TRANH CHẤP TÀI SẢN THỪA KẾ GIỮA NHỮNG NGƯỜI THỪA KẾ

       Xã hội càng phát triển thì các mối quan hệ trong xã hội ngày càng diễn biến phức tạp và xảy ra nhiều tranh chấp. Đặc biệt là mối quan hệ tranh chấp trong phân chia di sản. Vì vậy pháp luật nước ta cần có những đổi mới phù hợp với tình hình thực tế, để đi sâu vào việc giải quyết các tranh chấp phân chia di sản thừa kế, bên cạnh đó góp phần vào nâng có ý thức tự bảo vệ quyền và lợi ích của mỗi công dân. Với bài viết sau đây Luật Quang Huy sẽ tiến hành giải đáp vấn đề tranh chấp tài sản thừa kế giữa những người thừa kế như sau:


Danh mục tài liệu tham khảo

  • Bộ luật dân sự 2015.
  • Giáo trình kỹ năng tư vấn pháp luật_ TS. PHAN Chí Hiếu,ThS Nguyễn Thị Hằng Nga
  • Luận văn: Giải quyết tranh chấp về phân chia di sản thừa kế tại Tòa án nhân dân thỉnh Phú Thọ. Vũ Thị Nguyệt

Xây dựng tình huống thể hiện phát sinh tranh chấp giữa những người thừa kế về tài sản thừa kế và di sản thừa kế vừa được chia theo di chúc vừa được chia theo pháp luật.

      Ông A với bà B là vợ chồng trong quá trình chung sống có con chung là anh C và chị D .

      Năm 1990, ông A và bà B phát sinh mâu thuẫn và đã ly hôn. Họ thống nhất thỏa thuận bà B nhận cả ngôi nhà đang ở (và nuôi chị D), ông A nuôi anh C và được chia một số tài sản trị giá là 80 triệu đồng. Năm 2000 ông A tiết kiệm được 150 triệu đồng và ông xây dựng 1 căn hộ khác. Tháng 2002 ông A kết hôn với bà T sinh ra được 2 người con là anh E và chị H. Hai ông bà sống trong căn nhà mới này và ông A tuyên bố nhà và số tiền 80 triệu đồng ông đang cất giữ là của riêng không nhập vào tài sản chung.

      Tháng 7/2017 ông A bị tai nạn chết để lại di chúc, trong di chúc có nói rõ là cho anh C hưởng 1/2 di sản của ông. Riêng ngôi nhà ông để lại cho bà T dùng làm nơi thờ cúng mà không chia thừa kế. Tháng 1/2018, anh C yêu cầu bà T chuyển giấy tờ  nhà đất cho mình nhưng bà không chịu nên anh C đã xảy ra xô xát gây thương tích cho bà T.

    Khi biết tin ông A qua đời chị D đến nhà bà T và anh A đòi chia di sản mà ông A để lại do chị D cũng là con đẻ của ông A. Nhưng anh C và bà T không đồng ý và xảy ra cãi vã .Đến tháng 2/2018, chị D có đơn gửi tòa án yêu cầu chia di sản thừa kế của bố.

      Qua điều tra xác định: ngôi nhà của ông A tính đến thời điểm có yêu cầu chia di sản thừa kế trị giá 300 triệu đồng, ông A và bà T tạo lập được khối tài sản chung trị giá 600 triệu đồng.

Tranh chấp tài sản thừa kế giữa những người thừa kế

Áp dụng pháp luật trong việc giải quyết tranh chấp giữa những người thừa kế về tài sản thừa kế.

         Về khái niệm di sản có thể được hiểu như sau: di sản thừa kế là toàn bộ tài sản thuộc quyền sở hữu của người chết được chuyển dịch cho người thừa kế hợp pháp của người đó sau khi đã thanh toán toàn bộ nghĩa vụ tài sản từ di sản của người chết để lại dối người khác

         Theo quy định tại điều 612 Bộ luật dân sự 2015 như sau: “Di sản thừa kế gồm tài sản riêng của người chết và phần tài sản của người chết trong tài sản chung với người khác.”

      Thừa kế di sản thừa kế là quyền lợi hợp pháp của người thừa kế (thừa kế theo di chúc hoặc theo pháp luật). Tuy nhiên, trong nhiều trường hợp việc phân chia di sản nảy sinh mâu thuẫn giữa những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến việc phân chia di sản dẫn đến tranh chấp.

      Giải quyết tranh chấp phân chia di sản thừa kế là hoạt động của cơ quan nhà nước có thẩm quyền vận dụng các quy định của pháp luật nhằm giải quyết các bất đồng mâu thuẫn của hai hay nhiều bên trong mối quan hệ thừa kế. Để bảo về tối đa quyền và lợi ích hợp pháp của các bên tranh chấp, gớp phần vào việc ổn định trật tự xã hội.

      Tranh chấp về thừa kế thường gồm các dạng tranh chấp về hàng thừa kế, tranh chấp di chúc thừa kế, tranh chấp về di sản thừa kế, tranh chấp buộc người thừa kế thực hiện nghĩa vụ về tài sản do người chết để lại, tranh chấp về chia di sản thừa kế theo di chúc hoặc theo pháp luật, tranh chấp xác nhận quyền thừa kế của mình hoặc bác bỏ quyền thừa kế của người khác… Trong tình huống nêu trên, tranh chấp được gọi là tranh chấp về chia di sản thừa kế giữa những người thừa kế. Cụ thể là tranh chấp di sản thừa kế giữa anh C, chị D và bà B về di sản thừa kế mà ông A để lại.

      Di sản thừa kế là tài sản của người chết để lại cho những người còn sống. Theo quy định tại Điều 612 Bộ Luật dân sự: “Di sản bao gồm tài sản riêng của người chết, phần tài sản của người chết trong tài sản chung với người khác.” Di sản thừa kế có thể là hiện vật, tiền, giấy tờ trị giá được thành tiền, quyền tài sản thuộc sở hữu của người để lại di sản.

      Việc xác định di sản thừa kế mà người chết để lại căn cứ vào giấy tờ, tài liệu chứng minh quyền sở hữu hoặc sử dụng hợp pháp đối với khối tài sản đó. Đối với trường hợp di sản thừa kế là tài sản thuộc sở hữu chung thì việc xác định tài sản chung của người để lại di sản có thể dựa trên những thỏa thuận đã có từ trước hoặc căn cứ vào văn bản do cơ quan có thẩm quyền ban hành. Theo quy định của pháp luật thì di sản bao gồm:

  • Tài sản riêng của người đã chết, đây là tài sản người đó lập ra bằng thu nhập hợp pháp của mình lúc còn sống.
  • Tài sản chung của người chết trong khối tài sản chung với người khác như: phần tài sản chung tạo lập được, phần tài sản chung trong kinh doanh, làm ăn, đầu tư….

      Về di sản thừa kế mà ông A để lại gồm những tài sản như sau:

  • Thứ nhất là 80 triệu đồng tiền mặt ông đang cất giữ
  • Thứ hai 1/2 số tài sản chung mà ông A và bà T tạo dựng được.
  • Ngôi nhà do ông A tạo dựng được trị giá 300 triệu đồng.

      Tuy nhiên theo di chúc thì ông A quyết định riêng ngôi nhà trị giá 300 triệu đồng ông để lại cho bà T dùng làm nơi thờ cúng mà không chia thừa kế.

      Như vậy di sản thừa kế để đem vào chia thừa kế của ông A là:

  • triệu đồng + 600/2 triệu đồng = 380 triệu đồng.

      Tại Điều 613 BLDS 2015 quy định về người thừa kế như sau: “Người thừa kế là cá nhân phải là người còn sống vào thời điểm mở thừa kế hoặc sinh ra và còn sống sau thời điểm mở thừa kế nhưng đã thành thai trước khi người để lại di sản chết. Trường hợp người thừa kế theo di chúc không là cá nhân thì phải tồn tại vào thời điểm mở thừa kế..” Trong tình huống nêu trên thì anh C, chị D, bà T và anh E và chị F là những người thừa kế hợp pháp.

      Do ông A chết có để lại di chúc nên di sản mà ông A để lại sẽ được chia theo cả di chúc và pháp luật.

Về phần di sản được chia theo di chúc

      Trong trường hợp người chết để lại di chúc, nếu di chúc đó hợp pháp thì chia tài sản theo di chúc có hiệu lục pháp luật. Sau khi thanh toán mọi nghĩa vụ của người để lại di chúc, số di sản còn lại sẽ được phân chia theo di chúc đã quy định.

      Tại Điều 624 BLDS 2015 có quy định về di chúc như sau: “Di chúc là sự thể hiện ý chí của cá nhân nhằm chuyển tài sản của mình cho người khác sau khi chết”. Anh C được ông A để lại 1/2 di sản thừa kế trong tổng số tài sản mà ông A để lại;

      Anh C được hưởng = 300 triệu đồng : 2 = 150 triệu đồng.

      Bà T được hưởng ngôi nhà vì trong di chúc nói rõ ngôi nhà ông A để lại cho bà T làm nơi thờ cúng sau này.

      Pháp luật Viên Nam tôn trọng ý chí của người để lại di sản nên nếu họ có để lại di chúc hợp pháp thì di sản sẽ được phân chia theo đúng ý trí mà người để lại di chúc đã xác định trong di chúc.

Về phần di sản được chia theo pháp luật

        Trong trường hợp di sản không định đoạn bằng di chúc , hoặc có di chúc mà di chúc vô hiệu thì phần di sản sẽ được phân chia cho nhũng người thừa kế theo pháp luật. Trường hợp này di sản sẽ được chia đều cho những người thừa kế, nếu không có thỏa thuận gì khác.

        Phân chia di sản theo pháp luật là phân chia cho những người thừa kế trong hàng thừa kế theo pháp luật được hưởng phần di sản ngang nhau không phân biệt giới tính, đổ tuổi,…. Quy định tại điều 660 BLDS năm 2015 như sau:

  “Điều 650. Những trường hợp thừa kế theo pháp luật

  1. Thừa kế theo pháp luật được áp dụng trong trường hợp sau đây:
  2. a) Không có di chúc;
  3. b) Di chúc không hợp pháp;
  4. c) Những người thừa kế theo di chúc chết trước hoặc chết cùng thời điểm với người lập di chúc; cơ quan, tổ chức được hưởng thừa kế theo di chúc không còn tồn tại vào thời điểm mở thừa kế;
  5. d) Những người được chỉ định làm người thừa kế theo di chúc mà không có quyền hưởng di sản hoặc từ chối nhận di sản.
  6. Thừa kế theo pháp luật cũng được áp dụng đối với các phần di sản sau đây:
  7. a) Phần di sản không được định đoạt trong di chúc;
  8. b) Phần di sản có liên quan đến phần của di chúc không có hiệu lực pháp luật;
  9. c) Phần di sản có liên quan đến người được thừa kế theo di chúc nhưng họ không có quyền hưởng di sản, từ chối nhận di sản, chết trước hoặc chết cùng thời điểm với người lập di chúc; liên quan đến cơ quan, tổ chức được hưởng di sản theo di chúc, nhưng không còn tồn tại vào thời điểm mở thừa kế.

Điều 651. Người thừa kế theo pháp luật

  1. Những người thừa kế theo pháp luật được quy định theo thứ tự sau đây:
  2. a) Hàng thừa kế thứ nhất gồm: vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi của người chết;
  3. b) Hàng thừa kế thứ hai gồm: ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại, anh ruột, chị ruột, em ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại;
  4. c) Hàng thừa kế thứ ba gồm: cụ nội, cụ ngoại của người chết; bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột; chắt ruột của người chết mà người chết là cụ nội, cụ ngoại.
  5. Những người thừa kế cùng hàng được hưởng phần di sản bằng nhau.
  6. Những người ở hàng thừa kế sau chỉ được hưởng thừa kế, nếu không còn ai ở hàng thừa kế trước do đã chết, không có quyền hưởng di sản, bị truất quyền hưởng di sản hoặc từ chối nhận di sản.”

      Như vậy, tài sản còn lại của ông T để lại để chia theo pháp luật là: 150 triệu đồng. Những người thừa kế cùng hàng được hưởng phần di sản bằng nhau. Những người ở hàng thừa kế sau chỉ được hưởng thừa kế, nếu không còn ai ở hàng thừa kế trước do đã chết, không có quyền hưởng di sản, bị truất quyền hưởng di sản hoặc từ chối nhận di sản.

      Những người thừa kế ở hàng thừa kế thứ nhất theo pháp luật bao gồm: Anh C, chị D, bà T, anh E và chị H. Tuy nhiên anh C đã được hưởng di sản thừa kế theo di chúc nên anh C sẽ không được hưởng di sản thừa kế theo pháp luật nữa. Và sẽ chỉ còn lại 4 người thuộc hàng thừa kế thứ nhất và số di sản mà mỗi người sẽ được hưởng như sau:

                                      D=T=E=H= 150 triệu : 4= 37,5 triệu đồng.

      Về việc tranh chấp về ngôi nhà của anh C và bà T theo quy định của pháp luật ta thấy:

      Trong di chúc của ông A có ghi rõ là về phần ngôi nhà để lại cho bà T để phục vụ cho việc thờ cúng và nuôi hai cháu E và cháu H. Vậy hành vi của anh C yêu cầu bà T sang tên nhà cho mình dẫn đến tình trạng xảy ra xô xát thương tích cho bà T. Hành vi của anh C là hoàn toàn trái pháp luật. Nếu bà T có yêu cầu anh C phải bồi thường về hành vi xô xát gây thương tích, thì trong trường hợp này anh C hoàn toàn phải chịu mức bồi thường mà bà T đưa ra.

      Đến tháng 2/2018, chị D có đơn gửi tòa án yêu cầu chia di sản thừa kế của bố. Việc chị D có đơn yêu cầu tòa án chia di sản thừa kế của bố là hoàn toàn có căn cứ pháp luật. Chị D là con ruột của ông A và cũng là người trong hàng hưởng di chúc hợp pháp nên Chị D sẽ được nhận số tiền là 37,5 triệu đồng trong khối di sản thừa kế mà ông A để lại.

Nêu ý kiến về quy định pháp luật hiện hành và kiến nghị hoàn thiện nếu có thông qua việc xây dựng và giải quyết tình huống

Những bất cập trong giải quyết tranh chấp về phân chia di sản

      Qua quá trình xây dựng và giải quyết tình huống, em nhận thấy việc pháp luật quy định về chế định thừa kế và việc giải quyết chia di sản thừa kế vẫn còn có những bất cập sau:

Việc quy định về người thừa kế

      Pháp luật dân sự ghi nhận quyền thừa kế của cá nhân, tổ chức. Điều 613 BLDS quy định: “Người thừa kế là cá nhân phải là người còn sống vào thời điểm mở thừa kế hoặc sinh ra và còn sống sau thời điểm mở thừa kế nhưng đã thành thai trước khi người để lại di sản chết.”

      Tất nhiên, người thừa kế theo pháp luật chỉ có thể là cá nhân, còn người thừa kế theo di chúc có thể là cá nhân hoặc tổ chức.

      Hiểu như thế nào về “người còn sống vào thời điểm mở thừa kế”, đặc biệt trong trường hợp những người thừa kế chết mà không xác định được ai chết trước, ai chết sau.

    Thực tế chỉ ra rằng, có nhiều trường hợp những người có quyền thừa kế di sản của nhau chết cách nhau một khoảng thời gian rất ngắn, vụ việc tranh chấp thừa kế một thời gian dài sau đó mới phát sinh, do vậy việc xác minh thời điểm chết của từng người rất khó khăn, tạo phức tạp trong quá trình giải quyết vụ án (có lẽ, trong những trường hợp này, căn cứ pháp lý duy nhất có thể tin cậy được là giấy chứng tử, nhưng trong nhiều trường hợp giấy chứng tử lại không ghi cụ thể giờ, phút chết của cá nhân).

      Về thời hiệu khởi kiện.

      Điều 623 BLDS 2015 quy định về thời hiệu yêu cầu chia thừa kế “Thời hiệu để người thừa kế yêu cầu chia di sản là 30 năm đối với bất động sản, 10 năm đối với động sản, kể từ thời điểm mở thừa kế”. Trong thực tiễn, khi áp dụng thời hiệu khởi kiện về quyền thừa kế, có nhiều cách hiểu khác nhau về vấn đề này, nếu không có hướng dẫn cụ thể sẽ tạo tình trạng áp dụng không thống nhất khi xét xử các vụ án tranh chấp về thừa kế, đặc biệt là thừa kế quyền sử dụng đất.

      Ngoài ra BLDS 2015 còn quy định: “thời hiệu được tính từ thời điểm bắt đầu ngày đầu tiên và chấm dứt tại thời điểm kết thúc ngày cuối cùng của thời hiệu”. Do đó, quy định này dẫn đến nhiều cách hiểu khác nhau, phải hiểu thời điểm mở thừa kế là thời điểm được xác định bằng giờ người để lại di sản chết, tại thời điểm đó xác định người thừa kế, di sản của người chết… để bảo vệ quyền lợi của những người thừa kế.

      Về di sản thừa kế.

      Theo quy định tại Điều 612 BLDS: Di sản bao gồm tài sản riêng của người chết, phần tài sản riêng của người chết trong tài sản chung với người khác. Quyền sử dụng đất cũng thuộc di sản thừa kế và được để lại thừa kế.

      Theo quy định tại Điều 105 Bộ luật dân sự tài sản gồm: vật, tiền, giấy tờ có giá và quyền tài sản. Như vậy, quyền tài sản nằm trong khái niệm về tài sản. Cho nên cần phải hiểu khái niệm di sản còn bao gồm cả các quyền về tài sản như: quyền đòi bồi thường thiệt hại, quyền đòi nợ, quyền thừa kế giá trị… Một thực tế hiện nay, có nhiều cách hiểu khác nhau về di sản dẫn đến tình trạng các vụ án thực tế hiện nay phải xét xử lại do xác định di sản không chính xác và đầy đủ.

Giải pháp vấn đề giải quyết tranh chấp về phân chia tài sản thừa kế

       Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với hoạt động của cơ quan tư pháp trong đó có hoạt động áp dụng pháp luật trong lĩnh vựa phân chia tài sản. Nâng cao bản lính chính trị, và nâng cao kinh nghiệm của đội ngũ Thẩm phán và đội ngũ luật sư cũng như là công tố viên.

      Nâng cao chất lượng trong việc giải quyết các tranh chấp di sản thừa kế tại các cơ sở có thẩm quyền (Tòa án nhân dân ) phải gắn liền với việc thực hiện đồng bộ các yêu cầu, nội dung xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân, vì dân.

      Đổi mới công tác xét xử của Tòa án nhân dân ác cấp theo hướng dân chủ, tranh luận tại phiên tòa, thực hiện đầy đủ các nguyên tắc tố tụng.

      Đi đôi với việc giải quyết tranh chấp di sản thừa kế tại tòa án phải gắn liền với nghĩa vụ phổ biến tuyên truyền , giáo dục nâng cao ý thức pháp luật của nhân dân.


       Trên đây là phần giải đáp thắc mắc của chúng tôi về vấn đề:phát sinh tranh chấp giữa những người thừa kế, tài sản thừa kế. Nếu trong quá trình giải quyết còn gì thắc mắc bạn có thể liên hệ chúng tôi qua tổng đài tư vấn pháp luật qua HOTLINE 19006588 của Luật Quang Huy để được giải đáp.

Trân trọng./.


 

5 / 5 ( 1 bình chọn )

Tại sao bạn nên chia sẻ bài viết này? Vì nó hữu ích, và hoàn toàn miễn phí :)


Tác giả bài viết

OO

HỎI ĐÁP QUA ĐIỆN THOẠI