng cáo và các phương tiện kinh doanh khác, trùng hoặc tương tự tới mức gây nhầm lẫn với nhãn hiệu được bảo hộ.
Căn cứ để xem xét yếu tố xâm phạm quyền đối với nhãn hiệu là phạm vi bảo hộ nhãn hiệu, gồm mẫu nhãn hiệu và danh mục hàng hoá, dịch vụ được xác định tại Giấy chứng nhận đăng ký nhãn hiệu hoặc Giấy chứng nhận nhãn hiệu đăng ký quốc tế được bảo hộ tại Việt Nam.
Để xác định một dấu hiệu bị nghi ngờ có phải là yếu tố xâm phạm quyền đối với nhãn hiệu hay không, cần phải so sánh dấu hiệu đó với nhãn hiệu, đồng thời phải so sánh sản phẩm, dịch vụ mang dấu hiệu đó với sản phẩm, dịch vụ thuộc phạm vi bảo hộ. Chỉ có thể khẳng định có yếu tố xâm phạm khi đáp ứng cả hai điều kiện sau đây:
- Dấu hiệu bị nghi ngờ trùng hoặc tương tự đến mức gây nhầm lẫn với nhãn hiệu thuộc phạm vi bảo hộ; trong đó một dấu hiệu bị coi là trùng với nhãn hiệu thuộc phạm vi bảo hộ nếu có cùng cấu tạo, cách trình bày (kể cả màu sắc); một dấu hiệu bị coi là tương tự đến mức gây nhầm lẫn với nhãn hiệu thuộc phạm vi bảo hộ nếu có một số đặc điểm hoàn toàn trùng nhau hoặc tương tự đến mức không dễ dàng phân biệt với nhau về cấu tạo, cách phát âm, phiên âm đối với dấu hiệu, chữ, ý nghĩa, cách trình bày, màu sắc và gây nhầm lẫn cho người tiêu dùng về hàng hoá, dịch vụ mang nhãn hiệu;
- Hàng hoá, dịch vụ mang dấu hiệu bị nghi ngờ trùng hoặc tương tự về bản chất hoặc có liên hệ về chức năng, công dụng và có cùng kênh tiêu thụ với hàng hoá, dịch vụ thuộc phạm vi bảo hộ.
Đối với nhãn hiệu nổi tiếng, dấu hiệu bị nghi ngờ bị coi là yếu tố xâm phạm nếu:
- Dấu hiệu bị nghi ngờ đáp ứng điều kiện như trên;
- Hàng hoá, dịch vụ mang dấu hiệu bị nghi ngờ đáp ứng điều kiện trên hoặc hàng hoá, dịch vụ không trùng, không tương tự, không liên quan tới hàng hoá, dịch vụ mang nhãn hiệu nổi tiếng nhưng có khả năng gây nhầm lẫn cho người tiêu dùng về nguồn gốc hàng hoá, dịch vụ hoặc gây ấn tượng sai lệch về mối quan hệ giữa người sản xuất, kinh doanh sản phẩm, dịch vụ đó với chủ sở hữu nhãn hiệu nổi tiếng.
Trường hợp sản phẩm, dịch vụ mang dấu hiệu trùng hoặc khó phân biệt về tổng thể cấu tạo và cách trình bày so với nhãn hiệu được bảo hộ cho sản phẩm, dịch vụ cùng loại thuộc phạm vi bảo hộ thì bị coi là hàng hoá giả mạo nhãn hiệu theo quy định tại Điều 213 của Luật Sở hữu trí tuệ.
5. Vi phạm nhãn hiệu bị xử phạt ra sao?
5.1. Trách nhiệm hành chính
Xử lý vi phạm hành chính đối với quyền sở hữu trí tuệ là việc cơ quan nhà nước có thẩm quyền áp dụng các biện pháp nhất định xử lý các hành vi xâm phạm quyền tác giả, quyền sở hữu công nghiệp và quyền đối với giống cây trồng của cá nhân, tổ chức mà chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự.
Các hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ bị xử phạt hành chính theo Điều 211 Luật sở hữu trí tuệ năm 2019, việc xử phạt vi phạm hành chính về sở hữu trí tuệ có thể bao gồm các hình thức, biện pháp xử lý sau:
- Hình thức xử phạt chính là: Cảnh cáo hoặc phạt tiền;
- Hình thức xử phạt bổ sung: Tước quyền sử dụng có thời hạn hoặc không có thời hạn giấy phép có liên quan đến hoạt động sở hữu trí tuệ; Tịch thu tang vật, phương tiện vi phạm hành chính về sở hữu trí tuệ.
- Các biện pháp khắc phục hậu quả: Buộc tiêu huỷ vật phẩm, hàng hoá vi phạm; buộc loại bỏ yếu tố vi phạm trên sản phẩm, hàng hoá, phương tiện kinh doanh; buộc phân phối hoặc sử dụng vào mục đích phi thương mại với điều kiện không làm ảnh hưởng đến khả năng khai thác thương mại bình thường của chủ sở hữu quyền sở hữu trí tuệ.
Mức phạt vi phạm đối với vi phạm nhãn hiệu được quy định tại Nghị Định 99/2013/NĐ-CP. Mức phạt cao nhất với cá nhân là 250 triệu đồng, với pháp nhân là 500 triệu đồng. Bên cạnh đó còn phải áp dụng các biện pháp áp dụng khắc phục hậu quả. Chi tiết về mức phạt đối với hành vi vi phạm quyền đối với nhãn hiệu đối với giá trị từng hàng hóa được quy định cụ thể tại điều 11 Nghị Định 99/2013/NĐ-CP.
5.2. Trách nhiệm dân sự
Biện pháp dân sự là biện pháp xử lý hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ theo thủ tục tố tụng dân sự trên cơ sở yêu cầu của chủ thể quyền sở hữu trí tuệ hoặc tổ chức, cá nhân bị thiệt hại do hành vi xâm phạm gây ra, kể cả khi hành vi đó đang bị xử lý bằng biện pháp hành chính hoặc biện pháp hình sự.
Theo quy định tại Điều 202 của Luật sở hữu trí tuệ, để xử lý tổ chức cá nhân có hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ nói chung, tòa án có quyền áp dụng các biện pháp dân sự bao gồm:
- Buộc chấm dứt hành vi xâm phạm;
- Buộc xin lỗi, cải chính công khai;
- Buộc thực hiện nghĩa vụ dân sự;
- Buộc bồi thường thiệt hại;
- Buộc tiêu huỷ hoặc buộc phân phối hoặc đưa vào sử dụng không nhằm mục đích thương mại đối với hàng hoá, nguyên liệu, vật liệu và phương tiện được sử dụng chủ yếu để sản xuất, kinh doanh hàng hoá xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ với điều kiện không làm ảnh hưởng đến khả năng khai thác quyền của chủ thể quyền sở hữu trí tuệ.
5.3. Trách nhiệm hình sự
Chế tài hình sự có thể được hiểu là các cơ quan chức năng khi phát hiện hành vi vi phạm sở hữu trí tuệ, nếu thấy hành vi đó là nguy hiểm cho xã hội, thoả mãn các yếu tố cấu thành tội phạm thì cơ quan chức năng sẽ khởi tố vụ án, tiến hành điều tra, truy tố và xét xử theo quy định của pháp luật hình sự và tố tụng hình sự.
- Theo Điều 212 Luật Sở hữu trí tuệ năm 2019 cá nhân thực hiện hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ có yếu tố cấu thành tội phạm thì bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định của pháp luật hình sự.
- Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 đã quy định về Tội xâm phạm quyền tác giả, quyền liên quan tại Điều 225 và Tội xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp tại Điều 226 một cách cụ thể, trong đó đã quy định rõ khung giá trị vi phạm để áp dụng hình phạt.
Cụ thể, theo Điều 226 Bộ luật hình sự 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 quy định về tội xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp:
Người nào cố ý xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu hoặc chỉ dẫn địa lý đang được bảo hộ tại Việt Nam mà đối tượng là hàng hóa giả mạo nhãn hiệu hoặc chỉ dẫn địa lý với quy mô thương mại hoặc thu lợi bất chính từ 100.000.000 đồng đến dưới 300.000.000 đồng hoặc gây thiệt hại cho chủ sở hữu nhãn hiệu hoặc chỉ dẫn địa lý từ 200.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng hoặc hàng hóa vi phạm trị giá từ 200.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng, thì bị phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng hoặc phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm.
6. Quy trình xử lý vi phạm nhãn hiệu
Bước 1: Thu thập thông tin, Lập vi bằng.
Việc lập vi bằng không bắt buộc nhưng để đảm bảo bên vi phạm không gỡ bỏ bằng chứng về hành vi vi phạm, nên tiến hành lập vi bằng hành vi xâm phạm, đặc biệt là đối với trang web có chứa nhãn hiệu và thông tin vi phạm tại văn phòng thừa phát lại.
Bước 2: Giám định hành vi vi phạm nhãn hiệu
Để có căn cứ chắc chắn nhất trong việc xác định yếu tố xâm phạm quyền đối với nhãn hiệu, cần yêu cầu Viện khoa học sở hữu trí tuệ Việt Nam (VIPRI) thực hiện việc giám định sở hữu công nghiệp để xác định hành vi của bên nghi ngờ vi phạm có bị coi là yếu tố xâm phạm quyền đối với nhãn hiệu hay không? Lưu ý rằng đây không phải là hoạt động bắt buộc nhưng VIPRI với tư cách là cơ quan trực thuộc Bộ Khoa học và công nghệ và là đơn vị duy nhất có chức năng giám định sở hữu công nghiệp theo quy định của pháp luật thì kết luận giám định của cơ quan này là một trong những nguồn chứng cứ quan trọng để cơ quan có thẩm quyền làm căn cứ giải quyết vụ việc hoặc để các bên có liên quan giải quyết tranh chấp phát sinh.
Bước 3: Gửi thư cảnh báo
Đây là quy trình không bắt buộc nhưng có thể tiết kiệm thời gian, chi phí nếu bên vi phạm có thái độ hợp tác, thiện chí để xử lý vụ việc.
- Gửi thư cảnh báo đến bên bị nghi ngờ thực hiện hành vi phạm và yêu cầu họ:
- Ngừng ngay lập tức việc thực hiện hành vi xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp;
- Loại bỏ các yếu tố xâm phạm;
- Tiêu hủy tài liệu, bảng hiệu, giấy tờ giao dịch, sản phẩm… có gắn yếu tố xâm phạm quyền đối với nhãn hiệu đang xử lý;…
- Ngoài ra, nếu hành vi xâm phạm xảy ra trên facebook hoặc youtube, có thể report vi phạm với các bên này.
Bước 4: Yêu cầu cơ quan nhà nước có thẩm quyền xử lý hành vi vi phạm pháp luật.
Tùy thuộc vào tính chất, mức độ vi phạm mà bên bị vi phạm có thể yêu cầu cơ quan nhà nước có thẩm quyền thụ lý và xử lý hành vi vi phạm pháp luật trong lĩnh vực sở hữu công nghiệp. Với phương án này, cơ quan nhà nước có thẩm quyền thực hiện việc kiểm tra, thanh tra và ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính theo quy định của pháp luật.
Bước 5: Khởi kiện ra tòa án có thẩm quyền hoặc nộp đơn tố cáo nếu thấy đủ yếu tố cấu thành tội xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ theo luật hình sự.
Khởi kiện bên bị nghi ngờ thực hiện hành vi vi phạm ra tòa án có thẩm quyền và yêu cầu họ thực hiện một hoặc một số hoặc tất cả các công việc sau đây:
- Xin lỗi và cải chính thông tin công khai trên các website mà bên bị nghi ngờ đang quản lý;
- Bồi thường thiệt hại đối với các thiệt hại thực tế mà bên bị vi phạm đã phải gánh chịu (bao gồm các các chi phí đã bỏ ra để giải quyết công việc).
7. Cơ sở pháp lý
- Văn bản hợp nhất 07/VBHN-VPQH năm 2019 hợp nhất Luật Sở hữu trí tuệ do Văn phòng Quốc hội ban hành;
- Bộ luật hình sự năm 2015;
- Nghị định 105/2006/NĐ-CP Hướng dẫn Luật Sở hữu trí tuệ về bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ và quản lý nhà nước về sở hữu trí tuệ;
- Nghị Định 99/2013/NĐ-CP Quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực sở hữu công nghiệp.
Trên đây là bài tư vấn của chúng tôi về vấn đề vi phạm nhãn hiệu theo quy định pháp luật hiện hành.
Luật Quang Huy không chỉ có Tổng đài tư vấn pháp luật chuyên sâu về quyền sở hữu công nghiệp mà còn là đơn vị có kinh nghiệm lâu năm trong lĩnh vực sở hữu trí tuệ.
Để được tư vấn đầy đủ và chính xác nhất, mời quý khách hàng liên hệ qua Tổng đài tư vấn luật Sở hữu trí tuệ trực tuyến của HOTLINE 19006588 của Luật Quang Huy để nhận tư vấn thêm về vấn đề mà quý khách hàng đang gặp phải.
Trân trọng./.





