Trang chủ » Tư vấn pháp luật » Luật Hình sự » Bán tài sản thế chấp ngân hàng phạm tội gì?

Bán tài sản thế chấp ngân hàng phạm tội gì?

Bán tài sản thế chấp ngân hàng phạm tội gì?
Nếu bạn có nhu cầu được tư vấn, hỗ trợ về luật hình sự, hãy liên hệ ngay cho luật sư qua hotline cá nhân 0886.886.246Luật sư can thiệp càng sớm, cơ hội bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp càng cao!

Bạn đang băn khoăn không biết liệu bán tài sản thế chấp ngân hàng phạm tội gì không? Có phải đi tù không? Mời bạn theo dõi bài viết sau đây của Luật Quang Huy để được giải đáp vấn đề này nhé.


1. Trách nhiệm dân sự khi bán tài sản thế chấp ngân hàng

Theo Điều 308 Bộ luật dân sự năm 2015, thứ tự thực hiện trách nhiệm dân sự khi bán tài sản đang thế chấp tại ngân hàng được quy định như sau:

  • Trường hợp các biện pháp bảo đảm đều phát sinh hiệu lực đối kháng với người thứ ba thì thứ tự thanh toán được xác định theo thứ tự xác lập hiệu lực đối kháng;
  • Trường hợp có biện pháp bảo đảm phát sinh hiệu lực đối kháng với người thứ ba và có biện pháp bảo đảm không phát sinh hiệu lực đối kháng với người thứ ba thì nghĩa vụ có biện pháp bảo đảm có hiệu lực đối kháng với người thứ ba được thanh toán trước;
  • Trường hợp các biện pháp bảo đảm đều không phát sinh hiệu lực đối kháng với người thứ ba thì thứ tự thanh toán được xác định theo thứ tự xác lập biện pháp bảo đảm.
  • Thứ tự ưu tiên thanh toán có thể thay đổi, nếu các bên cùng nhận bảo đảm có thỏa thuận thay đổi thứ tự ưu tiên thanh toán cho nhau. Bên thế quyền ưu tiên thanh toán chỉ được ưu tiên thanh toán trong phạm vi bảo đảm của bên mà mình thế quyền.

Có thể nói, việc thông báo và được sự đồng ý của ngân hàng khi có ý định bán tài sản thế chấp là thủ tục có ý nghĩa cực kỳ quan trọng. Nếu bên thế chấp không thông báo hoặc thông báo nhưng chưa được sự cho phép của ngân hàng mà tự ý bán tài sản thế chấp sẽ phải đối mặt với các rủi ro pháp lý sau:

  • Hợp đồng bán tài sản đang được thế chấp cho bên thứ ba có thể bị vô hiệu do vi phạm điều cấm của luật theo Điều 123 và Điều 407 Bộ luật dân sự năm 2015. Cụ thể, Bộ luật dân sự năm 2015 không cho phép bên thế chấp bán tài sản thế chấp, trừ trường hợp được phép theo quy định pháp luật.
  • Việc tự ý bán tài sản thế chấp sẽ vi phạm quy định tại khoản 8 Điều 320 Bộ luật dân sự năm 2015.
  • Khi hợp đồng vô hiệu, tất cả sẽ được khôi phục về tình trạng ban đầu, đồng thời bên thế chấp có thể sẽ phải bồi thường những thiệt hại phát sinh cho bên bị thiệt hại.
  • Bên thế chấp sẽ bị áp dụng các trách nhiệm do bên ngân hàng quy định theo hợp đồng thế chấp. Thông thường, những biện pháp được áp dụng sẽ gây thiệt hại cho bên thế chấp như bồi thường thiệt hại, phạt vi phạm,… Ngoài ra, bên nhận thế chấp có thể khởi kiện bên thế chấp tại Tòa án có thẩm quyền.

Ví dụ: Tháng 6, ông N vay của Ngân hàng 350 triệu đồng, tài sản thế chấp là xe ôtô của ông N. Trong thời gian thế chấp, ông N đã tự ý cầm cố chiếc xe trên cho bà T để vay 400 triệu đồng. Sau đó, vào tháng 12, ông N lấy lý do bị mất giấy tờ xe, xin cấp lại giấy chứng nhận đăng ký xe ôtô rồi làm thủ tục bán xe ôtô này cho bà T với giá 480 triệu đồng. Trong trường hợp này, ta xét về trách nhiệm dân sự của ông N khi bán tài sản thế chấp ngân hàng như sau:

Cả 2 giao dịch bảo đảm đối với xe ôtô (thế chấp cho ngân hàng và cầm cố cho bà T) đều không đăng ký giao dịch bảo đảm. Giả sử về mặt hình thức cả 2 giao dịch bảo đảm đều hợp lệ, căn cứ theo quy định tại Điều 308 Bộ luật dân sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017:

  • Tài sản thế chấp là xe ô tô vẫn được ưu tiên dùng để thanh toán nợ cho ngân hàng, vì giao dịch thế chấp xe ôtô được xác lập trước giao dịch cầm cố, tức việc cầm cố xe của ông N và bà T không ảnh hưởng đến quyền lợi của ngân hàng.
  • Trường hợp tài sản thế chấp là xe ô tô đã bị hạn chế giao dịch (ngân hàng không cho phép ông N bán tài sản thế chấp là xe ô tô), hợp đồng mua bán xe của ông N với bà T sẽ bị vô hiệu do vi phạm điều cấm của luật.

Như vậy, dù tài sản bảo đảm là xe ôtô đã bị ông N cầm cố, bán để tẩu tán thì về pháp lý nếu tài sản còn tồn tại (vật chất) thì vẫn được thu hồi để ưu tiên thanh toán nợ cho ngân hàng.

Bán tài sản thế chấp ngân hàng phạm tội gì?
Bán tài sản thế chấp ngân hàng phạm tội gì?

2. Bán tài sản thế chấp ngân hàng phạm tội gì?

Tiếp tục với ví dụ nêu trên, câu hỏi đặt ra là dưới góc độ pháp luật hình sự thì hành vi bán tài sản thế chấp ngân hàng của ông N có cấu thành tội phạm hay không? Trong vụ việc này, hành vi của ông N có cấu thành tội phạm hay không phụ thuộc nhiều vào cách mà ông N đã tác động vào ý chí chủ quan của bà T khi tham gia giao dịch cầm cố và mua bán tài sản thế chấp ngân hàng với nhau. Cụ thế cách xác định tội danh như sau:

2.1. Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản

Theo quy định tại Điều 175 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017, tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản cấu thành khi:

Người nào bằng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:

  • Đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi chiếm đoạt tài sản mà còn vi phạm;
  • Đã bị kết án về tội này hoặc về một trong các tội quy định tại các Điều 168, 169, 170, 171, 172, 173, 175 và 290 của Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm;
  • Gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội;
  • Tài sản là phương tiện kiếm sống chính của người bị hại và gia đình họ.

Theo đó, khi cầm cố để vay tiền hoặc khi thỏa thuận bán xe cho bà T, nếu ông N không hề thông báo cho bà T biết rằng xe ô tô đang thế chấp cho ngân hàng, hoặc ông N có hành vi khác làm bà T nhầm tưởng xe ôtô của ông N không bị hạn chế giao dịch và đủ điều kiện mua bán thì hành vi của ông N sẽ cấu thành tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản.

Ngược lại, nếu bà T đã được ông N cho biết (hoặc pháp luật quy định buộc bà T phải biết) xe ôtô đang là tài sản thế chấp nhưng vì lý do nào đó mà vẫn chấp nhận giao dịch thì ông N không phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản của bà T. Trong trường hợp này, các bên tự giải quyết các trách nhiệm dân sự theo thỏa thuận, hoặc bà T có quyền khởi kiện để đòi N trả tiền chứ không thể đòi hỏi được công nhận quyền sở hữu đối với xe ôtô.

2.2. Tội danh lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản

Theo quy định tại Điều 175 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017, tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản có thể cấu thành khi:

Thực hiện một trong các hành vi sau đây chiếm đoạt tài sản của người khác trị giá từ 4.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 4.000.000 đồng nhưng đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi chiếm đoạt tài sản hoặc đã bị kết án về tội này hoặc về một trong các tội quy định tại các Điều 168, 169, 170, 171, 172, 173, 174 và 290 của Bộ luật hình sự, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm hoặc tài sản là phương tiện kiếm sống chính của người bị hại và gia đình họ, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:

  • Vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng hình thức hợp đồng rồi dùng thủ đoạn gian dối hoặc bỏ trốn để chiếm đoạt tài sản đó hoặc đến thời hạn trả lại tài sản mặc dù có điều kiện, khả năng nhưng cố tình không trả;
  • Vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng hình thức hợp đồng và đã sử dụng tài sản đó vào mục đích bất hợp pháp dẫn đến không có khả năng trả lại tài sản.

Theo đó, có hai trường hợp xảy ra:

2.2.1. Trường hợp thông qua giao dịch nhận tiền vay hợp lệ nhưng cầm cố không hợp lệ

Nếu sau khi thế chấp tài sản cho ngân hàng, ông N đã dùng thủ đoạn gian dối hoặc bỏ trốn để chiếm đoạt tiền vay, hoặc sử dụng tiền vay vào mục đích bất hợp pháp dẫn đến không có khả năng trả nợ, hành vi này của ông N sẽ cấu thành tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản.

Trong đó, tiền chiếm đoạt là tiền vay của ngân hàng. Trường hợp ông đã có hành vi gian dối với bà T để bán tài sản bảo đảm thì ngoài việc bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản, hành vi này còn được tiếp tục xem là thủ đoạn gian dối để chiếm đoạt tiền vay của ngân hàng, có thể truy cứu trách nhiệm thêm về tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản.

2.2.2. Trường hợp thông qua giao dịch nhận tiền vay và cầm cố hợp lệ

Nếu thông qua giao dịch nhận tiền vay và cầm cố hợp lệ (tức ông N không gian dối gì với bà T), nhưng sau đó lại dùng thủ đoạn gian dối như nói dối là xe đã được ngân hàng giải chấp để bán xe cho bà T.

Sau đó khấu trừ tiền vay phải trả cho bà T vào tiền bán xe, hoặc bỏ trốn để chiếm đoạt tiền vay, hoặc đã sử dụng tiền vay vào mục đích bất hợp pháp dẫn đến không có khả năng trả nợ cho bà T, khi đó hành vi của ông N sẽ cấu thành tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản (của bà T).

Tương tự trên, ngoài gian dối với bà T để bán tài sản thế chấp, hành vi của ông N còn có thủ đoạn gian dối nhằm chiếm đoạt tài sản là khoản tiền vay phải trả cho ngân hàng.

Như vậy, hành vi này của ông N sẽ cấu thành tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản đối với cả bà T và ngân hàng.

Tóm lại, nếu ông N không có những dấu hiệu lừa đảo chiếm đoạt tài sản hoặc làm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản theo quy định của Bộ luật hình sự thì chưa có căn cứ truy cứu trách nhiệm hình sự với ông N.

Trong trường hợp này, giao dịch mua bán xe của ông N và bà T chỉ là giao dịch dân sự vô hiệu do vi phạm điều cấm của luật và các bên buộc phải hoàn trả cho nhau những gì đã nhận và bồi thường thiệt hại nếu có.


3. Cơ sở pháp lý

  • Bộ luật dân sự năm 2015;
  • Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Trên đây là bài tư vấn, giải đáp của chúng tôi về thắc mắc bán tài sản thế chấp ngân hàng phạm tội gì. Qua bài viết này, chúng tôi mong rằng sẽ giúp các bạn hiểu rõ hơn về vấn đề này.

Để được tư vấn đầy đủ và chính xác nhất, mời quý khách hàng liên hệ tới Tổng đài tư vấn Luật hình sự trực tuyến qua HOTLINE 19006588 của Luật Quang Huy để nhận tư vấn thêm về vấn đề mà quý khách hàng đang gặp phải.

Trân trọng./.

5/5 - (1 bình chọn)
phone-call

GỌI ĐỂ TƯ VẤN MIỄN PHÍ

Scroll to Top