Nghị định 266/2026/NĐ-CP do Chính phủ ban hành ngày 01/7/2026 quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Tiết kiệm, chống lãng phí số 110/2025/QH15. Văn bản này hướng dẫn cụ thể 9 nhóm điều khoản của Luật, xác định rõ các hành vi gây lãng phí và hậu quả làm căn cứ xử lý trách nhiệm. Nếu bạn là cán bộ, công chức, viên chức hoặc quản lý doanh nghiệp nhà nước, đây là văn bản bạn bắt buộc phải nắm.

📋 Mục lục bài viết
- Nghị định 266/2026/NĐ-CP áp dụng cho những ai?
- Bảy nhóm hành vi gây lãng phí theo Nghị định 266/2026/NĐ-CP
- Hành vi gây lãng phí trong tổ chức bộ máy và quản lý lao động
- Hành vi cố ý kéo dài tiến độ dự án đầu tư công
- Hành vi gây lãng phí trong khai thác tài nguyên, năng lượng
- Hậu quả nào được xác định là gây lãng phí?
- Nguyên tắc xác định hành vi gây lãng phí theo Điều 3
- Nhóm hành vi vi phạm trong tổ chức thực hiện phòng, chống lãng phí
- Tình huống thực tế: Trụ sở làm việc bỏ trống 13 tháng
- Lời khuyên từ luật sư
- Câu hỏi thường gặp
- Câu hỏi: Nghị định 266/2026/NĐ-CP có hiệu lực từ ngày nào?
- Câu hỏi: Doanh nghiệp tư nhân có thuộc đối tượng áp dụng Nghị định 266/2026/NĐ-CP không?
- Câu hỏi: Ai có thẩm quyền xác định hành vi gây lãng phí?
Nghị định 266/2026/NĐ-CP áp dụng cho những ai?
Theo Điều 2 Nghị định 266/2026/NĐ-CP, đối tượng áp dụng bao gồm:
- Tổ chức chính trị, cơ quan nhà nước;
- Mặt trận Tổ quốc Việt Nam;
- Đơn vị lực lượng vũ trang;
- Đơn vị sự nghiệp công lập;
- Doanh nghiệp nhà nước;
- Cán bộ, công chức, viên chức, người lao động trong khu vực nhà nước;
- Doanh nghiệp, tổ chức, hộ gia đình, cá nhân khác có liên quan.
Đáng chú ý, phạm vi điều chỉnh tại Điều 1 Nghị định không chỉ giới hạn ở khu vực công. Cá nhân và doanh nghiệp tư nhân vẫn có thể bị xem xét nếu hành vi của họ liên quan đến việc gây lãng phí nguồn lực nhà nước, đất đai hoặc tài nguyên quốc gia.
Bảy nhóm hành vi gây lãng phí theo Nghị định 266/2026/NĐ-CP
Điều 4 Nghị định 266/2026/NĐ-CP liệt kê các hành vi gây lãng phí cụ thể, ngoài những hành vi đã quy định tại Điều 4 Luật số 110/2025/QH15. Cụ thể:
Hành vi gây lãng phí trong tổ chức bộ máy và quản lý lao động
Khoản 2 Điều 4 Nghị định xác định 11 hành vi cụ thể trong khu vực nhà nước, bao gồm:
- Thành lập, tổ chức lại cơ quan không đảm bảo điều kiện, tiêu chí, trình tự, thủ tục;
- Bố trí số lượng cấp phó vượt mức quy định;
- Giao biên chế không phù hợp căn cứ xác định biên chế công chức;
- Tuyển dụng công chức không đúng thẩm quyền, không căn cứ vào vị trí việc làm và chỉ tiêu biên chế;
- Ký hợp đồng thực hiện nhiệm vụ công chức không đúng thẩm quyền, tiêu chuẩn, loại hợp đồng và thời hạn;
- Tuyển dụng viên chức không căn cứ nhu cầu thực tế, vị trí việc làm, quỹ tiền lương;
- Ký hợp đồng làm việc với viên chức không phù hợp quy định;
- Ký hợp đồng lao động, hợp đồng dịch vụ không phù hợp tính chất, nguồn tài chính;
- Áp dụng chính sách thu hút người có tài năng không đúng quy định;
- Điều động, luân chuyển, biệt phái công chức không căn cứ năng lực và nhu cầu;
- Đào tạo, bồi dưỡng không căn cứ vị trí việc làm gắn với công tác sử dụng, quản lý công chức.
Hành vi cố ý kéo dài tiến độ dự án đầu tư công
Khoản 3 Điều 4 Nghị định xác định hành vi cố ý đầu tư xây dựng, quản lý, sử dụng tài sản công, vốn đầu tư công không đúng quy định dẫn đến kéo dài thời gian, tiến độ thực hiện dự án so với phê duyệt là hành vi gây lãng phí.
Hành vi gây lãng phí trong khai thác tài nguyên, năng lượng
Khoản 4 Điều 4 Nghị định quy định 2 hành vi cụ thể:
- Khai thác nước vượt hạn ngạch được cơ quan có thẩm quyền quyết định, gây ra hạn hán, thiếu nước;
- Phê duyệt kết quả lựa chọn nhà đầu tư dự án có sử dụng đất không đảm bảo điều kiện năng lực, dẫn đến đất không được sử dụng hoặc chậm tiến độ, thuộc trường hợp phải thu hồi đất.
Hậu quả nào được xác định là gây lãng phí?
Điều 5 Nghị định 266/2026/NĐ-CP quy định chi tiết các hậu quả làm căn cứ xác định hành vi gây lãng phí. Theo đó, hành vi chỉ bị coi là gây lãng phí khi phát sinh một trong các hậu quả cụ thể sau:
- Thất thoát ngân sách nhà nước, tài sản công, tài nguyên quốc gia;
- Làm tăng chi ngân sách nhà nước;
- Phát sinh kinh phí ngân sách để phá dỡ công trình hoặc xử lý, khôi phục, bồi thường thiệt hại;
- Kéo dài thời gian, tiến độ thực hiện dự án so với phê duyệt;
- Tài sản công được mua sắm vượt định mức, tiêu chuẩn;
- Tài sản công là trụ sở làm việc không được đưa vào sử dụng liên tục quá 12 tháng;
- Làm giảm thu ngân sách nhà nước;
- Đất không được trả lại theo quyết định thu hồi đất của cơ quan có thẩm quyền;
- Đất để thực hiện dự án không được sử dụng hoặc chậm tiến độ so với dự án đầu tư.
Một điểm đáng chú ý: khoản 8 Điều 5 xác định hành vi trong tổ chức bộ máy và quản lý lao động (theo khoản 2 Điều 4 Nghị định) chỉ được coi là gây lãng phí khi làm tăng chi ngân sách nhà nước. Quy định này thu hẹp phạm vi so với cách hiểu thông thường, đòi hỏi cơ quan thanh tra phải chứng minh được hậu quả tài chính cụ thể.
Nguyên tắc xác định hành vi gây lãng phí theo Điều 3
Điều 3 Nghị định 266/2026/NĐ-CP quy định nguyên tắc xác định hành vi gây lãng phí. Theo đó, việc xác định phải được thể hiện trong kết luận của cơ quan nhà nước có thẩm quyền thông qua công tác thanh tra, kiểm tra, kiểm toán, điều tra hoặc giải quyết tố cáo.
Cơ quan có thẩm quyền phải phân tích, đánh giá đầy đủ cả nguyên nhân khách quan và chủ quan của hành vi, gắn với hậu quả lãng phí thực tế. Quy định này bảo vệ quyền lợi của tổ chức, cá nhân, tránh việc quy kết tùy tiện.
Khoản 5 Điều 4 Nghị định cũng ghi nhận: tổ chức, cá nhân có hành vi gây lãng phí được xem xét loại trừ, miễn, giảm trách nhiệm theo khoản 3 Điều 37 Luật số 110/2025/QH15 và quy định pháp luật có liên quan.
Nhóm hành vi vi phạm trong tổ chức thực hiện phòng, chống lãng phí
Điều 6 Nghị định 266/2026/NĐ-CP cụ thể hóa nhóm hành vi vi phạm tại khoản 1 Điều 5 Luật số 110/2025/QH15, bao gồm 4 nhóm chính:
- Vi phạm về thời hạn, nội dung Chương trình tiết kiệm, chống lãng phí: không ban hành hoặc ban hành không đúng thời hạn, không đảm bảo đầy đủ nội dung theo quy định.
- Vi phạm trong thực hiện nhiệm vụ, chỉ tiêu, biện pháp tiết kiệm: không tổ chức thực hiện, thực hiện không đầy đủ, không đúng tiến độ hoặc không phân công trách nhiệm.
- Vi phạm về thời hạn, nội dung báo cáo kết quả: không báo cáo, báo cáo không đúng thời hạn, không đầy đủ nội dung hoặc cố ý báo cáo không chính xác, không trung thực về số liệu.
- Vi phạm về cập nhật cơ sở dữ liệu quốc gia về tiết kiệm, chống lãng phí: không cập nhật hoặc cập nhật không đầy đủ dữ liệu.
Tình huống thực tế: Trụ sở làm việc bỏ trống 13 tháng
Giả sử một sở X được giao trụ sở làm việc mới với diện tích 3.000 m². Sau khi hoàn thành xây dựng và bàn giao, sở này không đưa trụ sở vào sử dụng, để trống liên tục 13 tháng do chưa sắp xếp xong nhân sự.
Theo điểm c khoản 4 Điều 5 Nghị định 266/2026/NĐ-CP, hành vi này được xác định là gây lãng phí vì tài sản công là trụ sở làm việc không được đưa vào sử dụng liên tục quá 12 tháng. Cơ quan thanh tra có căn cứ kết luận lãng phí và xử lý trách nhiệm người đứng đầu.
Bên cạnh đó, nếu phát sinh kinh phí ngân sách để bảo quản, bảo vệ, vận hành, bảo dưỡng trụ sở trong thời gian bỏ trống, đây tiếp tục là hậu quả lãng phí theo điểm d khoản 4 Điều 5 Nghị định.
Lời khuyên từ luật sư
Với vai trò tư vấn pháp lý cho nhiều cơ quan nhà nước và doanh nghiệp nhà nước, chúng tôi khuyến nghị bạn lưu ý 5 điểm sau:
- Rà soát ngay các quyết định bổ nhiệm cấp phó, giao biên chế, tuyển dụng trong đơn vị để đảm bảo không thuộc 11 hành vi tại khoản 2 Điều 4 Nghị định.
- Kiểm tra tình trạng sử dụng tài sản công: trụ sở làm việc không được đưa vào sử dụng quá 12 tháng là ngưỡng cứng, cần có biện pháp xử lý kịp thời.
- Xây dựng Chương trình tiết kiệm, chống lãng phí đúng thời hạn và đầy đủ nội dung để tránh vi phạm theo khoản 1 Điều 6 Nghị định.
- Báo cáo trung thực, chính xác số liệu — hành vi cố ý báo cáo sai là vi phạm độc lập, có thể bị xử lý ngay cả khi chưa phát sinh hậu quả lãng phí.
- Lưu trữ đầy đủ hồ sơ, tài liệu chứng minh nguyên nhân khách quan của mọi chậm trễ, vượt định mức để được xem xét loại trừ, miễn, giảm trách nhiệm theo khoản 5 Điều 4 Nghị định.
Nghị định 266/2026/NĐ-CP có hiệu lực từ ngày 01/7/2026. Các cơ quan, tổ chức cần khẩn trương phổ biến, quán triệt và điều chỉnh quy trình nội bộ để đảm bảo tuân thủ.
Câu hỏi thường gặp
Câu hỏi: Nghị định 266/2026/NĐ-CP có hiệu lực từ ngày nào?
Nghị định 266/2026/NĐ-CP được Chính phủ ban hành ngày 01/7/2026. Văn bản quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Điều 4, Điều 5, khoản 2 Điều 9, khoản 3 Điều 12, Điều 13, Điều 15, khoản 2 Điều 16, Điều 17 và khoản 2 Điều 24 Luật Tiết kiệm, chống lãng phí số 110/2025/QH15.
Câu hỏi: Doanh nghiệp tư nhân có thuộc đối tượng áp dụng Nghị định 266/2026/NĐ-CP không?
Có, trong một số trường hợp. Khoản 7 Điều 2 Nghị định quy định đối tượng áp dụng bao gồm “doanh nghiệp, tổ chức, hộ gia đình, cá nhân khác có liên quan đến công tác tiết kiệm, chống lãng phí”. Do đó, doanh nghiệp tư nhân vẫn có thể bị xem xét nếu hành vi của họ liên quan đến việc gây lãng phí nguồn lực nhà nước, đất đai hoặc tài nguyên quốc gia.
Câu hỏi: Ai có thẩm quyền xác định hành vi gây lãng phí?
Theo Điều 3 Nghị định 266/2026/NĐ-CP, việc xác định hành vi gây lãng phí phải được thể hiện trong kết luận của cơ quan nhà nước có thẩm quyền thông qua công tác thanh tra, kiểm tra, kiểm toán, điều tra hoặc giải quyết tố cáo. Cơ quan này phải phân tích, đánh giá đầy đủ nguyên nhân khách quan và chủ quan của hành vi gắn với hậu quả lãng phí thực tế.
Bạn đang cần Luật sư tư vấn pháp luật trực tiếp?
Kết nối ngay với tổng đài Luật Quang Huy để nhận ý kiến tư vấn pháp lý nhanh chóng, bảo mật và hoàn toàn chính xác từ đội ngũ Luật sư chuyên môn.



