Các tội xâm phạm trật tự quản lý kinh tế

Hiểu như thế nào về tội phạm kinh tế?
Do nhu cầu tư vấn giải đáp thắc mắc liên quan đến luật hình sự tăng cao, Luật Quang Huy đã cung cấp đường dây nóng hỗ trợ hỏi đáp luật hình sự. 100% cuộc gọi tới đường dây này được bảo mật thông tin cuộc gọi. Nếu bạn đọc có nhu cầu được hỗ trợ về luật hình sự, hãy liên hệ ngay qua Tổng đài 1900.6784.

Bạn đang băn khoăn không biết hiểu như thế nào cho đúng về tội phạm kinh tế? Bạn thắc mắc các tội xâm phạm trật tự kinh tế được quy định như thế nào? Mời bạn theo dõi bài viết sau đây của Luật Quang Huy để được làm rõ những vấn đề này.





1. Tội phạm kinh tế là gì?

Hiện nay chưa có văn bản quy phạm pháp luật nào đưa ra khái niệm cụ thể tội phạm về kinh tế là gì. Tuy nhiên có thể hiểu tội phạm kinh tế là loại tội phạm xâm phạm sự ổn định và phát triển của nền kinh tế, gây thiệt hại cho Nhà nước, tổ chức hoặc công dân thông qua các hành vi vi phạm pháp luật về quản lý kinh tế. Tội phạm về kinh tế luôn luôn có sự thay đổi theo từng giai đoạn khác nhau của nền kinh tế.


2. Đặc trưng của tội phạm về kinh tế

Tội phạm kinh tế có những đặc trưng như sau:

2.1. Tội phạm kinh tế có đặc trưng “phụ thuộc” và “tránh né”

Có thể thấy mỗi giai đoạn kinh tế khác nhau thì tội phạm kinh tế cũng có những đặc điểm nền kinh tế lúc bấy giờ. Tội phạm về kinh tế phụ thuộc vào các chính sách kinh tế, công cụ quản lý kinh tế, cơ chế vận hành nền kinh tế của quốc gia trong giai đoạn đó.

Khi có chính sách kinh tế mới ra đời, đời sống kinh tế – xã hội xuất hiện một quy định mới, sẽ nảy sinh những hành vi phạm tội kinh tế mới tương ứng.

Loại tội phạm này thường biểu hiện dưới hình thức hoạt động kinh tế. Các tội phạm về kinh tế luôn “né tránh” các chính sách, công cụ và cơ chế quản lý kinh tế. Việc “trốn tránh” này được thực hiện trên cơ sở hiểu rõ chính sách, nắm vững công cụ, cơ chế quản lý kinh tế, khéo léo tổ chức thực hiện tội phạm, có thể thấy loại tội phạm trong lĩnh vực này có đặc điểm tránh né.

2.2. Tội phạm kinh tế có thủ đoạn rất tinh vi

Các tội phạm về kinh tế mang đặc trưng của nền kinh tế. Kinh tế càng phát triển thì càng có nhiều hành vi phạm tội đa dạng và tinh vi hơn. Sự tinh vi, xảo quyệt của tội phạm kinh tế phụ thuộc vào yếu tố như kết cấu kinh tế, tốc độ tăng trưởng, chính sách tài chính, tiền tệ, đầu tư, quan hệ cung cầu của một quốc gia.

Ngoài ra, phương thức, thủ đoạn mới của tội phạm kinh tế thường xuất phát từ những nước có nền kinh tế tương đối phát triển, thông qua sự thâm nhập, mô phỏng, mà lây lan, phát tán đến các trung tâm kinh tế, các thành phố lớn của nước ta, sau đó dẫn đến các phản ứng dây chuyền, lan tỏa đến các thành phố kém phát triển hơn và vùng nông thôn.

Bên cạnh đó, có thể thấy ngày càng nhiều tội phạm kinh tế là những người có chức quyền, tội phạm kinh tế lợi dụng những khe hở của cơ chế, chính sách để trục lợi. Những hành vi phạm tội này đều có quy mô, có sự móc nối của những thế lực ngầm và trong một thời gian khá dài nên công an kinh tế gặp rất nhiều khó khăn trong quá trình điều tra.

Các đối tượng tội phạm kinh tế thường tập trung tại các ngành mang lại lợi nhuận kinh tế cao như: ngân hàng, xây dựng, bất động sản,…


3. Các tội xâm phạm trật tự quản lý kinh tế

Các tội xâm phạm trật tự quản lý kinh tế được quy định tại Chương XVIII Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 gồm 47 điều (từ Điều 188 đến Điều 234), chia thành 3 nhóm tội phạm như sau:

  • Nhóm các tội phạm trong lĩnh vực sản xuất, kinh doanh thương mại (có 12 tội trong nhóm này): được quy định từ Điều 188 đến Điều 199;
  • Nhóm các tội phạm trong lĩnh vực thuế, tài chính, ngân hàng, chứng khoán, bảo hiểm (có 17 tội thuộc nhóm này): được quy định từ Điều 200 đến Điều 216;
  • Nhóm các tội phạm khác xâm phạm trật tự quản lý kinh tế (có 18 tội thuộc nhóm này): được quy định từ Điều 217 đến Điều 234.

Luật Quang Huy sẽ nêu khái quát một vài điều luật trong từng nhóm để giúp bạn đọc hiểu thêm quy định về các tội xâm phạm trật tự quản lý kinh tế, cụ thể như sau:

3.1. Các tội phạm trong lĩnh vực sản xuất, kinh doanh, thương mại

Các tội các tội xâm phạm trật tự quản lý kinh tế trong lĩnh vực sản xuất, kinh doanh, thương mại được quy định trong Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 bao gồm:

  • Tội buôn lậu (Điều 188);
  • Tội vận chuyển trái phép hàng hóa, tiền tệ qua biên giới (Điều 189);
  • Tội sản xuất, buôn bán hàng cấm (Điều 190);
  • Tội tàng trữ, vận chuyển hàng cấm (Điều 191);
  • Tội sản xuất, buôn bán hàng giả (Điều 192);
  • Tội sản xuất, buôn bán hàng giả là lương thực, thực phẩm, phụ gia thực phẩm (Điều 193);
  • Tội sản xuất, buôn bán hàng giả là thuốc chữa bệnh, thuốc phòng bệnh (Điều 194);
  • Tội sản xuất, buôn bán hàng giả là thức ăn dùng để chăn nuôi, phân bón, thuốc thú y, thuốc bảo vệ thực vật, giống cây trồng, vật nuôi (Điều 195);
  • Tội đầu cơ (Điều 196);
  • Tội quảng cáo gian dối (Điều 197);
  • Tội lừa dối khách hàng (Điều 198);
  • Tội vi phạm các quy định về cung ứng điện (Điều 199).

Ví dụ: Tội buôn lậu (Điều 188): Tội buôn lậu xâm phạm chế độ quản lý ngoại thương của Nhà nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Theo đó, điều luật quy định đối tượng tác động của hành vi phạm tội này là các loại hàng hóa, tiền Việt Nam, ngoại tệ, kim khí quý, đá quý, di vật, cổ vật.

Khái niệm hàng hóa ở đây bao gồm tất cả các loại hàng hóa (trừ một số loại hàng hóa do tính chất đặc biệt đã được quy định là đối tượng của một số tội phạm khác). Quy định pháp luật về tội này như sau:

3.1.1. Dấu hiệu pháp lý

Dấu hiệu mặt khách quan của tội phạm: Hành vi khách quan của tội buôn lậu được quy định là hành vi buôn bán trái pháp luật qua biên giới hoặc từ khu phi thuế quan vào nội địa hoặc ngược lại hàng hóa, tiền Việt Nam, ngoại tệ, kim khí quý, đá quý, di vật, cổ vật thì hành vi buôn bán trái pháp luật được mô tả trên đây chỉ bị coi là tội phạm khi hàng hóa, tiền Việt Nam, kim khí quý, đá quý có giá trị từ 100 triệu đồng trở lên hoặc dưới mức đó nhưng thuộc một trong các trường hợp sau:

  • Đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi quy định tại này hoặc tại một trong các điều 189, 190, 191, 192, 193, 194, 195, 196 và 200 của Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 hoặc đã bị kết án về một trong các tội này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm;
  • Vật phạm pháp là di vật, cổ vật. Buôn bán trái pháp luật qua biên giới hoặc từ khu phi thuế quan vào nội địa hoặc ngược lại các đối tượng kể trên được hiểu là hành vi trao đổi các thứ này qua biên giới quốc gia hoặc khu phi thuế của Nhà nước như không khai báo, khai báo gian dối, dùng giấy quan vào nội địa hoặc ngược lại trái với quy định tờ giả mạo, giấu giếm hàng hóa, không có giấy tờ hợp lệ của cơ quan có thẩm quyền, trốn tránh sự kiểm soát của hải quan, bộ đội biên phòng.
  • Người buôn lậu có thể chuyển các loại hàng hóa kể trên qua biên giới bằng đường bộ, đường thủy, đường hàng không, đường sắt hoặc qua bưu điện quốc tế.
  • Trường hợp người được thuê vận chuyển (người khuân vác, lái xe) có hành vi vận chuyển (thuê) hàng hóa, tiền qua biên giới hoặc từ khu phi thuế quan vào nội địa hoặc ngược lại cho chủ hàng (người buôn lậu) cũng bị coi là phạm tội buôn lậu với vai trò là người giúp sức trong đồng phạm. Tội buôn lậu được coi là hoàn thành từ thời Điểm người phạm tội thực hiện hành vi chuyển hàng hóa một cách trái pháp luật qua biên giới hoặc từ khu phi thuế quan vào nội địa hoặc ngược lại.

Dấu hiệu mặt chủ quan của tội phạm: Lỗi của người phạm tội được quy định là lỗi cố ý.

3.1.2. Hình phạt

Điều luật quy định 04 khung hình phạt chính, 01 khung hình phạt bổ sung và 01 khung hình phạt cho pháp nhân thương mại phải chịu trách nhiệm hình sự. Cụ thể như sau:

  • Khung hình phạt cơ bản có mức phạt tiền từ 50 triệu đồng phạt đến 300 triệu đồng hoặc phạt tù từ 6 tháng đến 3 năm.
  • Khung hình phạt tăng nặng thứ nhất có mức phạt tiền từ 300 triệu đồng đến 1,5 tỷ đồng hoặc phạt tù từ 03 nam năm quy định cho trường hợp phạm tội có một trong các tình tiết định khung hình phạt tăng nặng sau:
  • Có tổ chức: Đây là trường hợp đồng phạm buôn lậu có sự kết cấu chặt chẽ giữa những người đồng phạm
  • Có tính chất chuyên nghiệp: Đây là trường hợp buôn lậu từ 5 lần trở lên (không phân biệt đã truy cứu trách nhiệm hình sự hay chưa; chưa hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự hoặc chưa được xoá án tích) và người phạm tội đều lấy các lần phạm tội buôn lậu làm nghề sinh sống và lấy kết quả của việc phạm tội buôn lậu làm nguồn sống chính;
  • Vật phạm pháp trị giá từ 300 triệu đồng đến dưới 500 triệu đồng;
  • Thu lợi bất chính từ 100 triệu đồng đến dưới 500 triệu đồng;
  • Lợi dụng chức vụ, quyền hạn;
  • Lợi dụng danh nghĩa cơ quan, tổ chức;
  • Phạm tội 02 lần trở lên;
  • Tái phạm nguy hiểm.
  • Khung hình phạt tăng nặng thứ hai có mức phạt tiền từ 1,5 tỷ đồng đến 5 tỷ đồng hoặc phạt tù từ 7 năm đến 15 năm được ý định cho trường hợp phạm tội có một trong các tình tiết quy định khung hình phạt tăng nặng sau: Vật phạm pháp trị giá từ 500 triệu đồng đến dưới 1 tỷ đồng: Thu lợi bất chính từ 500 triệu đồng đến dưới 1 tỷ đồng.
  • Khung hình phạt tăng nặng thứ 3 có mức phạt tù từ 12 năm đến 20 năm được quy định cho trường hợp phạm tội có một trong các tình tiết định khung hình phạt tăng nặng sau:
  • Vật phạm pháp trị giá 1 tỷ đồng trở lên;
  • Thu lợi bất chính 1 tỷ đồng trở lên;
  • Lợi dụng chiến tranh, thiên tai, dịch bệnh hoặc hoàn cảnh đặc biệt khó khăn khác
  • Khung hình phạt bổ sung được quy định (có thể được áp dụng) là: Phạt tiền từ 20 triệu đồng đến 100 triệu đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.
  • Khung hình phạt đối với pháp nhân thương mại phải chịu trách nhiệm hình sự được quy định như sau:
  • Nếu hành vi phạm tội thuộc Điểm a Khoản 6 Điều 188 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 thì khung hình phạt có mức là phạt tiền từ 300 triệu đồng đến 1 tỷ đồng;
  • Nếu hành vi phạm tội thuộc các điểm a, b, c, d, đ, h hoặc i khoản 2 Điều 188 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 thì khung hình phạt có mức là phạt tiền từ 1 tỷ đồng đến 3 tỷ đồng;
  • Nếu hành vi phạm tội thuộc khoản 3 Điều 188 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 thì khung hình phạt có mức là phạt tiền từ 3 tỷ đồng đến 7 tỷ đồng;
  • Nếu hành vi phạm tội thuộc khoản 4 Điều 188 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 thì khung hình phạt có mức là phạt tiền từ 7 tỷ đồng đến 15 tỷ đồng hoặc là đình chỉ hoạt động có thời hạn từ 06 tháng đến 03 năm;
  • Nếu hành vi phạm tội thuộc trường hợp được quy định tại Điều 79 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 thì hình phạt là đình chỉ hoạt động vĩnh viễn;
  • Hình phạt bổ sung (có thể được áp dụng) là phạt tiền từ 50 triệu đồng đến 3 tỷ đồng, cấm kinh doanh, cấm hoạt động trong một số lĩnh vực nhất định hoặc cấm huy động vốn từ 01 năm đến 03 năm.
Hiểu như thế nào về tội phạm kinh tế?
Hiểu như thế nào về tội phạm kinh tế?

3.2. Nhóm các tội phạm trong lĩnh vực thuế, tài chính, ngân hàng, chứng khoán, bảo hiểm

Các tội xâm phạm trật tự quản lý kinh tế trong lĩnh vực thuế, tài chính, ngân hàng, chứng khoán, bảo hiểm được quy định trong Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 bao gồm:

  • Tội trốn thuế (Điều 200);
  • Tội cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự (Điều 201);
  • Tội làm, buôn bán tem giả, vé giả (Điều 202);
  • Tội in, phát hành, mua bán trái phép hóa đơn, chứng từ thu nộp ngân sách nhà nước (Điều 203);
  • Tội vi phạm quy định về bảo quản, quản lý hóa đơn, chứng từ thu nộp ngân sách nhà nước (Điều 204);
  • Tội lập quỹ trái phép (Điều 205);
  • Tội vi phạm quy định trong hoạt động của các tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài (Điều 206);
  • Tội làm, tàng trữ, vận chuyển, lưu hành tiền giả (Điều 207);
  • Tội làm, tàng trữ, vận chuyển, lưu hành công cụ chuyển nhượng giả hoặc các giấy tờ có giá giả khác (Điều 208);
  • Tội cố ý công bố thông tin sai lệch hoặc che giấu thông tin trong hoạt động chứng khoán (Điều 209);
  • Tội sử dụng thông tin nội bộ để mua bán chứng khoán (Điều 210);
  • Tội thao túng thị trường chứng khoán (Điều 211);
  • Tội làm giả tài liệu trong hồ sơ chào bán, niêm yết chứng khoán (Điều 212);
  • Tội gian lận trong kinh doanh bảo hiểm (Điều 213);
  • Tội gian lận bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp (Điều 214);
  • Tội gian lận bảo hiểm y tế (Điều 215);
  • Tội trốn đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp cho người lao động (Điều 216).

Ví dụ: Tội trốn thuế (Điều 200) được quy định như sau:

3.2.1. Dấu hiệu pháp lý

Dấu hiệu mặt khách quan của tội phạm: Hành vi trốn thuế được quy định trong điều luật có thể là một trong các dạng hành vi cụ thể sau:

  • Không nộp hồ sơ đăng ký thuế; không nộp hồ sơ khai thuế; nộp hồ sơ khai thuế sau 90 ngày kể từ ngày hết hạn nộp hồ sơ khai thuế hoặc hết thời hạn gia hạn nộp hồ sơ khai thuế theo quy định của pháp luật;
  • Không ghi chép trong sổ kế toán các Khoản thu liên quan đến việc xác định số tiền thuế phải nộp Không xuất hóa đơn khi bán hàng hóa, dịch vụ hoặc ghi giá trị trên hóa đơn bán hàng thấp hơn giá trị thanh toán thực tế của hàng hóa, dịch vụ đã bán;
  • Sử dụng hóa đơn, chứng từ không hợp pháp để hạch toán hàng hóa, nguyên liệu đầu vào trong hoạt động phát sinh nghĩa vụ thuê làm giảm số tiền thuế phải nộp hoặc làm tăng số tiền thuế được miễn, số tiền thuế được giảm hoặc tăng số tiền thuế được khấu trừ, số tiền thuế được hoàn;
  • Sử dụng chứng từ, tài liệu không hợp pháp khác để xác định sai số tiền thuế phải nộp, số tiền thuế được hoàn;
  • Khai sai với thực tế hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu mà không khai bổ sung hồ sơ khai thuế sau khi hàng hóa đã được thông quan, nếu không thuộc trường hợp quy định tại Điều 188 và Điều 189 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017;
  • Không kê khai hoặc khai sai về thuế đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu, nếu không thuộc trường hợp quy định tại Điều 188 và Điều 189 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017;
  • Câu kết với người gửi hàng để nhập khẩu hàng hóa, nếu không thuộc trường hợp quy định tại Điều 188 và Điều 189 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017;
  • Sử dụng hàng hóa thuộc đối tượng không chịu thuế, miễn thuế, xét miễn thuế không đúng mục đích quy định mà không khai báo việc chuyển đổi mục đích sử dụng với cơ quan quản lý thuế.
  • Hành vi trốn thuế được xác định cụ thể trên đây chỉ bị coi là tội phạm nếu số tiền trốn thuế là từ 100 triệu đồng trở lên hoặc dưới mức này nhưng đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi trốn thuế hoặc đã bị kết án về tội này hoặc về một trong các tội quy định tại các Điều 188, 189, 190, 191, 192, 193, 194, 195, 196, 202, 250, 251, 253, 254, 304, 305, 306, 309 và 311 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm.

Dấu hiệu mặt chủ quan của tội phạm: Lỗi của người phạm tội được quy định là lỗi cố ý.

3.2.2. Hình phạt

Điều luật quy định 03 khung hình phạt chính, 01 khung hình phạt bổ sung và 01 khung hình phạt đối với pháp nhân thương mại phải chịu trách nhiệm hình sự. Cụ thể như sau:

  • Khung hình phạt cơ bản có mức phạt tiền từ 100 triệu đồng đến 500 triệu đồng hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 01 năm.
  • Khung hình phạt tăng nặng thứ nhất có mức phạt tiền từ 500 triệu đồng đến 1,5 tỷ đồng hoặc phạt tù từ 01 năm đến 03 năm được quy định cho trường hợp phạm tội có một trong các tình tiết định khung hình phạt tăng nặng sau:
  • Phạm tội có tổ chức;
  • Số tiền trốn thuế từ 300 triệu đồng đến dưới 01 tỷ đồng;
  • Lợi dụng chức vụ, quyền hạn;
  • Phạm tội 02 lần trở lên;
  • Tái phạm nguy hiểm.
  • Khung hình phạt tăng nặng thứ hai có mức phạt tiền từ 1.5 tỷ đồng đến 4,5 tỷ đồng hoặc phạt tù từ 02 năm đến 07 năm được quy định cho trường hợp trốn thuế với số tiền từ 01 tỷ đồng trở lên.
  • Khung hình phạt bổ sung được quy định (có thể được áp dụng) là: Phạt tiền từ 20 triệu đồng đến 100 triệu đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cầm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.
  • Khung hình phạt đối với pháp nhân thương mại phải chịu trách nhiệm hình sự được quy định:
  • Nếu hành vi phạm tội thuộc Điểm a Khoản 5 Điều 200 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 thì bị phạt tiền từ 300 triệu đồng đến 01 tỷ đồng;
  • Nếu hành vi phạm tội thuộc các Điểm a, b, d và đ khoản 2 Điều 200 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 thì bị phạt tiền từ 01 tỷ đồng đến 03 tỷ đồng;
  • Nếu hành vi phạm tội thuộc khoản 3 Điều 200 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 thì bị phạt tiền từ 03 tỷ đồng đến 10 tỷ đồng hoặc đình chỉ hoạt động có thời hạn từ 06 tháng đến 03 năm;
  • Nếu hành vi phạm tội thuộc trường hợp được quy định tại Điều 79 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 thì bị đình chỉ hoạt động vĩnh viễn. Hình phạt bổ sung (có thể được áp dụng) là phạt tiền từ 50 triệu đồng đến 200 triệu đồng, cấm kinh doanh, cấm hoạt động trong một số lĩnh vực nhất định hoặc cấm huy động vốn từ 01 năm đến 03 năm.

3.3. Các tội phạm khác xâm phạm trật tự quản lý kinh tế

Các tội xâm phạm trật tự quản lý kinh tế khác được quy định trong Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 bao gồm:

  • Tội phạm quy định về cạnh tranh (Điều 217);
  • Tội vi phạm quy định về hoạt động bán đấu giá tài sản (Điều 218);
  • Tội vi phạm quy định của Nhà nước về quản lý và sử dụng vốn đầu tư công gây hậu quả nghiêm trọng (Điều 220);
  • Tội vi phạm quy định của Nhà nước về kế toán gây hậu quả nghiêm trọng (Điều 221);
  • Tội vi phạm quy định về đấu thầu gây hậu quả nghiêm trọng (Điều 222);
  • Tội thông đồng, bao che cho người nộp thuế gây hậu quả nghiêm trọng (Điều 223);
  • Tội vi phạm quy định về đầu tư công trình xây dựng gây hậu quả nghiêm trọng (Điều 224);
  • Tội xâm phạm quyền tác giả, quyền liên quan (Điều 225);
  • Tội xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp (Điều 226);
  • Tội vi phạm các quy định về nghiên cứu, thăm dò, khai thác tài nguyên (Điều 227);
  • Tội vi phạm các quy định về sử dụng đất đai (Điều 228);
  • Tội vi phạm các quy định về quản lý đất đai (Điều 229);
  • Tội vi phạm quy định về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất (Điều 230);
  • Tội cố ý làm trái quy định về phân phối tiền, hàng cứu trợ. (Điều 231);
  • Tội vi phạm các quy định về khai thác, bảo vệ rừng và quản lý lâm sản (Điều 232);
  • Tội vi phạm các quy định về quản lý rừng (Điều 233);
  • Tội vi phạm quy định về quản lý, bảo vệ động vật hoang dã (Điều 234).

Ví dụ: Tội phạm quy định về cạnh tranh (Điều 217) được quy định như sau:

3.3.1. Dấu hiệu pháp lý

Dấu hiệu mặt khách quan của tội phạm: Hành vi khách quan của tội phạm được được quy định gồm các dạng hành vi sau:

  • Thỏa thuận ngăn cản, kìm hãm không cho doanh nghiệp khác tham gia thị trường hoặc phát triển kinh doanh;
  • Thỏa thuận loại bỏ khỏi thị trường doanh nghiệp không phải là các bên của thỏa thuận;
  • Thỏa thuận hạn chế cạnh tranh khi các bên tham gia thỏa thuận có thị phần kết hợp trên thị trường liên quan” 30% trở lên thuộc một trong các trường hợp: thỏa thuận ấn định giá hàng hóa, dịch vụ một cách trực tiếp hoặc gián tiếp, thỏa thuận phân chia thị trường tiêu thụ, nguồn cung cấp hàng hóa, nguồn cung dịch vụ; thỏa thuận hạn chế hoặc kiểm soát số lượng, khối lượng sản xuất, mua bán hàng hóa, dịch vụ; thỏa thuận hạn chế phát triển kỹ thuật, công nghệ, hạn chế đầu tư; thỏa thuận áp đặt cho doanh nghiệp khác điều kiện ký kết hợp đồng mua bán hàng hóa, dịch vụ hoặc buộc doanh nghiệp khác chấp nhận nghĩa vụ không liên quan trực tiếp đến đối tượng của hợp đồng. Các dạng hành vi khách quan nói trên là những hành vi bị cấm theo quy định của pháp luật cạnh tranh.

Dấu hiệu mặt chủ quan của tội phạm: Lỗi của người phạm tội được quy định là lỗi cố ý.

3.3.2. Hình phạt

Điều luật quy định 02 khung hình phạt chính, 01 khung hình phạt bổ sung và 01 khung hình phạt đối với pháp nhân thương mại phải chịu trách nhiệm hình sự. Cụ thể như sau:

  • Khung hình phạt cơ bản có mức phạt tiền từ 200 triệu đồng đến 01 tỷ đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 02 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 02 năm.
  • Khung hình phạt tăng nặng có mức phạt tiền từ 01 tỷ đồng đến 03 tỉ đồng hoặc phạt tù từ 01 năm đến 05 năm được quy định cho trường hợp phạm tội có một trong các tình tiết định khung hình phạt tăng nặng sau:
  • Phạm tội 02 lần trở lên;
  • Dùng thủ đoạn tinh vi, xảo quyệt;
  • Lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường hoặc vị trí độc quyền;
  • Thu lợi bất chính 03 tỷ đồng trở lên;
  • Gây thiệt hại cho người khác 05 tỷ đồng trở lên.
  • Khung hình phạt bổ sung được quy định (có thể được áp dụng) là: Phạt tiền từ 50 triệu đồng đến 200 triệu đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm
  • Khung hình phạt đối với pháp nhân thương mại phải chịu trách nhiệm hình sự được quy định:
  • Nếu hành vi phạm tội thuộc khoản 1 Điều 217 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 thì bị phạt tiền từ 01 tỷ đồng đến 03 tỷ đồng;
  • Nếu hành vi phạm tội thuộc khoản 2 Điều 217 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 thì bị phạt tiền từ 03 tỷ đồng đến 05 tỷ đồng hoặc đình chỉ hoạt động có thời hạn từ 06 tháng đến 02 năm;
  • Hình phạt bổ sung (có thể được áp dụng cho pháp nhân thương mại phải chịu trách nhiệm hình sự là phạt tiền từ 100 triệu đồng đến 500 triệu đồng, cấm kinh doanh, hoạt động trong một số lĩnh vực nhất định hoặc cấm huy động vốn từ 01 năm đến 03 năm.

4. Tình hình tội phạm kinh tế hiện nay

Trong những năm qua, các tội xâm phạm trật tự quản lý kinh tế có diễn biến ngày càng phức tạp với phương thức, thủ đoạn tinh vi, khó phát hiện. Các tội phạm này có tính chất, mức độ nghiêm trọng, liên quan đến nhiều nơi, nhiều vùng, nhiều cấp, nhiều lĩnh vực kinh tế trọng điểm.

Trong đó, nổi lên các tội phạm như vận chuyển, mua bán hàng nhập lậu, hàng cấm, sản xuất, buôn bán hàng giả, lừa đảo chiếm đoạt tài sản và vi phạm các quy định về sử dụng đất đai,…

Thêm vào đó, tội phạm tham nhũng cũng diễn ra rất phổ biến trên nhiều lĩnh vực khác nhau như: tài chính, ngân hàng, quản lý tài sản công, đầu tư cơ sở hạ tầng, quản lý sử dụng đất đai và các giải pháp chính sách xã hội.

Quy mô của các vụ án tham nhũng gây được sự chú ý rộng rãi trong xã hội. Điều này thể hiện ở số đối tượng liên quan, số tài sản bị tham ô, nhiều vụ án tham nhũng gây thiệt hại hàng tỷ đô la cho đất nước. Thủ đoạn thực hiện hành vi tham nhũng ngày càng phức tạp, đối tượng luôn tìm mọi cách để đối phó với cơ quan chức năng nên khó bị phát hiện.

Đặc biệt, còn tiềm ẩn nguy cơ các tội phạm về kinh tế khác như tội tham nhũng có tổ chức, xuyên quốc gia và một số tội phạm trong lĩnh vực kinh tế, tham nhũng ngoài lãnh thổ Việt Nam.




5. Cơ sở pháp lý

  • Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Trên đây là bài tư vấn của chúng tôi về vấn đề tội phạm kinh tế. Qua bài viết này, chúng tôi mong rằng sẽ giúp các bạn hiểu rõ hơn về vấn đề này.

Để được tư vấn đầy đủ và chính xác nhất, mời quý khách hàng liên hệ tới Tổng đài tư vấn Luật hình sự trực tuyến qua HOTLINE 19006588 của Luật Quang Huy để nhận tư vấn thêm về vấn đề mà quý khách hàng đang gặp phải.

Trân trọng./.

Đánh giá
Tác giả bài viết
phone-call

GỌI ĐỂ TƯ VẤN MIỄN PHÍ

Scroll to Top