Trang chủ » Tư vấn pháp luật » Luật Hình sự » Tâm lý tội phạm là gì? Phân tích tâm lý tội phạm

Tâm lý tội phạm là gì? Phân tích tâm lý tội phạm

Tâm lý tội phạm là gì? Phân tích tâm lý tội phạm
Nếu bạn có nhu cầu được tư vấn, hỗ trợ về luật hình sự, hãy liên hệ ngay cho luật sư qua hotline cá nhân 0886.886.246Luật sư can thiệp càng sớm, cơ hội bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp càng cao!

Việc nghiên cứu đến tâm lý tội phạm có ý nghĩa quan trọng trong việc nghiên cứu tội phạm và phát hiện ra người phạm tội. Hãy cùng Luật Quang Huy tìm hiểu thêm vấn đề này tại nội dung bài viết sau đây.


1. Tâm lý tội phạm là gì?

Tâm lý tội phạm là trạng thái tư tưởng, tình cảm, suy nghĩ của tội phạm có liên quan đến việc chuẩn bị và thực hiện tội phạm, sự hình thành tâm lý phạm tội, ý đồ phạm tội và những biện pháp, phương thức thực hiện tội phạm.

Mỗi tội phạm sẽ có một trạng thái tâm lý riêng, do đó trong công tác đấu tranh về phòng chống tội phạm, các cơ quan bảo vệ pháp luật đều cần phải nghiên cứu, phân tích, nắm chắc tâm lý tội phạm; về ý đồ phạm tội, cách thức, hành vi và phương pháp thực hiện tội phạm.


2. Tâm lý học tội phạm là gì?

Tâm lý học tội phạm là khoa học nghiên cứu những hiện tượng tâm lý nảy sinh trong quá trình hoạt động phạm tội của các tội phạm để nhằm phòng ngừa, phát hiện và đấu tranh chống tội phạm, góp phần bảo vệ an ninh quốc gia, an toàn xã hội.

Tâm lý học tội phạm là một chuyên ngành của sự ứng dụng tâm lý học vào các mối quan hệ khác nhau của con người, thông qua việc phân tích hành vi của con người để đi từ kiểm tra, sưu tâm và đưa ra được các chứng cứ có ích trong việc điều tra, xét xử.

Để nắm chắc về tâm lý của tội phạm cũng như để có những phương pháp, biện pháp thích hợp phục vụ yêu cầu đấu tranh, khai thác, cũng như trong quá trình cảm hoá giáo dục đối tượng, các cơ quan bảo vệ pháp luật nói chung và trong lực lượng công an nói riêng thì vấn đề “tâm lý tội phạm” đã được nâng lên thành một bộ môn trong ngành tâm lý học (gọi là tâm lý học tội phạm).


3. Các yếu tố của tội phạm

Nghiên cứu về mặt cấu trúc, tội phạm có đặc điểm chung là đều được hợp thành bởi những yếu tố nhất định, tồn tại không tách rời nhau nhưng có thể cho phép nghiên cứu độc lập với nhau. Theo khoa học luật hình sự Việt Nam, những yếu tố cấu thành nên tội phạm bao gồm:

  • Chủ thể của tội phạm;
  • Mặt khách quan của tội phạm;
  • Mặt chủ quan của tội phạm;
  • Khách thể của tội phạm.

Trong thực tế, mỗi yếu tố chỉ tồn tại với tư cách là bộ phận cấu thành của thể thống nhất là tội phạm. Thiếu bất kì yếu tố nào cũng không có tội phạm.


4. Cấu trúc tâm lý của hành vi tội phạm

Thành phần cấu trúc của hành vi phạm tội trong tâm lý tội phạm bao gồm:

4.1. Thứ nhất: Nhu cầu

Nhu cầu là sự phản ánh cảm giác thiếu hụt một điều gì đó của con người đối với môi trường bên ngoài. Nó làm cho con người luôn cảm thấy thiếu thốn và phải tìm cách hành động để bù đắp vào những khoảng trống đó. Chính vì vậy, nhu cầu là nguyên nhân sâu xa bên trong hành vi. Mọi hành động của con người đều trực tiếp hoặc gián tiếp liên quan đến sự thỏa mãn nhu cầu bản thân.

4.2. Thứ hai: Động cơ phạm tội

Động cơ phạm tội là các yếu tố tâm lý bên trong thúc đẩy người phạm tội thực hiện hành vi phạm tội. Đó có thể là những xúc cảm, tình cảm, mong muốn, những hình ảnh tâm lý…

Cơ sở của động cơ là hệ thống nhu cầu. Tuy nhiên, không phải bất cứ nhu cầu nào cũng trở thành động cơ thúc đẩy việc thực hiện hành vi. Khi nhu cầu không được thỏa mãn được sự tác động tương thích của điều kiện bên ngoài thì nó mới trở thành động cơ. Quá trình tâm lý học gọi là “động cơ hóa”.

Động cơ và hành vi thúc đẩy có thể không cùng tính chất với nhau. Một động cơ tốt cũng có thể dẫn đến việc phạm tội.

4.3. Thứ ba: Mục đích phạm tội

Mục đích phạm tội sẽ là kết quả mà người phạm tội mong muốn đạt được bằng việc thực hiện hành vi phạm tội. Nói cách khác, nó là kết quả đã được người phạm tội hình thành lên trong đầu óc mình trước khi thực hiện hành vi phạm tội.

Mục đích phạm tội được xác định trên cơ sở động cơ. Động cơ thúc đẩy mà con người đề ra cho mình những mục đích cụ thể. Chúng thực hiện chức năng nhận thức và khách thể của hành vi, định hướng và điều khiển hành vi.

Ngoài ra, mục đích sau khi được xác định rõ ràng cũng có tác động lôi cuốn con người thực hiện hành động. Trong thực tế, giữa động cơ và mục đích phạm tội không phải là hai hiện tượng tâm lý khác nhau. Chức năng chủ yếu của động cơ là động lực thúc đẩy hành vi, còn mục đích là định hướng và điều khiển hành vi.

Cùng một loạt động cơ thúc đẩy nhưng do đặc điểm tâm lý và điều kiện, hoàn cảnh của mỗi người khác nhau nên họ có những mục đích và cách thức thực hiện khác nhau. Như vậy, một mục đích có thể được xác định dựa trên cơ sở của những động cơ thúc đẩy khác nhau.

4.4. Thứ tư: Quyết định thực hiện hành vi phạm tội

Trong những hành vi phạm tội với lỗi cố ý, sau khi xuất hiện động cơ, mục đích và lập kế hoạch thực hiện, người phạm tội thường cân nhắc một lần nữa có thực hiện hành động để đạt được mục đích đã định hay không?

Vì vậy, quyết định thực hiện hành vi phạm tội là sự lựa chọn cuối cùng của người phạm tội về mục đích, phương án, phương tiện phạm tội, thể hiện ý chí và lý trí của người phạm tội cũng như thái độ của họ đối với hành vi phạm tội và hậu quả.

Tâm lý tội phạm là gì? Phân tích tâm lý tội phạm
Tâm lý tội phạm là gì? Phân tích tâm lý tội phạm

5. Chủ thể của tội phạm là gì?

Chủ thể của tội phạm là người có năng lực trách nhiệm hình sự (năng lực nhận thức, năng lực điều khiển hành vi và đạt độ tuổi theo quy định của pháp luật) đã thực hiện hành vi phạm tội. Ở một số tội nhất định, chủ thể còn có thêm đặc điểm khác vì khi có đặc điểm khác chủ thể có thể thực hiện được hành vi phạm tội của các tội này.

Ví dụ: Chỉ người có chức vụ, quyền hạn mới có thể thực hiện được hành vi phạm tội có dấu hiệu “lợi dụng chức vụ, quyền hạn”? Bất cứ tội phạm cụ thể nào cũng phải có chủ thể. Không có chủ thể của tội phạm thì không có tội phạm.

Chủ thể của tội phạm phải là một người cụ thể đang sống. Khi người phạm tội còn sống họ mới nguy hiểm cho xã hội, cần giáo dục để họ trở thành người có ích cho xã hội. Chỉ con người đang sống mới cần cải tạo, giáo dục.

Luật hình sự Việt Nam quy định chủ thể là con người cụ thể thực hiện hành vi phạm tội. Như vậy, pháp luật hình sự không cho phép người khác chịu trách nhiệm hình sự thay cho người phạm tội, kể cả họ là người thân thích ruột thịt.

Đây là nguyên tắc cá nhân hóa, cụ thể hóa trách nhiệm hình sự. Pháp luật hình sự không cho phép truy cứu trách nhiệm hình sự người đã chết. Sau khi phạm tội, trước khi bị khởi tố nếu người phạm tội đã chết thì không được khởi tố vụ án hình sự. Trong quá trình điều tra, nếu người phạm tội đã chết thì phải đình chỉ vụ án với họ.

Chủ thể của tội phạm phải là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự. Chỉ những người đủ năng lực trách nhiệm hình sự mới hiểu rõ hành vi của mình đúng hay sai, mới điều khiển được, tự chủ được hành vi của mình.

Người đủ năng lực trách nhiệm hình sự là người không mắc bệnh tâm thần hoặc bệnh tật làm mất khả năng nhận thức hoặc tự chủ hành vi của mình. Pháp luật Việt Nam dựa vào hai tiêu chuẩn để xác định năng lực trách nhiệm hình sự: tiêu chuẩn y học và tiêu chuẩn tâm lý.

  • Theo tiêu chuẩn y học chủ thể tội phạm phải là người không đang trong thời kỳ mắc bệnh tâm thần hoặc bệnh hiểm nghèo khác làm mất khả năng nhận thức và tự chủ hành vi của mình.
  • Theo tiêu chuẩn tâm lý: chủ thể tội phạm phải là người nhận thức và tự chủ được hành vi của mình, là người hiểu được bản chất hành vi, điều khiển được hành vi.

Chủ thể tội phạm phải là người đủ độ tuổi chịu trách nhiệm hình sự. Căn cứ theo Điều 12 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 quy định: người từ đủ 16 tuổi trở lên phải chịu trách nhiệm hình sự về mọi tội phạm; người từ đủ 14 tuổi trở lên, nhưng chưa đủ 16 tuổi phải chịu trách nhiệm hình sự về tội phạm rất nghiêm trọng do cố ý hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng.

Độ tuổi theo quy định của Bộ luật Hình sự là tuổi tròn tính từ ngày tháng năm sinh đến ngày tháng năm sinh. Việc xác định độ tuổi được căn cứ vào giấy khai sinh, sổ hộ khẩu. Trường hợp không xác định được độ tuổi thì phải tiến hành giám định độ tuổi.

Ngoài những dấu hiệu nói trên, có những tội phạm phải do chủ thể có điều kiện đặc biệt mới thực hiện được. Dấu hiệu chủ thể đặc biệt bao gồm dấu hiệu về chức vụ, quyền hạn; dấu hiệu nghề nghiệp, tính chất công việc; dấu hiệu giới tính, dấu hiệu quan hệ gia đinh, họ hàng.

Nhân thân người phạm tội tuy không phải là dấu hiệu của chủ thể, nhưng khi truy cứu trách nhiệm hình sự bao giờ cũng phải làm rõ những đặc điểm về nhân thân người phạm tội, điều đặc biệt coi trọng là những đặc điểm về lai lịch tư pháp của họ như tiền án, tiền sự áp dụng hình phạt thỏa đáng, nhằm đạt hiệu quả giáo dục, cải tạo người phạm tội.


6. Mặt khách quan của tội phạm là gì?

Mặt khách quan của tội phạm là những biểu hiện bên ngoài của tội phạm. Biểu hiện cơ bản của mặt khách quan là hành vi khách quan có tính gây thiệt hại cho xã hội thường được gọi là hành vi khách quan.

Biểu hiện thứ hai của mặt khách quan là hậu quả thiệt hại (do hành vi khách quan gây ra) thường được gọi là hậu quả của tội phạm. Ngoài hai biểu hiện này, còn có các biểu hiện khác của mặt khách quan là công cụ, phương tiện được sử dụng, thời gian, địa điểm mà hành vi khách quan xảy ra…

Tội phạm cụ thể nào cũng đều có những biểu hiện của mặt khách quan được thể hiện ra bên ngoài. Không có những biểu hiện ra bên ngoài đó thì không có những yếu tố khác của tội phạm và do vậy cũng không có tội phạm.


7. Mặt chủ quan của tội phạm là gì?

Mặt chủ quan của tội phạm là những biểu hiện tâm lý bên trong của tội phạm. Trong đó, biểu hiện có tính cơ bản là lỗi của chủ thể. Chủ thể của tội phạm phải có lỗi khi thực hiện hành vi khách quan có tính gây thiệt hại. Lỗi đó có thể là cố ý hoặc vô ý.

Việc thực hiện hành vi khách quan có tính gây thiệt hại có thể do những động cơ khác nhau thúc đẩy và nhằm những mục đích nhất định. Các động cơ, mục đích này được gọi ở các tội cố ý là động cơ phạm tội, mục đích phạm tội.


8. Khách thể của tội phạm là gì?

Khách thể của tội phạm là quan hệ xã hội bị tội phạm xâm phạm. Bất cứ hành vi phạm tội nào cũng đều gây thiệt hại hoặc hướng tới gây thiệt hại cho quan hệ xã hội nhất định được luật hình sự bảo vệ.

Không gây thiệt hại hoặc hướng tới gây thiệt hại cho đối tượng là quan hệ xã hội được luật hình sự bảo vệ thì hành vi khách quan không có tính gây thiệt hại và do vậy cũng không có tội phạm.

Ví dụ: Tội giết người xâm phạm quan hệ nhân thân; tội trộm cắp tài sản xâm phạm quan hệ sở hữu…

Tóm lại, theo luật hình sự Việt Nam, bất cứ hành vi phạm tội nào, dù ít nghiêm trọng, nghiêm trọng, rất nghiêm trọng hay đặc biệt nghiêm trọng, dù bị quy định bởi hình phạt tù chung thân, tử hình hay chỉ là hình phạt tiền cũng đều là thể thống nhất giữa mặt khách quan và mặt chủ quan – giữa những biểu hiện bên ngoài và những quan hệ tâm lý bên trong, đều là hành vi của con người cụ thể, xâm hại hoặc nhằm xâm hại quan hệ xã hội nhất định. Sự thống nhất của bốn yếu tố này là hình thức cấu trúc, thể hiện đặc điểm về nội dung của tội phạm.

Các tội phạm có tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội khác nhau thì về cấu trúc, bốn yếu tố của tội phạm cũng có những nội dung biểu hiện khác nhau. Chính sự khác nhau này quyết định tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội.

Ví dụ:

  • Tội giết người (Điều 123 Bộ Luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017) và tội vô ý làm chết người (Điều 128 Bộ Luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017) khác nhau về tính chất nguy hiểm cho xã hội là do khác nhau về lỗi thuộc yếu tố mặt chủ quan của tội phạm.
  • Tội phá rối an ninh (Điều 118 Bộ Luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017) và tội gây rối trật tự công cộng (Điều 318 Bộ Luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017) khác nhau về tính chất nguy hiểm cho xã hội là do khác nhau về yếu tố khách thể mà mục đích phạm tội hướng tới.

Mỗi yếu tố trên đây đều có ý nghĩa quan trọng riêng. Trong hành vi phạm tội cụ thể, yếu tố nào đó có thể ảnh hưởng đến tính nghiêm trọng của tội phạm nhiều hơn các yếu tố khác. Nhưng điều đó không có nghĩa là các yếu tố khác không quan trọng. Bốn yếu tổ của tội phạm có liên quan với nhau và tổng hợp lại cùng quyết định tính nguy hiểm của tội phạm.


9. Điều kiện, hoàn cảnh phạm tội?

Mỗi hành vi phạm tội sẽ luôn được thực hiện trong một tình huống nhất định với những điều kiện, hoàn cảnh cụ thể về không gian, thời gian và những sự kiện có liên quan xảy xa trong tình huống đó. Chúng là mặt khách quan của tội phạm.

Chính sự tác động qua lại giữa điều kiện, hoàn cảnh của tình huống bên ngoài với các đặc điểm nhân cách bên trong đã đưa đến phản ứng của con người, đó là những hành vi, kể cả hành vi phạm tội.

Chính từ những tác động bên ngoài môi trường sống lên cá nhân đã làm cho nhu cầu chưa được thỏa mãn ở họ trở thành động cơ thúc đẩy hành động. Cũng chính điều kiện và hoàn cảnh bên ngoài sẽ ảnh hưởng đến toàn bộ quá trình hình thành và thực hiện hành vi phạm tội.

Khi xác định được mục đích, kế hoạch, lựa chọn công cụ, phương tiện phạm tội, khi đưa ra quyết định thực hiện, con người không dự đoán được hậu quả của hành vi. Sự nhận thức, đánh giá tình huống không đúng đắn có thể đưa con người đến với những hành vi sai lệch chuẩn mực đạo đức, hành vi phạm pháp và dẫn đến phạm tội.

Tóm lại, hành vi phạm tội trong tâm lý tội phạm là kết quả của sự tác động qua lại giữa các đặc điểm tâm lý, nhân cách bên trong con người với điều kiện, hoàn cảnh bên ngoài.


10. Cơ sở pháp lý

  • Bộ Luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Trên đây là toàn bộ câu trả lời của chúng tôi về tâm lý tội phạm.

Nếu còn vấn đề thắc mắc hoặc chưa rõ bạn có thể liên hệ trực tiếp với chúng tôi qua Tổng đài tư vấn luật hình sự trực tuyến của HOTLINE 19006588 của Luật Quang Huy để được tư vấn trực tiếp.

Trân trọng./

5/5 - (1 bình chọn)
phone-call

GỌI ĐỂ TƯ VẤN MIỄN PHÍ

Scroll to Top