TỘI GIẾT NGƯỜI THEO BỘ LUẬT HÌNH SỰ – YẾU TỐ CẤU THÀNH VÀ HÌNH PHẠT

Tội giết người
  • Người chuẩn bị phạm tội giết người thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm.
  • Người phạm tội giết người mà giết 2 người trở lên, Giết người dưới 16 tuổi; Giết phụ nữ mà biết là có thai; Giết người đang thi hành công vụ; Giết ông, bà, cha, mẹ, người nuôi dưỡng, thầy giáo, cô giáo của mình; Giết người mà liền trước đó hoặc ngay sau đó lại thực hiện một tội phạm rất nghiêm trọng hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng; Để thực hiện hoặc che giấu tội phạm khác; Để lấy bộ phận cơ thể của nạn nhân; Thực hiện tội phạm một cách man rợ; … sẽ bị phạt tù từ 12 năm đến 20 năm, tù chung thân hoặc tử hình.
  • Người phạm tội thực hiện các hành vi không thuộc trường hợp trên sẽ bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm.
  • Người phạm tội còn có thể bị cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm, phạt quản chế hoặc cấm cư trú từ 01 năm đến 05 năm.

       Con người có quyền được tôn trọng và bảo vệ tính mạng, sức khỏe. Vì vậy người xâm phạm đến quyền này sẽ bị xử lý theo quy định của pháp luật. Vậy hành vi giết người gồm những hành vi nào? Các yếu tố nào cấu thành tội giết người. Bài viết dưới đây của Luật Quang Huy sẽ làm rõ hơn về vấn đề này.


Cơ sở pháp lý


Các yếu tố cấu thành tội giết người

Hành vi

Điều luật không mô tả cụ thể hành vi khách quan của tội giết người. Nhưng có thể hiểu giết người là hành vi tước đoạt trái pháp luật tính mạng người khác. Đó là hành vi có khả năng gây ra cái chết cho con người, chấm dứt sự sống của họ. Những hành vi không có khả năng này không thể là hành vi khách quan của tội giết người.

Hành vi có khả năng gây ra cái chết cho con người có thể là hành động như đâm, chém, bắn,…Cũng có thể là không hành động. Đó là những trường hợp chủ thể có nghĩa vụ phải hành động, phải làm những việc nhất định để đảm bảo sự an toàn về tính mạng của người khác nhưng họ đã không hành động, không thực hiện những việc làm đó. Việc không hành động của họ trong những trường hợp này cũng có khả năng gây ra cái chết cho con người. Ví dụ hành động của người mẹ không cho trẻ sơ sinh ăn uống dẫn tới hậu quả là con chết.

Hành vi tước đoạt tính mạng được coi là hành vi khách quan của tội giết người phải là hành vi tước đoạt trái pháp luật tính mạng người khác. Hành vi tự tước đoạt tính mạng của chính mình không thuộc hành vi khách quan của tội giết người. Những hành vi gây ra cái chết cho người khác được pháp luật cho phép cũng không phải là hành vi khách quan của tội giết người. Ví dụ hành vi tước đoạt tính mạng của người khác trong trường hợp thi hành bản án tử hình.

Hậu quả

Hậu quả của tội phạm được xác định là hậu quả chết người. Như vậy tội giết người chỉ được coi là tội phạm hoàn thành khi có hậu quả chết người. Nếu hậu quả chết người không xảy ra vì nguyên nhân khách quan thì hành vi phạm tội bị coi là tội giết người chưa đạt (khi lỗi của chủ thể là cố ý trực tiếp) hoặc là tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác theo Điều 134 BLHS. Khi lỗi của chủ thể là cố ý gián tiếp và hậu quả thương tích đã xảy ra đủ cấu thành tội phạm này.

các yếu tố cấu thành tội giết người

Mối quan hệ nhân quả giữa hành vi khách quan và hậu quả chết người

Hành vi giết người phải có mối quan hệ nhân quả với hậu quả chết người. Người có hành vi tước đoạt trái pháp luật tính mạng người khác chỉ phải chịu trách nhiệm hình sự về hậu quả chết người đã xảy ra. Nếu hành vi của họ đã thực hiện là nguyên nhân của hậu quả chết người đã xảy ra đó.

Mặt chủ quan

Lỗi của người phạm tội là lỗi cố ý. Có thể là cố ý trực tiếp hoặc cố ý gián tiếp.

Mặc dù giết người không phải là dấu hiệu cấu thành bắt buộc nhưng trong một số trường hợp vẫn được xem là một dấu hiệu bắt buộc của mặt chủ quan để làm căn cứ trong một số trường hợp như sau:

Trường hợp nạn nhân bị tấn công bằng các hóa chất độc hại như axit hoặc bằng hung khí nguy hiểm như dao nhọn…vào các vị trí nguy hiểm trên cơ thể nhưng chỉ bị thương tích hoặc bị tổn hại sức khỏe nhưng người đó không chết. Trong trường hợp này cần xác định mục đích của người phạm tội là gì. Nếu có mục đích giết người nhưng người đó không chết thì vẫn cấu thành tội giết người chưa đạt. Tuy nhiên nếu không có mục đích giết người thì bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội cố ý gây thương tích (nếu có).

Nếu gây thương tích dẫn đến chết người. Không có mục đích giết người thì cấu thành tội cố ý gây thương tích.

Chủ thể

Chủ thể của tội giết người là người nào có năng lực trách nhiệm hình sự và đạt độ tuổi luật định đều có khả năng là chủ thể của tội giết người. Người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi phải chịu trách nhiệm hình sự về tội phạm rất nghiêm trọng, tội phạm đặc biệt nghiêm trọng (tội giết người). Người từ đủ 16 tuổi trở lên phải chịu trách nhiệm về mọi tội phạm.(Điều 12 BLHS).


Hình phạt

Hình phạt chính

Phạt tù từ 12 năm đến 20 năm, tù chung thân hoặc tử hình

Khi người phạm tội thực hiện các hành vi: (Khoản 1 Điều 123 BLHS)

1. Người nào giết người thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 12 năm đến 20 năm, tù chung thân hoặc tử hình:

a) Giết 02 người trở lên;

b) Giết người dưới 16 tuổi;

c) Giết phụ nữ mà biết là có thai;

d) Giết người đang thi hành công vụ hoặc vì lý do công vụ của nạn nhân;

đ) Giết ông, bà, cha, mẹ, người nuôi dưỡng, thầy giáo, cô giáo của mình;

e) Giết người mà liền trước đó hoặc ngay sau đó lại thực hiện một tội phạm rất nghiêm trọng hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng;

g) Để thực hiện hoặc che giấu tội phạm khác;

h) Để lấy bộ phận cơ thể của nạn nhân;

i) Thực hiện tội phạm một cách man rợ;

k) Bằng cách lợi dụng nghề nghiệp;

l) Bằng phương pháp có khả năng làm chết nhiều người;

m) Thuê giết người hoặc giết người thuê;

n) Có tính chất côn đồ;

o) Có tổ chức;

p) Tái phạm nguy hiểm;

q) Vì động cơ đê hèn.

Tình tiết giết người đang thi hành công vụ hoặc vì lý do công vụ của nạn nhân. Giết người đang thi hành công vụ là trường hợp giết người mà nạn nhân là người đang thi hành công vụ. Có thể hiểu nạn nhân là người đang thực hiện nhiệm vụ do cơ quan nhà nước giao. Ví dụ kiểm lâm bảo vệ rừng; cảnh sát bảo vệ trật tự công cộng;…

Giết người vì lý do công vụ của nạn nhân là trường hợp giết người mà động cơ của hành vi giết người gắn liền với việc thi hành công vụ của nạn nhân. Giết nạn nhân để không cho nạn nhân thi hành công vụ hay giết nạn nhân để trả thù việc nạn nhân đã thi hành công vụ. Ví dụ công việc giữ trật tự công cộng hay an toàn giao thông của công an. Tính nguy hiểm của những trường hợp giết người này ở chỗ không chỉ xâm phạm đến tính mạng con người. Đồng thời còn xâm phạm nghiêm trọng trật tự công cộng, cản trở hoạt động chung của xã hội gây ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự, trị an.

Tội giết người

Giết người mà liền trước đó hoặc ngay sau đó lại thực hiện một tội phạm rất nghiêm trọng hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng.Việc liên tiếp phạm tội như vậy chứng tỏ người phạm tội có ý thức phạm tội. Điều này không chỉ làm tăng tính nguy hiểm của hành vi phạm tội giết người mà còn phản ánh khả năng cải tạo, giáo dục của người phạm tội.

Giết người để thực hiện hoặc che giấu tội phạm khác. Ví dụ muốn che giấu tội trộm cắp tài sản mà mình đã thực hiện có nguy cơ bị lộ nên đã giết người để bịt đầu nối.

Giết người để lấy bộ phận cơ thể của nạn nhân. Đây là trường hợp giết người mà động cơ phạm tội là việc chiếm đoạt bộ phận cơ thể của nạn nhân cho mình, cho người thân hoặc để trao đổi, mua bán. Đây có thể coi là giết người vì động cơ đe hèn.

Hiện nay chưa có quy định cụ thể về hành vi thực hiện tội giết người một cách man rợ. Nên thực tế vẫn áp dụng hướng dẫn tại Nghị quyết số 04/HĐTPTANDTC/NQ ngày 29/11/1986 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao:“Thực hiện tội giết người một cách man rợ như kẻ phạm tội không còn tính người, dùng những thủ đoạn gây đau đớn cao độ, gây khiếp sợ đối với nạn nhân hoặc gây khủng khiếp, rùng rợn trong xã hội (như: móc mắt, xẻo thịt, moi gan, chặt người ra từng khúc…)”.

Giết người bằng cách lợi dụng nghề nghiệp. Là trường hợp dùng nghề nghiệp của mình để có thể dễ dàng thực hiện hoặc che giấu hành vi giết người. Ví dụ như bác sĩ lợi dụng nghề nghiệp thực hiện hành vi giết bệnh nhân của mình.

Giết người bằng phương pháp có khả năng làm chết nhiều người. Ví dụ như dùng chất nổ giết nạn nhân đang ở trong nhà cùng những người khác.

Tình tiết thuê giết người là trường hợp người đó không tự mình thực hiện hành vi mà dùng tiền hoặc lợi ích vật chất nào đó yêu cầu người khác giết người.

Giết người thuê là trường hợp trước đó người thực hiện hành vi không có ý định giết người. Nhưng do được người khác thuê nên đã thực hiện hành vi giết người theo yêu cầu của người thuê để nhận được một lợi ích vật chất nào đó. Tình tiết thuê giết người và giết người thuê có mối quan hệ chặt chẽ với nhau. Nếu không có người thuê thì sẽ không có hành vi giết người thuê.

Tái phạm nguy hiểm được quy định tại Khoản 2 Điều 53 BLHS như sau: Đã bị kết án về tội phạm rất nghiêm trọng, tội phạm đặc biệt nghiêm trọng do cố ý, chưa được xóa án tích mà lại thực hiện hành vi phạm tội về tội phạm rất nghiêm trọng, tội phạm đặc biệt nghiêm trọng do cố ý. Đã tái phạm, chưa được xóa án tích mà lại thực hiện hành vi phạm tội do cố ý.

Hiện nay chưa có khái niệm về tình tiết có tính chất côn đồ. Nên thực tế vẫn áp dụng theo hướng dẫn tại công văn số 38/NCPL ngày 6/01/1976 và tại Hội nghị tổng kết công tác ngành năm 1995, Toà án nhân dân tối cao đã giải thích về tình tiết “có tính chất côn đồ” như sau: Khái niệm côn đồ được hiểu là hành động của những tên coi thường pháp luật, luôn luôn phá rối trật tự trị an, sẵn sàng dùng vũ lực và thích (hay) dùng vũ lực để uy hiếp người khác phải khuất phục mình, vô cớ hoặc chỉ vì một duyên cớ nhỏ nhặt là đâm chém, thậm chí giết người. Hành động của chúng thường là xâm phạm sức khoẻ, tính mạng, danh dự  người khác, gây gổ hành hung người khác một cách vô cớ hoặc vì một duyên cớ nhỏ nhặt…

Phạt tù từ 07 năm đến 15 năm

Nếu người phạm tội thực hiện các hành vi không thuộc trường hợp quy định tại Khoản 1 Điều 123 BLHS.(Khoản 2 Điều 123 BLHS)

Người chuẩn bị phạm tội này, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm.(Khoản 3 Điều 123 BLHS)

Hình phạt bổ sung

Người phạm tội còn có thể bị cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm, phạt quản chế hoặc cấm cư trú từ 01 năm đến 05 năm.(Khoản 4 Điều 123 BLHS).


Trách nhiệm bồi thường dân sự

Người phạm tội giết người còn phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng theo quy định tại Điều 591 Bộ Luật Dân sự. Thiệt hại do tính mạng bị xâm phạm bao gồm: Thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm; chi phí hợp lý cho việc mai táng; tiền cấp dưỡng cho những người mà người bị thiệt hại có nghĩa vụ cấp dưỡng; thiệt hại khác do luật quy định. Ngoài ra còn phải bồi thường một khoản bù đắp về tinh thần do các bên thỏa thuận. Nếu không thỏa thuận được thì áp dụng theo Khoản 2 Điều 591 BLDS.

2.Người chịu trách nhiệm bồi thường trong trường hợp tính mạng của người khác bị xâm phạm phải bồi thường thiệt hại theo quy định tại khoản 1 Điều này và một khoản tiền khác để bù đắp tổn thất về tinh thần cho những người thân thích thuộc hàng thừa kế thứ nhất của người bị thiệt hại, nếu không có những người này thì người mà người bị thiệt hại đã trực tiếp nuôi dưỡng, người đã trực tiếp nuôi dưỡng người bị thiệt hại được hưởng khoản tiền này. Mức bồi thường bù đắp tổn thất về tinh thần do các bên thỏa thuận; nếu không thỏa thuận được thì mức tối đa cho một người có tính mạng bị xâm phạm không quá một trăm lần mức lương cơ sở do Nhà nước quy định.

Trên đây là toàn bộ câu trả lời của chúng tôi về vấn đề tội giết người theo pháp luật năm 2020. Nếu nội dung tư vấn còn chưa rõ, có nội dung gây hiểu nhầm hoặc có thắc mắc cần tư vấn cụ thể hơn, bạn có thể kết nối tới  HOTLINE 19006588 của Luật Quang Huy để được Luật sư tư vấn luật hình sự tư vấn trực tiếp.

Trân trọng./.


 

Hãy chia sẻ bài viết này vì nó hữu ích và hoàn toàn miễn phí bạn nhé!


phone-call

HỎI ĐÁP QUA ĐIỆN THOẠI