Quy định và khái niệm người chưa thành niên phạm tội

Khái niệm người chưa thành niên phạm tội là gì?
Do nhu cầu tư vấn giải đáp thắc mắc liên quan đến luật hình sự tăng cao, Luật Quang Huy đã cung cấp đường dây nóng hỗ trợ hỏi đáp luật hình sự. 100% cuộc gọi tới đường dây này được bảo mật thông tin cuộc gọi. Nếu bạn đọc có nhu cầu được hỗ trợ về luật hình sự, hãy liên hệ ngay qua Tổng đài 1900.6784.

Bạn có chắc rằng mình đã hiểu rõ về khái niệm người chưa thành niên phạm tội cũng như các quy định của pháp luật về hình phạt tù đối với họ? Bạn hãy đọc bài viết dưới đây của Luật Quang Huy để hiểu rõ thêm về vấn đề này.





1. Người chưa thành niên là gì?

Hiện nay pháp luật chưa có một khái niệm rõ ràng về người chưa thành niên, nhưng có thể hiểu rằng người chưa thành niên là những người chưa đủ 18 tuổi. Vì ở độ tuổi này họ chưa phát triển hoàn toàn về nhận thức nên chưa có đầy đủ các quyền và nghĩa vụ của một công dân theo quy định.


2. Khái niệm người chưa thành niên phạm tội là gì?

Người chưa thành niên phạm tội là khái niệm dùng để chỉ những người từ đủ 14 tuổi trở lên nhưng chưa đủ 18 tuổi thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong pháp luật hình sự.


3. Người chưa thành niên phạm tội theo Bộ luật hình sự năm 2015

Theo quy định tại Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 đã có điều luật áp dụng đối với người chưa thành niên nhằm mục đích phân loại, xác định các tội do những người thành niên gây ra thiệt hại, các hình phạt xử lý đối với những hành vi vi phạm pháp luật, các biện pháp giáo dưỡng hoặc các biện pháp khác tùy theo tính chất, mức độ thiệt hại gây ra, mức độ nguy hiểm cho xã hội phù hợp với tâm lý, đặc điểm tại thời điểm người chưa thành niên thực hiện các hành vi phạm tội.

Trong Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 từ Điều 90 đến Điều 91 là các quy định về người chưa thành niên phạm tội. Trong đó, pháp luật quy định vai trò của các cơ quan tố tụng nhất là thẩm phán xét xử vụ án phải có kiến thức hiểu biết về mặt tâm sinh lý, khoa học, giáo dục nhằm đấu tranh phòng, chống các tội phạm của những người chưa thành niên khi có hành vi phạm tội.

Thông thường, đối với người chưa thành niên phải chịu trách nhiệm hình sự theo những quy định áp dụng riêng cho đối tượng này và các tội khác của phần chung trong Bộ luật Hình sự quy định áp dụng đối với người từ đủ 14 tuổi nhưng chưa đủ 18 tuổi.

Người chưa thành niên sẽ được miễn trách nhiệm hình sự và sẽ được áp dụng thay thế bằng các biện pháp khác theo quy định khi phạm tội thuộc trường hợp từ đủ mười sáu tuổi đến dưới 18 tuổi trừ các tội quy định như tội cố ý gây thương tích, các tội về buôn bán trái phép chất ma túy… khi người chưa thành niên tự nguyện khắc phục hậu quả và người chưa thành niên có nhiều tình tiết giảm nhẹ không có tình tiết tăng nặng khi phạm tội ít nghiêm trọng và nghiêm trọng theo quy định của pháp luật hình sự.

Theo quy định tại khoản 2 Điều 12 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 về độ tuổi chịu trách nhiệm hình sự khi người chưa thành niên mà từ đủ mười bốn tuổi cho đến mười sáu tuổi khi phạm tội rất nghiêm trọng thì sẽ vẫn bị truy cứu trách nhiệm hình sự ví dụ như các tội giết người, tội hiếp dâm, tội mua bán người, tội mua bán trái phép chất ma túy…

Ngoài ra khi người thành niên dưới 18 tuổi thực hiện phạm tội với vai trò đồng phạm không đáng kể trong vụ án đó thì cũng được miễn truy cứu trách nhiệm hình sự.

Khái niệm người chưa thành niên phạm tội là gì?
Khái niệm người chưa thành niên phạm tội là gì?

Trong trường hợp thật sự cần thiết khi xét xử và áp dụng các khung hình phạt đối với người chưa thành niên khi các biện pháp giáo dục, phòng ngừa không hiệu quả thì phải căn cứ tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội còn phải căn cứ các đặc điểm về nhân thân của họ khi thực hiện hành vi phạm tội và yêu cầu của việc phòng ngừa tội phạm.

Trong các giai đoạn tố tụng các vụ án hình sự khi điều tra giải quyết vụ án, truy tố của viện kiểm sát bằng các bản cáo trạng và xét xử tại tòa án thì các cơ quan này phải xem xét về khả năng nhận thức, động cơ, mục đích phạm tội, tính chất nguy hiểm cho xã hội mà những người chưa thành niên đã gây ra.

Việc truy cứu trách nhiệm hình sự của những người chưa thành niên phạm tội nhằm mục đích phòng ngừa tội phạm và căn cứ vào tính chất hành vi của tội phạm thì người chưa thành niên khi phạm tội chỉ áp dụng các hình phạt được quy định trong Bộ luật hình sự trong trường hợp thực sự cần thiết khi truy cứu trách nhiệm hình sự.

Khi người chưa thành niên phạm tội thì tòa án sẽ áp dụng một trong những biện pháp tư pháp khác nếu trong quá trình xét xử xét thấy không cần thiết phải áp dụng hình phạt.

Hiện nay khi người chưa thành niên phạm tội thì sẽ hạn chế việc  áp dụng hình phạt nhằm thực hiện chính sách khoan hồng đối với đối tượng đặc biệt này, mục đích giáo dục là chủ yếu nhất, hạn chế áp dụng các hình phạt tù có thời hạn trong Bộ luật.

Đối với những người chưa thành niên phạm tội thì theo quy định của pháp luật không xử phạt tù chung thân hoặc tử hình được quy định của pháp luật hình sự.

Khi áp dụng hình phạt từ mức phạt tù có thời hạn trở lên thì sẽ được áp dụng mức hình phạt nhẹ hơn so với mức hình phạt áp dụng đối với người đã thành niên đủ 18 tuổi tương ứng khi người chưa thành niên phạm tội.

Đối với người chưa thành niên phạm tội thì sẽ bị bị áp dụng các hình phạt bổ sung nếu có và khung hình phạt chính là phạt tiền thì không áp dụng với những người chưa thành niên từ mười bốn tuổi đến dưới mười sáu tuổi theo quy định.

Khi mà người thành niên là người dưới 16 tuổi phạm tội đã có bản án do Tòa án tuyên và có hiệu lực pháp luật lại tiếp tục phạm tội thì sẽ không tính là tái phạm hoặc tái phạm nguy hiểm theo quy định của Bộ luật hình sự.


4. Quy định về người chưa thành niên phạm tội

Người chưa thành niên phạm tội chỉ bị áp dụng một trong các hình phạt sau đây đối với mỗi tội phạm nhất định, cụ thể là:

  • Cảnh cáo;
  • Phạt tiền;
  • Cải tạo không giam giữ;
  • Tù có thời hạn.

Cụ thể như sau:

4.1. Phạt tiền

Phạt tiền được áp dụng là hình phạt chính đối với người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi, nếu người đó có thu nhập hoặc có tài sản riêng.

Mức tiền phạt đối với người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi phạm tội không quá một phần hai mức tiền phạt mà điều luật quy định.

4.2. Cải tạo không giam giữ

Hình phạt cải tạo không giam giữ được áp dụng đối với người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi phạm tội rất nghiêm trọng do vô ý hoặc phạm tội ít nghiêm trọng, phạm tội nghiêm trọng hoặc người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi phạm tội rất nghiêm trọng.

Khi áp dụng hình phạt cải tạo không giam giữ đối với người dưới 18 tuổi phạm tội, thì không khấu trừ thu nhập của người đó.

Thời hạn cải tạo không giam giữ đối với người dưới 18 tuổi phạm tội không quá một phần hai thời hạn mà điều luật quy định.

4.3. Tù có thời hạn

Đối với người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi khi phạm tội, nếu điều luật được áp dụng quy định hình phạt tù chung thân hoặc tử hình, thì mức hình phạt cao nhất được áp dụng không quá 18 năm tù; nếu là tù có thời hạn thì mức hình phạt cao nhất được áp dụng không quá ba phần tư mức phạt tù mà điều luật quy định;

Đối với người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi khi phạm tội, nếu điều luật được áp dụng quy định hình phạt tù chung thân hoặc tử hình, thì mức hình phạt cao nhất được áp dụng không quá 12 năm tù; nếu là tù có thời hạn thì mức hình phạt cao nhất được áp dụng không quá một phần hai mức phạt tù mà điều luật quy định.

4.4. Tổng hợp hình phạt trong trường hợp phạm nhiều tội

Đối với người dưới 18 tuổi phạm nhiều tội, có tội được thực hiện trước khi đủ 16 tuổi, có tội được thực hiện sau khi đủ 16 tuổi, thì việc tổng hợp hình phạt áp dụng như sau:

Nếu mức hình phạt đã tuyên đối với tội được thực hiện trước khi người đó đủ 16 tuổi nặng hơn hoặc bằng mức hình phạt đã tuyên đối với tội được thực hiện sau khi đủ 16 tuổi thì hình phạt chung không vượt quá 12 năm tù;

Nếu mức hình phạt đã tuyên đối với tội được thực hiện sau khi người đó đủ 16 tuổi nặng hơn mức hình phạt đã tuyên đối với tội được thực hiện trước khi đủ 16 tuổi thì hình phạt chung không vượt quá 18 năm tù.


5. Giảm hình phạt tù đối với người chưa thành niên phạm tội

Giảm hình phạt tù đối với người chưa thành niên phạm tội được pháp luật quy định như sau:

  •  Người dưới 18 tuổi phạm tội bị phạt cải tạo không giam giữ hoặc phạt tù, nếu có tiến bộ và đã chấp hành được một phần tư thời hạn, thì được Tòa án xét giảm; riêng đối với hình phạt tù, mỗi lần có thể giảm đến 04 năm nhưng phải bảo đảm đã chấp hành ít nhất là hai phần năm mức hình phạt đã tuyên.
  • Người dưới 18 tuổi phạm tội bị phạt cải tạo không giam giữ hoặc phạt tù, nếu lập công hoặc mắc bệnh hiểm nghèo, thì được xét giảm ngay và có thể được miễn chấp hành phần hình phạt còn lại.
  • Người dưới 18 tuổi phạm tội bị phạt tiền nhưng bị lâm vào hoàn cảnh kinh tế đặc biệt khó khăn kéo dài do thiên tai, hỏa hoạn, tai nạn hoặc ốm đau gây ra hoặc lập công lớn, thì theo đề nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát, Tòa án có thể quyết định giảm hoặc miễn việc chấp hành phần tiền phạt còn lại.

Như vậy, theo quy định tại Khoản 1 Điều 105, Bộ luật Hình sự 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 thì người chưa thành niên có thể giảm mức hình phạt tù nếu có tiến bộ nhưng vẫn phải đảm bảo thi hành được 1/4 mức hình phạt đã tuyên, đối với trường hợp này là phải đảm bảo chấp hành được 2,5 năm tù.

Tuy nhiên trường hợp đặc biệt, nếu lập công hoặc mắc bệnh hiểm nghèo thì có thể được miễn chấp hành hình phạt còn lại và không phụ thuộc vào mức hình phạt đã tuyên, thời điểm được xét giảm cũng như mức hình phạt còn lại là bao nhiêu.




6. Cơ sở pháp lý

  • Bộ luật Hình sự 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Trên đây là bài tư vấn của chúng tôi về khái niệm người chưa thành niên phạm tội. Qua bài viết này, chúng tôi mong rằng sẽ giúp các bạn hiểu rõ hơn về vấn đề này.

Để được tư vấn đầy đủ và chính xác nhất, mời quý khách hàng liên hệ tới Tổng đài tư vấn Luật hình sự trực tuyến qua HOTLINE 19006588 của Luật Quang Huy để nhận tư vấn thêm về vấn đề mà quý khách hàng đang gặp phải.

Trân trọng./.

5/5 - (1 bình chọn)
Tác giả bài viết
phone-call

GỌI ĐỂ TƯ VẤN MIỄN PHÍ

Scroll to Top