Tội lập quỹ trái phép có thể bị phạt tù 10 năm?

Trách nhiệm hình sự cho tội lập quỹ trái phép

Bạn đang tìm hiểu về tội lập quỹ trái phép? Lập quỹ trái phép là hành vi như thế nào? Các yếu tố cấu thành được quy định ra sao? Đặc biệt, bạn đang cần tìm hiểu mức phạt áp dụng với tội danh này?

Nếu đủ cấu thành tội phạm này, người phạm tội có thể phạt tù bao nhiêu năm? Ngoài hình phạt chính thì còn có hình phạt bổ sung nào khác không?

Mong rằng bài viết dưới đây của Luật Quang Huy sẽ giải đáp cho các bạn đọc những vướng mắc về trách nhiệm hình sự cho tội lập quỹ trái phép theo quy định pháp luật.


1. Thế nào là lập quỹ trái phép?

Lập quỹ trái phép là hành vi người phạm tội lợi dụng chức vụ, quyền hạn của mình để lập ra quỹ tiền mặt (tiền Việt Nam hoặc ngoại tệ) hoặc quỹ các loại hàng hóa khác mà không có sự báo cáo, dẫn đến không chịu sự kiểm soát, quản lý của cơ quan chức năng hoặc cơ quan có thẩm quyền, rồi sử dụng quỹ đó làm thiệt hại đến tài sản của Nhà nước.

Tội lập quỹ trái phép hiện đang được quy định tại Điều 205 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung 2017.


2. Hình phạt cho tội lập quỹ trái phép

2.1 Hình phạt chính

Hình phạt chính đối với tội lập quỹ trái phép có 3 hình thức:

  • Phạt tiền.
  • Phạt cải tạo không giam giữ.
  • Phạt tù có thời hạn.

Các khung hình phạt được quy định cụ thể như sau:

2.1.1 Phạt tiền từ 50 triệu đồng đến 100 triệu đồng hoặc phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm

Người phạm tội là người có chức vụ, quyền hạn có thể bị phạt tiền từ 50 triệu đồng đến 100 triệu đồng hoặc phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm nếu có hành vi:

  • Lợi dụng chức vụ, quyền hạn lập quỹ trái quy định của pháp luật và đã sử dụng quỹ đó gây thiệt hại cho tài sản của Nhà nước từ 50 triệu đồng đến dưới 200 triệu đồng.
  • Hoặc trước đó đã bị xử lý kỷ luật về hành vi lợi dụng chức vụ, quyền hạn lập quỹ trái phép và sử dụng quỹ đó gây thiệt hại cho tài sản của Nhà nước mà vẫn còn vi phạm.

Có thể thấy để áp dụng hình phạt ở khung hình phạt này thì số tiền người phạm tội lập quỹ không đúng quy định pháp luật gây thiệt hại cho Nhà nước với số tiền tối thiểu là 50 triệu đồng, tuy nhiên, nếu trước đó người này đã từng bị xử lý kỷ luật về hành vi sai phạm tương tự thì sẽ bị xử phạt nghiêm khắc hơn, dù số tiền chưa tới 50 triệu vẫn có thể bị xử lý hình sự.

2.1.2 Phạt tiền từ 100.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng hoặc phạt tù từ 01 năm đến 05 năm

Người phạm tội thuộc một trong các trường hợp dưới đây thì có thể bị phạt tiền từ 100 triệu đồng đến 500 triệu đồng hoặc phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:

  • Dùng các thủ đoạn xảo quyệt để trốn tránh việc kiểm soát.

Đây là hành vi người phạm tội trong quá trình lập quỹ trái phép của mình đã dùng thủ đoạn xảo quyệt như là dùng các mánh khoé, cách thức gian dối, thâm hiểm nhằm che dấu, trốn tránh việc kiểm soát tài sản của Nhà nước, khiến người khác khó mà lường thấy được để đề phòng hoặc ngăn chặn hành vi phạm pháp.

  • Để thực hiện hành vi vi phạm pháp luật khác.

Đây là trường hợp người phạm tội lập quỹ trái phép rồi lấy số tiền trong quỹ đó để thực hiện một hành vi trái pháp luật khác.

Ví dụ: A là cán bộ văn hoá huyện H đã dối gạt mọi người chủ trương thành lập một quỹ tiền dùng cho việc tổ chức các lễ hội văn hoá ở địa phương.

Tuy nhiên, việc thành lập quỹ này không được thực hiện theo đúng trình tự, thủ tục trong cơ quan nhà nước, trong quá trình hoạt động của quỹ A cũng tự bịa đặt ra các khoản chi, quyết toán khống, giả mạo chứng từ, giấy tờ…

Và thực chất số tiền này được A dùng để duy trì một tổ chức hoạt động mê tín, dị đoan mà A ngầm quản lý.

Việc hoạt động truyền bá các tư tưởng mê tín, dị đoan theo quy định là vi phạm pháp luật, vậy nên hành vi của A được xét là có tình tiết lập quỹ trái phép để thực hiện hành vi vi phạm pháp luật khác.

  • Gây thiệt hại cho tài sản của Nhà nước từ 200 triệu đồng đến dưới 01 tỷ đồng.

2.1.3 Phạt tù từ 05 năm đến 10 năm

Người phạm tội bị phạt tù từ 05 năm đến 10 năm trong trường hợp phạm tội gây thiệt hại cho tài sản của Nhà nước với số tiền thiệt hại từ 01 tỷ đồng trở lên.

Có thể thấy số tiền người phạm tội gây thiệt hại cho Nhà nước càng lớn, mức hình phạt của người phạm tội càng cao.

Các yếu tố người phạm tội thực hiện trong quá trình phạm tội như là không tự giác hối cải dù đã bị xử lý kỷ luật về hành vi lập quỹ trái phép, dùng thủ đoạn gian xảo, hoặc dùng tiền lập quỹ vào mục đích bất hợp pháp cũng là những yếu tố được xét đến khi xác định khung hình phạt của tội phạm này.

2.2 Hình phạt bổ sung

Ngoài hình phạt chính thì người phạm tội lập quỹ trái phép còn có thể phải chấp hành 2 hình phạt bổ sung là:

  • Phạt tiền từ 10 triệu đồng đến 50 triệu đồng.
  • Cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định trong khoảng thời gian từ 01 năm đến 05 năm.

Bộ luật Hình sự hiện nay đã có chế tài xử phạt nghiêm khắc đối với hành vi lạm dụng chức vụ, quyền hạn để lập quỹ trái phép.

Trách nhiệm hình sự cho tội lập quỹ trái phép
Trách nhiệm hình sự cho tội lập quỹ trái phép

Tuy nhiên người phạm tội thuộc trường hợp áp dụng mức khung hình phạt cao vẫn có thể được giảm nhẹ hơn nếu chủ động khắc phục hậu quả hoặc thêm nhiều tình tiết giảm nhẹ khác tuỳ vụ án.

Tương tự, nếu bạn có những tình tiết tăng nặng theo Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017, bạn có thể phải chịu hình phạt cao nhất trong khung hình phạt trên.

Do vậy, để có thể xác định các tình tiết giảm nhẹ, hoặc các tình tiết có lợi khác để giảm bớt hình phạt bạn nên tìm đến những văn phòng luật sư hay công ty luật uy tín hoặc những Luật sư có kinh nghiệm dày dặn để thực hiện hỗ trợ, bào chữa.

Như tại Luật Quang Huy của chúng tôi, các Luật sư đều là những người có kinh nghiệm nhiều năm trong lĩnh vực giải quyết các vụ án hình sự.

Để được hỗ trợ nhanh nhất, bạn hãy liên hệ cho chúng tôi qua Tổng đài 19006588.


3. Cấu thành tội phạm của tội lập quỹ trái phép

3.1 Chủ thể tội lập quỹ trái phép

Chủ thể của tội lập quỹ trái phép là chủ thể đặc biệt theo quy định của pháp luật hình sự.

Chủ thể của tội phạm này là phải người có chức vụ, quyền hạn trong các đơn vị Nhà nước như là: các cơ quan Nhà nước; các cơ sở hoạt động kinh tế (các doanh nghiệp Nhà nước,.. ); đơn vị sự nghiệp công lập; các tổ chức xã hội, tổ chức chính trị – xã hội và các tổ chức khác.

Nếu là người có chức vụ quyền hạn nhưng là trong các doanh nghiệp tư nhân, công ty trách nhiệm hữu hạn hoặc các tổ chức có tính chất tư nhân khác thì không bị áp dụng xử lý hình sự với tội lập quỹ trái phép quy định tại Điều 205 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung 2017.

3.2 Khách thể tội lập quỹ trái phép

Khách thể mà tội lập quỹ trái phép chính xâm phạm chính là trật tự quản lý kinh tế, cụ thể là quy định của Nhà nước về việc lập ra các loại quỹ.

Đối tượng tác động trực tiếp của tội phạm này là tiền hoặc tài sản của Nhà nước mà người phạm tội dùng vào việc lập quỹ trái phép.

3.3 Mặt chủ quan tội lập quỹ trái phép

Tội lập quỹ trái phép được thực hiện dưới lỗi cố ý.

Người phạm tội nhận thức rõ hành vi của mình là trái phép, biết rõ hành vi lập quỹ và sử dụng quỹ đó là trái quy định pháp luật, gây hậu quả nghiêm trọng nhưng vẫn thực hiện.

Người phạm tội mong muốn cho hậu quả xảy ra hoặc tuy không mong muốn nhưng bỏ mặc hậu quả xảy ra.

Mục đích và động cơ phạm tội không phải là dấu hiệu bắt buộc của cấu thành tội lập quỹ trái phép. Tuy nhiên, người phạm tội lập quỹ trái phép thường vì vụ lợi hoặc động cơ cá nhân khác.

người phạm tội lợi dụng chức vụ, quyền hạn của mình để lập ra quỹ tiền mặt
người phạm tội lợi dụng chức vụ, quyền hạn của mình để lập ra quỹ tiền mặt

3.4 Mặt khách quan tội lập quỹ trái phép

3.4.1 Hành vi khách quan

Về hành vi khách quan thì đối với tội lập quỹ trái phép, người phạm tội thực hiện hai hành vi:

Thứ nhất, người phạm tội lợi dụng chức vụ, quyền hạn của mình để lập quỹ trái phép không theo quy định của Nhà nước về quản lý kinh tế.

Quỹ trái phép ở đây được hiểu là quỹ tiền mặt (tiền Việt Nam hoặc ngoại tệ) hoặc quỹ các loại hàng hóa khác được lập mà không có sự báo cáo dẫn đến không chịu sự kiểm soát, quản lý của cơ quan chức năng hoặc cơ quan cấp trên có thẩm quyền.

Đây là những quỹ mà nguồn gốc là do xâm phạm tài sản của Nhà nước, của tập thể và tài sản riêng của nhân dân.

Và người phạm tội đã lợi dụng chức vụ quyền hạn của mình để lập các quỹ trái pháp luật. Các phương thức thực hiện hành vi này có thể kể đến như sau:

  • Chiếm đoạt tài sản của Nhà nước, bán đi lấy tiền lập quỹ, như lấy nguyên liệu, nhiên liệu, vật tư, hàng hóa, máy móc, thiết bị, phế liệu, phế phẩm, bao bì, hàng hóa dôi, thừa, hàng hóa kém phẩm chất, hàng mẫu, quà biếu, sản phẩm của xưởng trường, sản phẩm của phòng thí nghiệm, hoa lợi công cộng…
  • Dùng thủ đoạn để moi rút hoặc bớt xén kinh phí ngân sách của Nhà nước, như bịa đặt ra các khoản chi, quyết toán khống, giả mạo chứng từ, giấy tờ…
  • Dùng trái phép tài sản của Nhà nước như dùng phương tiện vận tải, dụng cụ, máy móc… của Nhà nước để kiếm tiền lập quỹ riêng.
  • Lợi dụng những sơ hở của chính sách, chế độ quản lý tài chính và vật tư của Nhà nước, hoặc cố ý làm sai những chính sách, chế độ đã có, để lấy tiền, lấy vật tư lập quỹ, như:
  • Giữ lại khoản tiền được Nhà nước cấp phát nhưng chi không hết, còn thừa lại.
  • Giữ lại các khoản thu của Nhà nước, không nộp vào ngân sách Nhà nước,
  • Chiếm dụng, sử dụng nhập nhằng vốn ngân sách Nhà nước; đem số tiền của tổ chức, và cá nhân ủng hộ Nhà nước (ủng hộ thương binh, gia đình liệt sĩ…) ra làm vốn kinh doanh để lập quỹ.
  • Dùng tiền của Nhà nước để tạm ứng cho công đoàn cơ quan, xí nghiệp hoặc cho vay mượn để tổ chức trại chăn nuôi, căng tin….lấy lãi để lập quỹ.
  • Giữ lại không nộp trả Nhà nước, tiền và tài sản của các tổ chức đã giải thể.
  • Chiếm dụng số vốn dôi ra do thay đổi giá dự toán xây dựng cơ bản.
  • Lấy tiền của quỹ lương dự trù cho lao động trong biên chế Nhà nước để trả cho số lao động đã được bố trí sang các cơ sở kinh doanh riêng của cơ quan, xí nghiệp.
  • Tự ý đặt ra chế độ buộc các đơn vị kinh doanh cấp dưới phải nộp kinh phí cho cấp trên và lấy số tiền đó lập quỹ riêng;
  • Lấy khoản chênh lệch giữa giá dự toán xây dựng cơ bản trường sở với số tiền trả cho học sinh, sinh viên tham gia lao động xây dựng trường sở vv…
  • Xâm phạm tài sản riêng của nhân dân lấy tiền lập quỹ như:
  • Tự ý đặt ra các khoản thu vào nhân dân ngoài chính sách, chế độ Nhà nước cho phép.
  • Bớt xén công lao động, tiền thù lao của dân công, vv…

Thứ hai, người phạm tội có hành vi sử dụng quỹ trái phép đó gây thiệt cho tài sản của Nhà nước.

Sử dụng quỹ ở đây là người phạm tội đã lấy tiền hoặc tài sản trong quỹ mà lập trái phép chi tiêu hoặc dùng vào những mục đích khác không phân biệt là hợp pháp hay bất hợp pháp, chỉ cần xác định là quỹ này là quỹ được lập trái phép và đã được sử dụng thì có thể cấu thành tội lập quỹ trái phép.

Ví dụ: Một cơ quan dùng tiền trong quỹ trái phép để làm những công việc lợi ích chung (như xây dựng nhà làm việc của cơ quan…) những công việc phúc lợi tập thể (như tổ chức trại chăn nuôi để cải thiện bữa ăn cho cán bộ, công nhân, viên chức), vv…, nhưng vì nguồn gốc của tiền quỹ là do xâm phạm tài sản của Nhà nước hoặc của nhân dân, nên việc sử dụng quỹ đó bị coi là trái phép là có thể bị xử lý hình sự.

Việc lập quỹ và sử dụng tiền trong quỹ trái phép gây hậu quả nghiêm trọng phải xảy ra đồng thời cả hai thì mới cấp thành tội lập quỹ trái phép. Nếu mới lập quỹ trái phép nhưng chưa sử dụng quỹ đó thì hành vi lập quỹ trái phép chưa cấu thành tội phạm dù số lượng tiền, tài sản trong quỹ trái phép đó có là bao nhiêu.

3.4.2 Hậu quả

Hậu quả là dấu hiệu bắt buộc của cấu thành tội lập quỹ trái phép.

Hậu quả gây ra có thể được xác định bằng mức thiệt hại về tài sản của Nhà nước, số tiền thiệt hại dẫn đến bị truy cứu trách nhiệm hình sự tối thiểu là 50 triệu đồng.

Nếu hậu quả chưa đến mức nghiêm trọng (số tiền thiệt hại chưa đến 50 triệu đồng) thì người phạm tội phải là người đã từng bị xử lý kỷ luật về hành vi này mà còn vi phạm mới cấu thành tội phạm.

Điểm đặc trưng của tội lập quỹ trái phép là hậu quả của tội này được gây ra do hành vi sử dụng quỹ, chứ không phải là hành vi lập quỹ trái phép.

Hậu quả trực tiếp là ảnh hưởng đến việc quản lý ngân sách, gây thâm hụt tài sản của Nhà nước. Hậu quả gián tiếp là có thể gây ra là những thiệt hại về tính mạng, sức khỏe, tài sản, an sinh xã hội hoặc những thiệt hại khác cho đất nước.

Để xác định chính xác một vụ việc có phải truy cứu trách nhiệm hình sự hay không, bạn phải xem xét kỹ các dấu hiệu cấu thành tội phạm.

Nếu không có đủ các yếu tố cấu thành tội phạm nêu trên sẽ không bị truy cứu về tội lập quỹ trái phép theo Điều 205 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Nếu cần tư vấn để biết trường hợp của bạn hay người thân của bạn có đủ yếu tố cấu thành tội tội lập quỹ trái phép hay không, bạn cũng có thể liên hệ cho chúng tôi qua Tổng đài 19006588.


4. Cơ sở pháp lý

  • Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung 2017.
  • Thông tư số 09-TC/VP ngày 18/02/1971 Bộ Tài chính Hướng dẫn thi hành Quyết định số 50-TTg ngày 16/02/1971 của Thủ tướng chính phủ về việc nghiêm cấm các quỹ trái phép trong các xí nghiệp, cơ quan nhà nước.

Nội dung bài viết trên đây là toàn bộ thông tin liên quan đến trách nhiệm hình sự cho cho tội lập quỹ trái phép quy định pháp luật hiện hành.

Nếu bài viết chưa cung cấp đầy đủ được thông tin đến bạn hoặc bạn còn những thắc mắc có liên quan đến vấn đề này, đừng ngần ngại, hãy liên hệ trực tiếp tới Tổng đài tư vấn luật Hình sự trực tuyến qua HOTLINE 19006588 của Luật Quang Huy.

Với vai trò là một công ty có kinh nghiệm là Luật sư biện hộ cho nhiều vụ án Hình sự trong cả nước Luật Quang Huy luôn luôn sẵn sàng hỗ trợ cho bạn.

Trân trọng./.

Hãy chia sẻ bài viết này vì nó hữu ích và hoàn toàn miễn phí bạn nhé!

5/5 - (1 bình chọn)
Tác giả bài viết