Quy định pháp luật về hành vi khách quan của tội phạm

6 điều phải biết về hành vi khách quan của tội phạm
Do nhu cầu tư vấn giải đáp thắc mắc liên quan đến luật hình sự tăng cao, Luật Quang Huy đã cung cấp đường dây nóng hỗ trợ hỏi đáp luật hình sự. 100% cuộc gọi tới đường dây này được bảo mật thông tin cuộc gọi. Nếu bạn đọc có nhu cầu được hỗ trợ về luật hình sự, hãy liên hệ ngay qua Tổng đài 1900.6784.

Bạn thắc mắc không biết hành vi khách quan của tội phạm là gì? Hình thức thể hiện của hành vi khách quan được quy định như thế nào? Tất cả những thắc mắc này sẽ được giải đáp qua bài viết sau đây của Luật Quang Huy.





1. Hành vi khách quan của tội phạm là gì?

Hành vi khách quan của tội phạm là xử sự của người có năng lực trách nhiệm hình sự hoặc pháp nhân thương mại ra bên ngoài thế giới khách quan dưới những hình thức cụ thể. Hay nói cách khác, hành vi khách quan của tội phạm là xử sự trái pháp luật hình sự của chủ thể trong những tình huống, hoàn cảnh cụ thể. Xử sự này gây ra hoặc đe dọa gây ra những thiệt hại cho các quan hệ xã hội được pháp luật hình sự bảo vệ.


2. Đặc điểm của hành vi khách quan của tội phạm

Các đặc điểm của hành vi khách quan của tội phạm bao gồm:

  • Có tính nguy hiểm đáng kể cho xã hội. Tính nguy hiểm đáng kể cho xã hội thể hiện ở bất kỳ một hành vi phạm tội nào cũng đều gây ra hoặc đe dọa gây ra thiệt hại cho các quan hệ xã hội được luật hình sự bảo vệ. Ở các tội phạm cụ thể, tính nguy hiểm đáng kể thể hiện một cách định lượng (qua dấu hiệu định tội có hậu quả) hoặc mang tính định tính (qua dấu hiệu định tội chỉ có hành vi). Tính nguy hiểm đáng kể cho xã hội là đặc điểm cơ bản để phân biệt hành vi phạm tội với các hành vi vi phạm pháp luật khác.
  • Tính trái pháp luật hình sự. Một hành vi chỉ bị coi là tội phạm khi thể hiện tính trái pháp luật hình sự. Điều này thể hiện việc chủ thể thực hiện các hành vi mà pháp luật hình sự cấm hoặc không thực hiện các hành vi mà pháp luật hình sự yêu cầu. Trong khoa học luật hình sự, biểu hiện này của hành vi được thể hiện dưới dạng hành động phạm tội và không hành động phạm tội.
  • Là hành vi có ý thức và ý chí. Chủ thể thực hiện hành vi phạm tội phải có khả năng nhận thức được hành vi của mình có thể gây ra nguy hiểm cho xã hội tuy nhiên vẫn thực hiện, họ có khả năng điều khiển hành vi và đưa ra cách xử sự khác cho phù hợp với nhu cầu, đòi hỏi của xã hội. Hay nói cách khác, khi thực hiện hành vi phạm tội, ý chí và lý trí của người phạm tội phải được thể hiện rõ mà không bị sự tác động khách quan nào làm hạn chế hoặc vô hiệu hóa nhận thức và điều khiển hành vi của mình.

3. Hình thức thể hiện của hành vi khách quan của tội phạm

3.1. Hành động phạm tội

Hành động phạm tội là hình thức biểu hiện của hành vi phạm tội để làm biến đổi tình trạng bình thường của đối tượng tác động, qua đó gây ra hoặc đe dọa gây ra thiệt hại cho quan hệ xã hội được luật hình sự bảo vệ. Hành động phạm tội được thể hiện thông qua việc chủ thể thực hiện một hoặc nhiều hành vi mà luật hình sự cấm thực hiện.

Qua việc nghiên cứu các hành vi phạm tội, đối với hành động phạm tội thường thể hiện ở các dạng cụ thể sau:

  • Chủ thể thực hiện tội phạm bằng cách tác động trực tiếp vào đối tượng tác động. Ví dụ: A dùng tay bóp cổ B cho đến lúc B chết.
  • Chủ thể thực hiện tội phạm thông qua công cụ, phương tiện. Ví dụ: A dùng súng bắn vào đầu B dẫn đến B tử vong.
  • Chủ thể thực hiện tội phạm thông qua lời nói. Ví dụ: A dùng lời lẽ đe dọa sẽ giết B, khiến B tin đó là sự thật và lo sợ.
  • Chủ thể thực hiện tội phạm thông qua người không đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự hoặc thông qua người không có năng lực trách nhiệm hình sự, hoặc những người bị cưỡng bức về thể chất hoặc tinh thần. Ví dụ: A (20 tuổi) đưa cho B (13 tuổi) 01 triệu đồng nhờ B vận chuyển 01 kg heroin từ địa bàn này sang địa bàn khác.

3.2. Không hành động phạm tội

Không hành động phạm tội là biểu hiện thứ hai của hành vi khách quan, theo đó, không hành động phạm tội là hành vi làm biến đổi tình trạng bình thường của đối tượng tác động gây thiệt hại cho khách thể qua việc chủ thể không làm một việc mà pháp luật hình sự yêu cầu phải làm mặc dù có đủ điều kiện để làm.

Tuy nhiên, không phải mọi trường hợp không hành động gây ra thiệt hại cho quan hệ xã hội được luật hình sự bảo về đều phạm tội. Chỉ được xem là không hành động phạm tội khi thoả mãn các điều kiện sau:

  • Chủ thể phải có nghĩa vụ hành động. Nghĩa vụ hành động đó xuất phát do nghĩa vụ do Nhà nước quy định. Ví dụ như nghĩa vụ đóng thuế; nghĩa vụ quân sự; nghĩa vụ do chức năng, nghề nghiệp bắt buộc thực hiện như trách nhiệm cứu chữa bệnh nhân của bác sĩ, nghĩa vụ bảo vệ tài sản của người bảo vệ;…
  • Chủ thể phải có khả năng (điều kiện) để thực hiện nghĩa vụ. Điều này đòi hỏi trong những trường hợp nghĩa vụ phát sinh, chủ thể phải có khả năng để thực hiện nghĩa vụ đó, nếu không có khả năng thực hiện thì không phạm tội. Ví dụ: A không biết bơi, thấy B bị đuối nước ở dưới sông kêu cứu mà A không cứu dẫn đến B chết, trong trường hợp này A không phạm tội.
  • Trong Bộ luật Hình sự, phần lớn các tội phạm được thực hiện bằng hình thức hành động; có một số tội phạm chỉ thực hiện bằng không hành động như tội trốn thuế, tội không cứu giúp người đang trong tình trạng nguy hiểm đến tính mạng…; cũng có một số tội vừa thực hiện bằng hành động vừa bằng không hành động như tội giết người, tội huỷ hoại tài sản… điều này phụ thuộc vào đặc trưng hành vi của từng tội phạm và dấu hiệu định tội của nó.
6 điều phải biết về hành vi khách quan của tội phạm
6 điều phải biết về hành vi khách quan của tội phạm

4. Các dạng cấu trúc đặc biệt của hành vi khách quan của tội phạm

  • Tội ghép được tạo thành bởi nhiều hành vi khách quan, mỗi hành vi xâm hại đến một khách thể nhất định nhưng chúng lại hợp thành một tội phạm. Ví dụ: tội cướp tài sản bao gồm hành vi tấn công vào người quản lý tài sản (quan hệ nhân thân) và hành vi chiếm đoạt tài sản (quan hệ sở hữu). Dù hành vi gây phương hại đến nhiều khách thể trực tiếp nhưng ta chỉ xem xét về một tội phạm.
  • Tội kéo dài là tội phạm mà hành vi khách quan có khả năng diễn ra không gián đoạn trong một thời gian dài. Ví dụ: tội tàng trữ vũ khí quân dụng trái phép (Điều 230 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017). Tội kéo dài chỉ bị coi là một tội, có xem xét trên tổng số thời gian phạm tội.
  • Tội liên tục là tội phạm có hành vi khách quan gồm nhiều hành vi cùng loại xảy ra kế tiếp nhau về mặt thời gian, cùng xâm hại đến một khách thể và đều bị chi phối bởi một ý định phạm tội cụ thể thống nhất. Ví dụ: thủ quỹ lấy tiền của cơ quan 2 triệu mỗi tháng, kéo dài trong ba năm (cấu thành tội tham ô tài sản theo Điều 278 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017). Trong trường hợp này, tội liên tục cũng có thể bị coi là phạm tội nhiều lần. Một trường hợp khác, các hành vi phạm pháp mỗi lần chưa cấu thành một tội phạm độc lập, nhưng nhiều lần, dựa trên tổng số thiệt hại thì cấu thành tội phạm. Ví dụ: một tên trộm mỗi lần trộm một con chó trị giá 400 ngàn đồng, nhưng trong ba ngày trộm được 3 con chó (tổng trị giá là 1,2 triệu đồng). Tội phạm liên tục cũng chỉ xem xét xử một tội nhưng có cân nhắc trên tổng số tài sản thiệt hại để xác định khung hình phạt và lượng hình.

5. Những biểu hiện khác trong mặt khách quan của tội phạm

Biểu hiện khác trong mặt khách quan bao gồm: công cụ, phương tiện, thời gian, địa điểm và hoàn cảnh phạm tội. Cụ thể:

  • Công cụ, phương tiện phạm tội là những đối tượng vật chất được chủ thể sử dụng để tác động vào đối tượng tác động của tội phạm trong quá trình thực hiện hành vi phạm tội.
  • Trong Bộ luật Hình sự có một số ít tội quy định công cụ, phương tiện được là dấu hiệu bắt buộc để định tội. Ví dụ: Phương tiện vật chất là dấu hiệu bắt buộc trong cấu thành cơ bản của tội đưa hối lộ tại Điều 364 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.
  • Thủ đoạn phạm tội là cách thức thực hiện tội phạm được biểu hiện thông qua việc thực hiện hành vi dựa trên sự khôn khéo, tinh vi có tính toán của người phạm tội. Dấu hiệu này có thể dùng để định tội, ví dụ như thủ đoạn gian dối nhằm chiếm đoạt tài sản trong tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản, hoặc có thể là tình tiết định khung tăng nặng như tình tiết “dùng thủ đoạn xảo quyệt, nguy hiểm” tại điểm d khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015, hoặc cũng có thể là tình tiết tăng nặng tại Điều 52 Bộ luật Hình sự năm 2015.
  • Ngoài ra, trong mặt khách quan của tội phạm còn biểu hiện về thời gian phạm tội, địa điểm phạm tội và hoàn cảnh phạm tội. Tùy vào từng tội phạm cụ thể để xác định vai trò pháp lý của những dấu hiệu này.

6. Mối quan hệ nhân quả giữa hành vi và hậu quả của tội phạm

Mối quan hệ nhân quả giữa hành vi và hậu quả của tội phạm là mối quan hệ giữa các hiện tượng trong đó một hiện tượng được gọi là nguyên nhân (là hành vi khách quan) làm phát sinh một hiện tượng khác là kết quả (là hậu quả của tội phạm). Dựa vào cơ sở lý luận của cặp phạm trù nhân quả trong phép biện chứng có thể xác định được các điều kiện của mối quan hệ nhân quả giữa hành vi và hậu quả của tội phạm như sau:

  • Hành vi phải xảy ra trước hậu quả về mặt thời gian. Điều này, có ý nghĩa để xác định tội phạm, định tội, định khung. Ví dụ: A bị tai biến, được đưa đi cấp cứu, trên đường đưa đi cấp cứu A đã tử vong, sau khi A tử vong, thì xe ô tô của B tông vào xe cấp cứu đang chở A. Trong trường hợp này, chúng ta phải xác định hậu quả A chết trước hành vi gây tai nạn của B, do đó, tình tiết về hậu quả này không có ý nghĩa pháp lý khi xem xét trách nhiệm pháp lý của B.
  • Hành vi phải chứa đựng khả năng thực tế, mầm mống nội tại, nguyên nhân trực tiếp làm phát sinh hậu quả. Đây là điều kiện để chứng minh khả năng phát sinh hậu quả của hành vi, nếu thực tế loại trừ khả năng này thì không có mối quan hệ nhân quả.
  • Hậu quả xảy ra phải là hiện thực hoá khả năng thực tế làm phát sinh hậu quả của hành vi. Việc xác định hậu quả phải đặt trong mối quan hệ với hành vi, đánh giá hậu quả là khả năng hiện thực phát sinh từ hành vi khách quan của tội phạm.

Mối quan hệ nhân quả được thể hiện ở các dạng chủ yếu sau:

  • Mối quan hệ nhân quả đơn trực tiếp: là mối quan hệ nhân quả chỉ có một hành vi phạm tội là nguyên nhân trực tiếp gây ra hậu quả. Ví dụ: A dùng dao đâm B, B bị thương với tỷ lệ thương tật là 20%.
  • Mối quan hệ nhân quả kép trực tiếp: là quan mối hệ nhân quả có nhiều hành vi phạm tội làm nguyên nhân, trong đó, mỗi hành vi đều đã chứa đựng khả năng thực tế làm phát sinh hậu quả. Ví dụ: A và B dùng gậy gây thương tích cho M (tỷ lệ thương tích 30%). Trường hợp này, nếu tách ra mỗi hành vi đều có khả năng gây ra hậu quả cho M. Tuy nhiên, trong sự kết hợp với nhau thì đã gây ra một hậu quả chung là M bị thương tật tỷ lệ 30%.
  • Đối với những tội phạm có gây ra hậu quả, thì phải chứng minh mối quan hệ nhân quả, dù dấu hiệu hậu quả được xác định dùng để định tội, định khung hay tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ.



7. Cơ sở pháp lý

  • Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Trên đây là bài tư vấn của chúng tôi về vấn đề hành vi khách quan của tội phạm. Qua bài viết này, chúng tôi mong rằng sẽ giúp các bạn hiểu rõ hơn về vấn đề này.

Để được tư vấn đầy đủ và chính xác nhất, mời quý khách hàng liên hệ tới Tổng đài tư vấn Luật hình sự trực tuyến qua HOTLINE 19006588 của Luật Quang Huy để nhận tư vấn thêm về vấn đề mà quý khách hàng đang gặp phải.

Trân trọng./.

Đánh giá
Tác giả bài viết
phone-call

GỌI ĐỂ TƯ VẤN MIỄN PHÍ

Scroll to Top