XỬ LÝ VI PHẠM TRONG LĨNH VỰC ĐẤU THẦU THEO CÁC QUY ĐỊNH HIỆN HÀNH CỦA PHÁP LUẬT VIỆT NAM

Đấu thầu mua sắm chính phủ là hoạt động quan trọng để duy trì sự tồn tại và hoạt động của cơ quan nhà nước. Bên cạnh đó, mục đích của hoạt động đấu thầu cũng là vì lợi ích chung, lợi ích công cộng, do đó, những vi phạm trong hoạt động này luôn có sự ảnh hưởng đến lợi ích chung của xã hội. Vì vậy, pháp luật về đấu thầu có quy định như thế nào về Xử lý vi phạm trong lĩnh vực đấu thầu?


Danh mục tài liệu tham khảo

  • Luật đấu thầu năm 2013.
  • Nghị định số 63/2014/NĐ-CP quy định chi tiết thi hành một số điều của luật đấu thầu về lựa chọn nhà thầu.
  • Nghị định số 50/2016/NĐ-CP quy định về xử phạt hành chính trong lĩnh vực kế hoạch và đầu tư.

Xử lý vi phạm trong lĩnh vực đấu thầu theo các quy định hiện hành của Việt Nam

Hình thức xử lý trong lĩnh vực đấu thầu

Cảnh cáo, phạt tiền

Khoản 1 Điều 121 Nghị định 63/2014/NĐ-CP quy định như sau:

“Cảnh cáo, phạt tiền được áp dụng đối với tổ chức, cá nhân vi phạm pháp luật về đấu thầu theo quy định của pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực kế hoạch và đầu tư”.

Cụ thể, hình thức cảnh cáo, phạt tiền áp dụng đối với tổ chức, cá nhân vi phạm pháp luật về đấu thầu được quy định tại mục 3 chương II của nghị định 50/2016/NĐ-CP. Trong đó, những hành vi bị xử lý là: Vi phạm các quy định về kế hoạch lựa chọn nhà thầu, nhà đầu tư; Vi phạm các quy định về hồ sơ mời quan tâm, hồ sơ mời sơ tuyển, hồ sơ mời thầu, hồ sơ yêu cầu; Vi phạm các quy định về tổ chức lựa chọn nhà thầu, nhà đầu tư và đánh giá hồ sơ quan tâm, hồ sơ dự tuyển, hồ sơ dự thầu, hồ sơ đề xuất;… với mức phạt tiền cao nhất là 40 triệu đồng với hành vi Đánh giá hồ sơ dự thầu, hồ sơ đề xuất của nhà thầu, nhà đầu tư không đúng tiêu chuẩn đánh giá được phê duyệt trong hồ sơ mời thầu, hồ sơ yêu cầu dẫn đến thay đổi kết quả lựa chọn nhà thầu, nhà đầu tư; Cho phép nhà thầu làm rõ hồ sơ dự thầu dẫn đến làm thay đổi bản chất của nhà thầu tham dự thầu.

Cấm tham gia hoạt động đấu thầu theo Khoản 2 Điều 121 Nghị định 63/2014/NĐ-CP quy định:

“Cấm tham gia hoạt động đấu thầu được áp dụng đối với tổ chức, cá nhân vi phạm quy định tại Điều 89 của Luật Đấu thầu và Khoản 8 Điều 12 của Nghị định này”.

Theo đó, cá nhân, tổ chức thực hiện hành vi bị cấm theo quy định của luật đấu thầu và vi phạm quy định về sử dụng lao động sẽ bị cấm tham gia vào hoạt động đấu thầu và đưa vào danh sách các nhà thầu vi phạm trên hệ thống mạng đấu thầu quốc gia. Cụ thể:

  • Cấm tham gia hoạt động đấu thầu từ 03 năm đến 05 năm đối với một trong các hành vi đưa, nhận hối lộ; lợi dụng chức vụ quyền hạn để can thiệp bất hợp pháp vào hoạt động đấu thầu; thông thầu; gian lận; cản trở.
  • Cấm tham gia hoạt động đấu thầu từ 01 năm đến 03 năm đối với một trong các hành vi chuyển nhượng thầu; tổ chức lựa chọn nhà thầu khi nguồn vốn cho gói thầu chưa được xác định dẫn tới tình trạng nợ đọng vốn của nhà thầu.
  • Cấm tham gia hoạt động đấu thầu từ 06 tháng đến 01 năm đối với một trong các hành vi không đảm bảo công bằng; tiết lộ, tiếp nhận những tài liệu, thông tin về nhà thầu, nhà đầu tư trái quy định của pháp luật.
  • Cấm tham gia hoạt động đấu thầu từ 01 năm đến 05 năm đối với hành vi vi phạm việc sử dụng lao động quy định tại Khoản 8 Điều 12 của Nghị định 63/2014/NĐ-CP.

Truy cứu trách nhiệm hình sự

Từ ngày 1/1/2018, Bộ luật Hình sự số 100/2015/QH13 được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Luật số 12/2017/QH14 chính thức có hiệu lực thi hành. Với chế tài mới, tại Điều 222 của Bộ luật, “tội vi phạm quy định về đấu thầu gây hậu quả nghiêm trọng” sẽ bị xử lý hình sự.

Liên quan đến tội vi phạm quy định về đấu thầu gây hậu quả nghiêm trọng, Điều 222 của Bộ luật đã quy định rõ các mức độ xử lý vi phạm như: bị phạt cải tạo không giam giữ đến 3 năm hoặc phạt tù từ 1 năm đến 5 năm (Khoản 1); bị phạt tù từ 3 năm đến 12 năm (Khoản 2); bị phạt tù từ 10 năm đến 20 năm (Khoản 3); và người phạm tội còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ hoặc làm công việc nhất định từ 1 năm đến 5 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản (Khoản 4).

Hủy, đình chỉ, không công nhận kết quả lựa chọn nhà thầu

Hủy thầu là biện pháp của người có thẩm quyền, chủ đầu tư và bên mời thầu để xử lý các hành vi vi phạm pháp luật về đấu thầu và các quy định khác của pháp luật liên quan của tổ chức, cá nhân khác tham gia hoạt động đấu thầu bằng cách ban hành quyết định hủy thầu.

Đình chỉ cuộc thầu, không công nhận kết quả lựa chọn nhà thầu được áp dụng khi có bằng chứng cho thấy tổ chức, cá nhân tham gia hoạt động đấu thầu có hành vi vi phạm pháp luật về đấu thầu hoặc các quy định khác của pháp luật có liên quan dẫn đến không bảo đảm mục tiêu của công tác đấu thầu là cạnh tranh, công bằng, minh bạch và hiệu quả kinh tế hoặc làm sai lệch kết quả lựa chọn nhà thầu. Biện pháp đình chỉ được áp dụng để khắc phục ngay vi phạm đã xảy ra và được thực hiện đến trước khi phê duyệt kết quả lựa chọn nhà thầu.

Biện pháp không công nhận kết quả lựa chọn nhà thầu được thực hiện từ ngày phê duyệt kết quả lựa chọn nhà thầu đến trước khi ký kết hợp đồng; trong trường hợp cần thiết có thể áp dụng sau khi ký kết hợp đồng

xử lý vi phạm trong lĩnh vực đấu thầu theo các quy định hiện hành của pháp luật việt nam và thực tiễn áp dụng

Bồi thường thiệt hại trong lĩnh vực đấu thầu

Vấn đề bồi thường thiệt hại trong lĩnh vực đấu thầu được quy định tại Điều 124 nghị định 63/2014/NĐ-CP như sau:

“Tổ chức, cá nhân có hành vi vi phạm pháp luật về đấu thầu gây thiệt hại thì phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại theo quy định pháp luật về bồi thường thiệt hại và các quy định khác của pháp luật liên quan”.

Như vậy, nếu tổ chức, cá nhân có hành vi vi phạm pháp luật về đấu thầu mà gây thiệt hại thì sẽ phải chịu trách nhiệm bối thường thiệt hại theo quy định của pháp luật về bồi thường thiệt hại như pháp luật dân sự và các quy định khác có liên quan.

Thực tiễn áp dụng các quy định về xử lý vi phạm trong lĩnh vực đấu thầu

Việc pháp luật quy định chi tiết những hành vi bị cấm, những hành vi vi phạm với hình thức xử lý tương ứng đã tạo ra hành lang pháp lý vững chắc để xử lý những vi phạm trong lĩnh vực đấu thầu. Tuy nhiên, trên thực tế hoạt xử lý vi phạm trong lĩnh vực đấu thầu vẫn còn tồn tại nhiều điểm bất cập:

Những sai phạm vẫn chỉ bị xử lý nhẹ tay: Gần đây, nhiều cuộc thanh tra chuyên ngành về đầu tư công, chấp hành pháp luật trong đấu thầu ở các địa phương đã điểm mặt hàng loạt sai phạm trong đấu thầu, nhưng trong các kết luận thanh tra, đặc biệt là phần kiến nghị xử lý sai phạm liên quan đến khâu lựa chọn nhà thầu, đa phần chỉ là hình thức “kiểm điểm, rút kinh nghiệm”. Điển hình như tại tỉnh Đồng Nai, sau khi tiến hành thanh tra tại Khu Bảo tồn Thiên nhiên – Văn hóa Đồng Nai, Thanh tra Sở Kế hoạch và Đầu tư phát hiện nhiều sai sót. Và cũng như hai trường hợp kể trên tại tỉnh Long An, Thanh tra Sở Kế hoạch và Đầu tư tỉnh Đồng Nai cũng chỉ đề nghị phạt hành chính, hủy thầu, thay đổi chủ đầu tư và nghiêm túc rút kinh nghiệm.

Việc buông lỏng quản lý của cơ quan chức năng cũng khiến việc vi phạm trong lĩnh vực đấu thầu vẫn còn phổ biến. Như chúng ta thấy vi phạm thường xảy ra ở các dự án đầu tư công, từ những gói thầu sử dụng nguồn vốn ngân sách nhà nước hoặc từ các nguồn vốn ODA. Chỉ cần siết chặt khu vực này thì việc thông thầu, vi phạm quy trình đấu thầu sẽ được giảm thiểu đáng kể. Tại Việt Nam, Luật Đấu thầu 2013 mặc dù đã có nhiều quy định rất ưu việt, tuy nhiên, trong bối cảnh các hành vi hối lộ, tham nhũng, gian lận vẫn còn phổ biến và nhức nhối trong xã hội, thì luật pháp là chưa đủ, mà còn cần sự quyết tâm của cơ quan thực thi và giám sát thực thi pháp luật.

Những vi phạm của các tổ chức, cá nhân trong lĩnh vực đấu thầu gây ảnh hưởng tiêu cực đến chất lượng của hoạt động đấu thầu, một hoạt động mang ý nghĩa quan trọng trong sự phát triển nền kinh tế của quốc gia. Do đó, khi pháp luật đã có những quy định cụ thể về vấn đề này thì việc các cơ quan có thẩm quyền đưa những quy định này thi hành trên thực tế là cần thiết để hoạt động đấu thầu diễn ra hiệu quả, đạt được mục tiêu đã đề ra.


Trên đây là phần giải đáp thắc mắc của chúng tôi về vấn đề: Xử lý vi phạm trong lĩnh vực đấu thầu theo các quy định hiện hành của pháp luật việt nam và thực tiễn áp dụng. Nếu trong quá trình giải quyết còn gì thắc mắc bạn có thể liên hệ chúng tôi qua tổng đài tư vấn pháp luật qua HOTLINE 19006588 của Luật Quang Huy để được giải đáp.

Trân trọng./.


 

Đánh giá

Tại sao bạn nên chia sẻ bài viết này? Vì nó hữu ích, và hoàn toàn miễn phí :)


Tác giả bài viết

OO

HỎI ĐÁP QUA ĐIỆN THOẠI