Căn cứ tạm giam là gì theo quy định pháp luật?

Do nhu cầu tư vấn giải đáp thắc mắc liên quan đến luật hình sự tăng cao, Luật Quang Huy đã cung cấp đường dây nóng hỗ trợ hỏi đáp luật hình sự. 100% cuộc gọi tới đường dây này được bảo mật thông tin cuộc gọi. Nếu bạn đọc có nhu cầu được hỗ trợ về luật hình sự, hãy liên hệ ngay qua Tổng đài 1900.6784.

Theo quy định hiện hành, tạm giam là gì? Những vấn đề xoay quanh tạm giam được quy định ra sao? Tất cả sẽ được giải đáp trong bài viết sau đây của Luật Quang Huy.


1. Tạm giam là gì?

Trong quá trình điều tra giải quyết một số vụ án hình sự, cơ quan có thẩm quyền có thể tiến hành một số biện pháp như tạm giam để tiến hành điều tra.

Căn cứ theo Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017, tạm giam được hiểu là một biện pháp ngăn chặn trong tố tụng hình sự.

Khi bị áp dụng biện pháp ngăn chặn này, người bị tạm giam bị cách ly khỏi xã hội một thời gian nhất định, bị hạn chế một số quyền con người, quyền công dân như quyền tự do thân thể, cư trú, đi lại…


2. Đối tượng áp dụng biện pháp tạm giam?

Tạm giam sẽ được áp dụng trong các trường hợp sau:

(1) Tạm giam có thể áp dụng đối với bị can, bị cáo về tội đặc biệt nghiêm trọng, tội rất nghiêm trọng.

(2) Tạm giam có thể áp dụng đối với bị can, bị cáo về tội nghiêm trọng, tội ít nghiêm trọng mà Bộ luật hình sự quy định hình phạt tù trên 02 năm khi có căn cứ xác định người đó thuộc một trong các trường hợp:

  • Đã bị áp dụng biện pháp ngăn chặn khác nhưng vi phạm;
  • Không có nơi cư trú rõ ràng hoặc không xác định được lý lịch của bị can;
  • Bỏ trốn và bị bắt theo quyết định truy nã hoặc có dấu hiệu bỏ trốn;
  • Tiếp tục phạm tội hoặc có dấu hiệu tiếp tục phạm tội;
  • Có hành vi mua chuộc, cưỡng ép, xúi giục người khác khai báo gian dối, cung cấp tài liệu sai sự thật; tiêu hủy, giả mạo chứng cứ, tài liệu, đồ vật của vụ án, tẩu tán tài sản liên quan đến vụ án; đe dọa, khống chế, trả thù người làm chứng, bị hại, người tố giác tội phạm và người thân thích của những người này.

(3) Tạm giam có thể áp dụng đối với bị can, bị cáo về tội ít nghiêm trọng mà Bộ luật hình sự quy định.

Lưu ý: Đối với bị can, bị cáo là phụ nữ có thai hoặc đang nuôi con dưới 36 tháng tuổi, là người già yếu, người bị bệnh nặng mà có nơi cư trú và lý lịch rõ ràng thì không tạm giam mà áp dụng biện pháp ngăn chặn khác, trừ các trường hợp:

  • Bỏ trốn và bị bắt theo quyết định truy nã;
  • Tiếp tục phạm tội;
  • Có hành vi mua chuộc, cưỡng ép, xúi giục người khác khai báo gian dối, cung cấp tài liệu sai sự thật; tiêu hủy, giả mạo chứng cứ, tài liệu, đồ vật của vụ án, tẩu tán tài sản liên quan đến vụ án; đe dọa, khống chế, trả thù người làm chứng, bị hại, người tố giác tội phạm hoặc người thân thích của những người này;
  • Bị can, bị cáo về tội xâm phạm an ninh quốc gia và có đủ căn cứ xác định nếu không tạm giam đối với họ thì sẽ gây nguy hại đến an ninh quốc gia.

Lưu ý: Cơ quan điều tra phải kiểm tra căn cước của người bị tạm giam và thông báo ngay cho gia đình người bị tạm giam, chính quyền xã, phường, thị trấn nơi người bị tạm giam cư trú hoặc cơ quan, tổ chức nơi người bị tạm giam làm việc, học tập biết.


3. Căn cứ tạm giam?

Trong Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 thì tạm giam được quy định tại Điều 119. Tuy nhiên, căn cứ tạm giam, các trường hợp có thể áp dụng biện pháp tạm giam thì rất đa dạng, cụ thể như sau:

Theo quy định tại Điều 119:

  • Bị can, bị cáo về tội đặc biệt nghiêm trọng, tội rất nghiêm trọng.
  • Bị can, bị cáo về tội nghiêm trọng, tội ít nghiêm trọng mà Bộ luật hình sự quy định hình phạt tù trên 02 năm khi có căn cứ xác định người đó thuộc một trong các trường hợp:
  • Đã bị áp dụng biện pháp ngăn chặn khác nhưng vi phạm;
  • Không có nơi cư trú rõ ràng hoặc không xác định được lý lịch của bị can;
  • Bỏ trốn và bị bắt theo quyết định truy nã hoặc có dấu hiệu bỏ trốn;
  • Tiếp tục phạm tội hoặc có dấu hiệu tiếp tục phạm tội;
  • Có hành vi mua chuộc, cưỡng ép, xúi giục người khác khai báo gian dối, cung cấp tài liệu sai sự thật; tiêu hủy, giả mạo chứng cứ, tài liệu, đồ vật của vụ án, tẩu tán tài sản liên quan đến vụ án; đe dọa, khống chế, trả thù người làm chứng, bị hại, người tố giác tội phạm và người thân thích của những người này.
  • Bị can, bị cáo về tội ít nghiêm trọng mà Bộ luật hình sự quy định hình phạt tù đến 02 năm nếu họ tiếp tục phạm tội hoặc bỏ trốn và bị bắt theo quyết định truy nã.
  • Đối với bị can, bị cáo là phụ nữ có thai hoặc đang nuôi con dưới 36 tháng tuổi, là người già yếu, người bị bệnh nặng mà có nơi cư trú và lý lịch rõ ràng trong các trường hợp:
  • Bỏ trốn và bị bắt theo quyết định truy nã;
  • Tiếp tục phạm tội;
  • Có hành vi mua chuộc, cưỡng ép, xúi giục người khác khai báo gian dối, cung cấp tài liệu sai sự thật; tiêu hủy, giả mạo chứng cứ, tài liệu, đồ vật của vụ án, tẩu tán tài sản liên quan đến vụ án; đe dọa, khống chế, trả thù người làm chứng, bị hại, người tố giác tội phạm hoặc người thân thích của những người này;
  • Bị can, bị cáo về tội xâm phạm an ninh quốc gia và có đủ căn cứ xác định nếu không tạm giam đối với họ thì sẽ gây nguy hại đến an ninh quốc gia.

Theo quy định tại Khoản 3, Điều 278:

Đối với bị cáo đang bị tạm giam mà đến ngày mở phiên tòa thời hạn tạm giam đã hết, nếu xét thấy cần tiếp tục tạm giam để hoàn thành việc xét xử thì Hội đồng xét xử ra lệnh tạm giam cho đến khi kết thúc phiên tòa.

Theo quy định tại Khoản 1, khoản 2, Điều 329:

  • Bị cáo đang bị tạm giam mà bị xử phạt tù nhưng xét thấy cần tiếp tục tạm giam để bảo đảm thi hành án.
  • Hội đồng xét xử có thể ra quyết định bắt tạm giam bị cáo ngay tại phiên tòa nếu có căn cứ cho thấy bị cáo có thể trốn hoặc tiếp tục phạm tội.

Theo quy định tại Điều 347:

  • Trường hợp đã hết thời hạn tạm giam bị cáo theo quyết định tạm giam của Tòa án cấp sơ thẩm thì Chánh án, Phó Chánh án Tòa án cấp phúc thẩm ra quyết định tạm giam mới.
  • Bị cáo đang bị tạm giam, nếu xét thấy cần tiếp tục tạm giam để hoàn thành việc xét xử thì Hội đồng xét xử phúc thẩm ra quyết định tạm giam cho đến khi kết thúc phiên tòa.
  • Bị cáo đang bị tạm giam bị xử phạt tù mà đến ngày kết thúc phiên tòa thời hạn tạm giam đã hết thì Hội đồng xét xử phúc thẩm ra quyết định tạm giam bị cáo để bảo đảm việc thi hành án, trừ trường hợp quy định tại khoản 4 và khoản 5 Điều 328 của Bộ luật này.
  • Đối với bị cáo không bị tạm giam nhưng bị xử phạt tù thì Hội đồng xét xử phúc thẩm có thể ra quyết định bắt tạm giam bị cáo ngay sau khi tuyên án.

Theo quy định tại Khoản 5, Điều 358:

Trường hợp hủy bản án sơ thẩm để điều tra lại hoặc xét xử lại mà thời hạn tạm giam đối với bị cáo đã hết và xét thấy cần phải tiếp tục tạm giam bị cáo thì Hội đồng xét xử phúc thẩm ra quyết định tiếp tục tạm giam bị cáo cho đến khi Viện kiểm sát hoặc Tòa án cấp sơ thẩm thụ lý lại vụ án.

Theo quy định tại Ðiều 419:

  • Đối với người bị buộc tội là người dưới 18 tuổi khi có căn cứ cho rằng việc áp dụng biện pháp giám sát và các biện pháp ngăn chặn khác không hiệu quả.
  • Người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi về tội phạm quy định tại khoản 2 Điều 12 của Bộ luật hình sự nếu có căn cứ quy định tại các điều 110, 111 và 112, các điểm a, b, c, d và đ khoản 2 Điều 119 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.
  • Người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi về tội nghiêm trọng do cố ý, tội rất nghiêm trọng, tội đặc biệt nghiêm trọng nếu có căn cứ quy định tại các điều 110, 111 và 112, các điểm a, b, c, d và đ khoản 2 Điều 119 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.
  • Bị can, bị cáo từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi bị khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử về tội nghiêm trọng do vô ý, tội ít nghiêm trọng mà Bộ luật hình sự quy định hình phạt tù đến 02 năm cũng có thể bị tạm giam nếu họ tiếp tục phạm tội, bỏ trốn và bị bắt theo quyết định truy nã.

Theo quy định tại Điều 503:

  •  Trường hợp người bị yêu cầu dẫn độ.

Khi xem xét dựa trên các quy định về căn cứ áp dụng biện pháp tạm giam có một số vấn đề cần bàn luận như sau:

Tại Khoản 4, Điều 119 Bộ luật tố tụng hình sự có đề cập đến đối tượng bị can, bị cáo là phụ nữ có thai hoặc đang nuôi con dưới 36 tháng tuổi, là người già yếu, người bị bệnh nặng mà có nơi cư trú và lý lịch rõ ràng.

Vấn đề là hiện nay chưa có bất kỳ một quyết định nào hướng dẫn cụ thể định nghĩa ra sao thì sẽ thuộc trường hợp đó là bị “bệnh nặng” – để có thể được cơ quan có thẩm quyền quyết định không áp dụng biện pháp tạm giam mà thay thế vào đó bằng các biện pháp ngăn chặn khác.

Điều này dẫn đến tình trạng áp dụng biện pháp ngăn chặn khác mà không phải là biện pháp tạm giam một cách tùy tiện hoặc có những trường hợp bị bệnh nặng, đáng lẽ không áp dụng biện pháp tạm giam hoặc đình chỉ điều tra…thì thay vào đó lại áp dụng biện pháp tạm giam.

Điều này làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của bị can, bị cáo dẫn đến việc không thống nhất trong áp dụng pháp luật và gây khó khăn cho việc giải quyết vụ án một cách nhanh gọn, triệt để.

Theo quy định tại Điều 67 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 hướng dẫn áp dụng một số quy định của Bộ luật Hình sự, người bị xử phạt tù bị bệnh nặng có thể được hoãn chấp hành hình phạt tù cho đến khi sức khỏe được hồi phục.

Theo đó thì bị án có thể được hoãn trong trường hợp bị bệnh nặng tức là bị bệnh đến mức không thể đi chấp hành án phạt tù được và nếu bắt đi chấp hành hình phạt tù sẽ nguy hiểm đến tính mạng của họ (Ung thư giai đoạn cuối, xơ gan cổ chướng, lao nặng độ 4 kháng thuốc, bại liệt, suy tim độ 3 trở lên, suy thận độ 4 trở lên, HIV chuyển giai đoạn AIDS đang có các nhiễm trùng cơ hội và có tiên lượng xấu…).

Tuy nhiên, quy định trên chỉ hướng dẫn áp dụng đối với trường hợp người bị kết án bị xử phạt tù có bản án đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án.

Còn đối với trường hợp bị can, bị cáo bị bệnh nặng thuộc trường hợp có thể được hủy bỏ, thay thế biện pháp tạm giam bằng các biện pháp ngăn chặn khác, nếu vận dụng quy định nêu trên để tiến hành thì liệu có đảm bảo hay không.

Cụ thể là:

  • Người bị xử phạt tù có thể được hoãn chấp hành hình phạt trong các trường hợp sau đây:
  • Bị bệnh nặng thì được hoãn cho đến khi sức khỏe được hồi phục;
  • Phụ nữ có thai hoặc đang nuôi con dưới 36 tháng tuổi, thì được hoãn cho đến khi con đủ 36 tháng tuổi;
  • Là người lao động duy nhất trong gia đình, nếu phải chấp hành hình phạt tù thì gia đình sẽ gặp khó khăn đặc biệt, được hoãn đến 01 năm, trừ trường hợp người đó bị kết án về các tội xâm phạm an ninh quốc gia hoặc các tội khác là tội phạm rất nghiêm trọng, tội phạm đặc biệt nghiêm trọng;
  • Bị kết án về tội phạm ít nghiêm trọng, do nhu cầu công vụ, thì được hoãn đến 01 năm.
  • Trong thời gian được hoãn chấp hành hình phạt tù, nếu người được hoãn chấp hành hình phạt lại thực hiện hành vi phạm tội mới, thì Tòa án buộc người đó phải chấp hành hình phạt trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 của Bộ luật này.

Việc áp dụng các biện pháp này nói chung, hay tạm giam nói riêng, đều mang tính chất cưỡng chế về mặt tố tụng. Áp dụng khi có đủ căn cứ đối với bị can, bị cáo hoặc người chưa bị khởi tố trong trường hợp khẩn cấp hoặc phạm tội quả tang.


4. Thẩm quyền ra lệnh tạm giam?

Việc cá nhân nào sẽ có thẩm quyền ra quyết định tạm giam trong tố tụng hình sự đã được pháp luật quy định chi tiết tại Khoản 5 Điều 119 Bộ luật tố tụng hình sự 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017, cụ thể như sau:

  • Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng Cơ quan điều tra các cấp. Trường hợp này, lệnh bắt phải được Viện kiểm sát cùng cấp phê chuẩn trước khi thi hành;
  • Viện trưởng, Phó Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân và Viện trưởng, Phó Viện trưởng Viện kiểm sát quân sự các cấp;
  • Chánh án, Phó Chánh án Tòa án nhân dân và Chánh án, Phó Chánh án Tòa án quân sự các cấp; Hội đồng xét xử.

Trong quá trình giải quyết vụ án, xét thấy bị can, bị cáo có dấu hiệu bỏ trốn, hoặc nhằm ngăn chặn bị can, bị cáo có thể tiếp tục phạm tội gây ảnh hưởng đến quá trình điều tra, truy tố, xét xử nên pháp luật đã cho phép các cơ quan tố tụng được phép bắt bị can, bị cáo để giải quyết vụ án.

Lệnh tạm giam của những người trên phải được Viện kiểm sát cùng cấp phê chuẩn trước khi thi hành. Trong thời hạn 03 ngày kể từ ngày nhận được lệnh tạm giam, đề nghị xét phê chuẩn và hồ sơ liên quan đến việc tạm giam, Viện kiểm sát phải ra quyết định phê chuẩn hoặc quyết định không phê chuẩn.

Viện kiểm sát phải hoàn trả hồ sơ cho Cơ quan điều tra ngay sau khi kết thúc việc xét phê chuẩn.


5. Thủ tục tạm giam?

Trước tiên, việc tạm giam cần phải có lệnh và quyết định bằng văn bản của người có thẩm quyền. Lệnh quyết định tạm giam phải được ghi rõ ràng các thông tin sau:

  • Ngày, tháng, năm;
  • Họ tên và chức vụ của người ra lệnh, quyết định;
  • Họ tên, địa chỉ của người bị tạm giam;
  • Lý do tạm giam, thời hạn tạm giam và giao cho người bị tạm giam một bản

Lệnh bắt, quyết định phê chuẩn lệnh, quyết định bắt buộc phải ghi rõ:

  • Họ tên, địa chỉ của người bị bắt;
  • Lý do bắt và các nội dung quy định tại khoản 2 Điều 132 của Bộ luật tố tụng hình sự.

Lưu ý: người thi hành lệnh, quyết định phải đọc lệnh, quyết định và giải thích lệnh, quyết định cũng như quyền và nghĩa vụ của người bị bắt. Bên cạnh đó, cần phải lập biên bản về việc bắt và giao lệnh, quyết định cho người bị bắt.

  • Khi tiến hành bắt người tại nơi người đó cư trú phải có đại diện chính quyền xã, phường, thị trấn và người khác chứng kiến.
  • Khi tiến hành bắt người tại nơi người đó làm việc, học tập phải có đại diện cơ quan, tổ chức nơi người đó làm việc, học tập chứng kiến. Khi tiến hành bắt người tại nơi khác phải có sự chứng kiến của đại diện chính quyền xã, phường, thị trấn nơi tiến hành bắt người.

Đặc biệt, không được bắt người vào ban đêm, trừ trường hợp phạm tội quả tang hoặc bắt người đang bị truy nã.

Tạm giam là gì? Thời gian tạm giam là bao lâu?
Tạm giam là gì? Thời gian tạm giam là bao lâu?

6. Thời gian tạm giam?

Thời hạn tạm giam bị can để điều tra được quy định cụ thể như sau:

  • Thời hạn tạm giam trong giai đoạn điều tra:

Căn cứ Điều 173 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015, thời hạn tạm giam trong giai đoạn điều tra được quy định như sau:

  • Đối với tội ít nghiêm trọng: không quá hai tháng và được gia hạn thêm một lần với thời gian không quá một tháng, tổng thời gian không quá ba tháng;
  • Đối với tội phạm nghiêm trọng: không quá ba tháng và được gia hạn tạm giam một lần nhưng không quá hai tháng, tổng thời gian không quá năm tháng;
  • Đối với tội phạm rất nghiêm trọng: không quá bốn tháng và được gia hạn thêm một lần với thời hạn không quá ba tháng, tổng thời gian không quá bảy tháng;
  • Đối với tội phạm đặc biệt nghiêm trọng: không quá bốn tháng, tuy nhiên có thể được gia hạn thêm hai lần tương ứng với mỗi lần thời hạn không quá bốn tháng, tổng thời gian không quá mười hai tháng.
  • Tuy nhiên đối với một số tội phạm có tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội nhất định thì thời hạn tạm giam có thể được gia hạn thêm. Cụ thể như sau:
  • Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao có quyền gia hạn thêm một lần với thời hạn không quá 04 tháng đối với tội tội xâm phạm an ninh quốc gia. Nếu hết thời hạn 04 tháng này mà chưa thể kết thúc được việc điều tra và không có căn cứ xác định phải thay đổi hoặc hủy bỏ biện pháp ngăn chặn tạm giam thì Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao được quyền gia hạn thêm một lần đối với tội phạm nghiêm trọng là không quá một tháng; đối với tội phạm rất nghiêm trọng là không quá hai tháng, đối với tội phạm đặc biệt nghiêm trọng là không quá 04 tháng; Trong trường hợp đặc biệt thời hạn tạm giam được tính đến khi kết thúc điều tra.
  • Nếu phạm phải tội đặc biệt nghiêm trọng khác không phải là tội xâm phạm an ninh quốc gia thì nếu đủ điều kiện có thể gia hạn thêm một lần nữa với thời hạn không quá bốn tháng, riêng đối với các trường hợp đặc biệt không thể hủy bỏ biện pháp tạm giam vì không có căn cứ cho việc hủy bỏ thì việc tạm giam được kéo dài cho đến khi hết giai đoạn điều tra.

7. Trường hợp được gia hạn tạm giam?

Việc gia hạn tạm giam đã được pháp luật quy định một cách cụ thể và chi tiết như sau:

  • Đối với tội ít nghiêm trọng: được gia hạn thêm một lần với thời gian không quá một tháng, tổng thời gian không quá ba tháng;
  • Đối với tội phạm nghiêm trọng: được gia hạn tạm giam một lần nhưng không quá hai tháng, tổng thời gian không quá năm tháng;
  • Đối với tội phạm rất nghiêm trọng: được gia hạn thêm một lần với thời hạn không quá ba tháng, tổng thời gian không quá bảy tháng;
  • Đối với tội phạm đặc biệt nghiêm trọng: có thể được gia hạn thêm hai lần tương ứng với mỗi lần thời hạn không quá bốn tháng, tổng thời gian không quá mười hai tháng.

8. Mục đích tạm giam là gì?

Việc thực hiện áp dụng biện pháp tạm giam nhằm mục đích ngăn chặn những hành vi nguy hiểm của họ trong xã hội, bên cạnh đó ngăn ngừa họ tiếp tục phạm tội và trốn tránh pháp luật hoặc có những hành động gây cản trở cho việc điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án.


9. Những thắc mắc liên quan đến tạm giam?

Qua thực hiện Luật thi hành tạm giữ, tạm giam có thể thấy, luật đã quy định cụ thể và rõ ràng, góp phần tháo gỡ những khó khăn, hạn chế trong công tác quản lý giam, cũng như đảm bảo quyền con người, các quyền và lợi ích hợp pháp của người bị bắt.

Tuy nhiên, qua thực tiễn thi hành, thấy cũng còn những vướng mắc cần có sự hướng dẫn, sửa đổi, bổ sung, cụ thể:


10. Về việc khám sức khỏe cho người bị tạm giữ, tạm giam

Khoản 2 Điều 16 Luật thi hành tạm giữ tạm giam năm 2015 quy định:  Khi tiếp nhận người bị tạm giữ, người bị tạm giam cơ sở giam giữ có trách nhiệm:

Lập biên bản giao nhận người bị tạm giữ, người bị tạm giam, tài liệu, hồ sơ kèm theo; tổ chức khám sức khỏe….

Nhưng hiện nay Nhà tạm giữ không có cán bộ y tế chuyên trách nên cơ bản là kiểm tra các dấu vết bên ngoài, không thể xác định được người bị tạm giữ, tạm giam có bị bệnh truyền nhiễm nguy hiểm, người đồng tính hay chuyển giới để phân loại giam, giữ riêng.

10.1. Việc lập danh, chỉ bản của người bị tạm giữ, người bị tạm giam

Tại khoản 3 Điều 16 Luật thi hành tạm giữ, tạm giam năm 2015 quy định: Khi tiếp nhận người bị tạm giữ, người bị tạm giam, cơ sở giam giữ có trách nhiệm:

Chụp ảnh, lập danh bản, chỉ bản và vào sổ theo dõi người bị tạm giữ, người bị tạm giam.

Tuy nhiên, Luật chưa quy định cụ thể về thời hạn lập danh bản, chỉ bản, do vậy có những trường hợp người bị tạm giữ, người bị tạm giam ở  cơ sở giam giữ trong thời gian dài nhưng chưa tiến hành lập danh bản, chỉ bản.

10.2. Về chế độ của người bị tạm giữ, tạm giam

Theo Điều 27 Luật thi hành tạm giữ, tạm giam quy định về: Chế độ ăn, ở của người bị tạm giữ, người bị tạm giam có quy định sử dụng điện.

Trên thực tế, dù trong 1 buồng tạm giữ hoặc tạm giam, số lượng điện tiêu thụ hầu như không thay đổi và không phụ thuộc vào số người có trong buồng giam đó mà phụ thuộc phần lớn vào số thiết bị sử dụng điện được trang bị cho buồng giam cũng như số thời gian được cung cấp điện và sử dụng thiết bị điện.

Do đó nếu cứ áp dụng quy định này thì rất dễ dẫn đến vi phạm của cơ sở giam giữ bởi số lượng người trong các buồng tạm giữ, tạm giam luôn có sự thay đổi, không thể lúc nào cũng bằng nhau.


11. Cơ sở pháp lý

  • Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017;
  • Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.
  • Luật thi hành tạm giữ, tạm giam năm 2015.

Trên đây là bài tư vấn của chúng tôi về tạm giam và các vấn đề liên quan trong tố tụng hình sự theo quy định pháp luật hiện hành. Qua bài viết này, chúng tôi mong rằng sẽ giúp bạn đọc hiểu rõ hơn về vấn đề này.

Để được tư vấn đầy đủ và chính xác nhất, mời quý khách hàng liên hệ qua Tổng đài tư vấn luật hình sự trực tuyến của HOTLINE 19006588 của Luật Quang Huy để nhận tư vấn thêm về vấn đề mà quý khách hàng đang gặp phải.

Trân trọng./.

5/5 - (3 bình chọn)
Tác giả bài viết
phone-call

GỌI ĐỂ TƯ VẤN MIỄN PHÍ

Scroll to Top