QUY ĐỊNH VỀ THỜI HẠN ĐIỀU TRA VỤ ÁN HÌNH SỰ NĂM 2020

Thời hạn điều tra vụ án hình sự
  • Không quá 02 tháng đối với tội phạm ít nghiêm trọng
  • Đối với tội phạm nghiêm trọng không quá 03 tháng.
  • Đối với tội phạm rất nghiêm trọngkhông quá 04 tháng.
  • Đối với tội phạm đặc biệt nghiêm trọng không quá 04 tháng.

      Điều tra vụ án hình sự là giai đoạn quan trọng của tố tụng hình sự. Trong đó cơ quan có thẩm quyền điều tra áp dụng mọi biện pháp do luật định để xác định tội phạm, người thực hiện hành vi phạm tội và các tình tiết khác làm cơ sở cho việc giải quyết vụ án. Vậy cách tính thời hạn điều tra vụ án hình sự như thế nào? Bài viết dưới đây của Luật Quang Huy sẽ làm rõ hơn về vấn đề này.


Cơ sở pháp lý

  • Bộ Luật Tố tụng hình sự 2015
  • Bộ Luật Hình sự 2015

Thời hạn điều tra vụ án hình sự

      Thời hạn điều tra là thời gian do pháp luật quy định để Cơ quan điều tra hoàn thành điều tra vụ án. Thời hạn điều tra được tính từ khi khởi tố vụ án cho đến ngày kết thúc điều tra. Trong trường hợp cơ quan điều tra tiếp nhận vụ án từ cơ quan điều tra khác hoặc từ đơn vị bộ đội biên phòng, cơ quan hải quan,…thì thời hạn điều tra cũng được tính từ ngày cơ quan đó ra quyết định khởi tố vụ án hình sự.

Thời hạn điều tra vụ án hình sự

      Điều 172 BLHS quy định như sau:

Thời hạn điều tra vụ án hình sự không quá 02 tháng đối với tội phạm ít nghiêm trọng, không quá 03 tháng đối với tội phạm nghiêm trọng, không quá 04 tháng đối với tội phạm rất nghiêm trọng và tội phạm đặc biệt nghiêm trọng kể từ khi khởi tố vụ án cho đến khi kết thúc điều tra.

Thời hạn điều tra đối với tội phạm ít nghiêm trọng

      Thời hạn điều tra đối với vụ án hình sự không quá 02 tháng đối với tội phạm ít nghiêm trọng. Tội phạm ít nghiêm trọng là tội phạm có tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội không lớn. Mức cao nhất của khung hình phạt là phạt tiền, phạt cải tạo không giam giữ hoặc phạt tù đến 03 năm.

Thời hạn điều tra đối với tội phạm nghiêm trọng

      Thời hạn điều tra vụ án hình sự đối với tội phạm nghiêm trọng không quá 03 tháng. Tội phạm nghiêm trọng là tội phạm có mức độ nguy hiểm cho xã hội lớn. Mức phạt cao nhất là từ 03 năm đến 07 năm tù.

Thời hạn điều tra đối với tội phạm rất nghiêm trọng

      Thời hạn điều tra đối với tội phạm rất nghiêm trọng là không quá 04 tháng. Tội phạm rất nghiêm trọng là tội phạm có mức độ nguy hiểm cho xã hội rất lớn. Mức cao nhất của khung hình phạt là từ trên 07 năm đến 15 năm tù.

Thời hạn điều tra đối với tội phạm đặc biệt nghiêm trọng

      Thời hạn điều tra đối với tội phạm đặc biệt nghiêm trọng không quá 04 tháng. Tội phạm đăc biệt nghiêm trọng là tội phạm có mức độ nguy hiểm cho xã hội đặc biệt lớn. Mức phạt cao nhất đối với tội này là từ trên 15 năm đến 20 năm tù, tù chung thân hoặc tử hình.


Gia hạn thời gian điều tra vụ án hình sự

      Đối với những vụ án có tính chất phức tạp, cần thời gian để điều tra. Khi hết thời hạn điều tra do luật quy định thì Cơ quan điều tra phải có văn bản đề nghị Viện kiểm sát gia hạn điều tra.

      Khoản 2 Điều 172 BLTTHS quy định như sau:

2. Trường hợp cần gia hạn điều tra do tính chất phức tạp của vụ án thì chậm nhất là 10 ngày trước khi hết thời hạn điều tra, Cơ quan điều tra phải có văn bản đề nghị Viện kiểm sát gia hạn điều tra.

Việc gia hạn điều tra được quy định như sau:

a) Đối với tội phạm ít nghiêm trọng có thể được gia hạn điều tra một lần không quá 02 tháng;

b) Đối với tội phạm nghiêm trọng có thể được gia hạn điều tra hai lần, lần thứ nhất không quá 03 tháng và lần thứ hai không quá 02 tháng;

c) Đối với tội phạm rất nghiêm trọng có thể được gia hạn điều tra hai lần, mỗi lần không quá 04 tháng;

d) Đối với tội phạm đặc biệt nghiêm trọng có thể được gia hạn điều tra ba lần, mỗi lần không quá 04 tháng.

      Đối với tội phạm ít nghiêm trọng thì Viện kiểm sát nhân dân cấp huyện, viện kiểm sát quân sự khu vực gia hạn điều tra. Trong trường hợp vụ án được thụ lý ở cấp tỉnh, cấp quân khu thì Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh, Viện kiểm sát cấp quân khu gia hạn điều tra.

      Đối với tội phạm rất nghiêm trọng thì Viện kiểm sát nhân dân cấp huyện, Viện kiểm sát quân sự khu vực gia hạn điều tra lần thứ nhất. Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh, Viện kiểm sát quân sự cấp quân khu có thẩm quyền gia hạn điều tra lần thứ hai. Trong trường hợp vụ án được thụ lý điều tra tại cấp tỉnh và cấp quân khu thì Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh, viện kiểm sát quân sự cấp quân khu gia hạn điều tra lần thứ nhất và lần thứ hai.

      Đối với tội phạm đặc biệt nghiêm trọng thì Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh, Viện kiểm sát quân sự cấp quân khu gia hạn điều tra lần thứ nhất và lần thứ hai. Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Viện kiểm sát quân sự trung ương gia hạn điều tra lần thức ba.

      Trong trường hợp vụ án được thụ lý để điều tra ở cấp trung ương thì việc gia hạn điều tra thuộc thẩm quyền của Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Viện kiểm sát quân sự trung ương.

      Như vậy thời hạn điều tra tối đa (kể cả gia hạn) đối với tội phạm ít nghiêm trọng là không quá 04 tháng, tội phạm nghiêm trọng là không quá 08 tháng, tội phạm rất nghiêm trọng là không quá 12 tháng và tội phạm đặc biệt nghiêm trọng là không quá 16 tháng.

      Đối với tội phạm đặc biệt nghiêm trọng mà thời hạn gia hạn điều tra đã hết nhưng do tính chất phức tạp của vụ án không thể kết thúc việc điều tra thì Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao có thể gia hạn thêm một lần không quá 04 tháng.

      Đối với tội xâm phạm an ninh quốc gia thì Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao có quyền gia hạn điều tra thêm một lần nữa không quá 04 tháng.

      Khi đã hết thời hạn điều tra mà không chứng minh được bị can đã thực hiện tội phạm thì cơ quan điều tra phải ra quyết định đình chỉ điều tra.


Thời hạn tạm giam để điều tra

      Là thời hạn do pháp luật quy định được tạm giam bị can để phục vụ cho việc điều tra vụ án.

     Tạm giam là biện pháp ngăn chặn rất nghiêm khắc, cách li người bị tạm giam với xã hội bên ngoài, hạn chế quyền tự do và các quyền cơ bản của họ. Điều 173 BLTTHS quy định thời hạn tạm giam như sau:

1. Thời hạn tạm giam bị can để điều tra không quá 02 tháng đối với tội phạm ít nghiêm trọng, không quá 03 tháng đối với tội phạm nghiêm trọng, không quá 04 tháng đối với tội phạm rất nghiêm trọng và tội phạm đặc biệt nghiêm trọng.

2. Trường hợp vụ án có nhiều tình tiết phức tạp, xét cần phải có thời gian dài hơn cho việc điều tra và không có căn cứ để thay đổi hoặc hủy bỏ biện pháp tạm giam thì chậm nhất là 10 ngày trước khi hết thời hạn tạm giam, Cơ quan điều tra phải có văn bản đề nghị Viện kiểm sát gia hạn tạm giam.

Việc gia hạn tạm giam được quy định như sau:

a) Đối với tội phạm ít nghiêm trọng có thể được gia hạn tạm giam một lần không quá 01 tháng;

b) Đối với tội phạm nghiêm trọng có thể được gia hạn tạm giam một lần không quá 02 tháng;

c) Đối với tội phạm rất nghiêm trọng có thể được gia hạn tạm giam một lần không quá 03 tháng;

d) Đối với tội phạm đặc biệt nghiêm trọng có thể được gia hạn tạm giam hai lần, mỗi lần không quá 04 tháng.

      Trường hợp gia hạn thời hạn tam giam đã hết mà chưa thể kết thúc việc điều tra và không có căn cứ để thay đổi hoặc hủy bỏ biện pháp tạm giam. Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao có quyền gia hạn thêm môt lần nhưng không quá 01 tháng đối với tội phạm nghiêm trọng. Không quá 02 tháng đối với tội phạm rất nghiêm trọng. Không quá 04 tháng đối với tội phạm đặc biệt nghiêm trọng. Trường hợp đặc biệt đối với tội phạm đặc biệt nghiêm trọng xâm phạm an ninh quốc  gia mà không có căn cứ để hủy bỏ biện pháp tạm giam. Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao quyết định việc tam giam cho đến khi kết thúc điều tra.

      Như vậy thời hạn tạm giam bị can để điều tra (cả thời gian gia hạn) đối với tội phạm ít nghiêm trọng là không quá 03 tháng; tội phạm nghiêm trọng không quá 05 tháng; tội phạm rất nghiêm trọng không quá 07 tháng; tội phạm đặc biệt nghiêm trọng không quá 12 tháng.

      Trong thời hạn tạm giam, nếu xét thấy không cần thiết phải tiếp tục tạm giam thì Cơ quan điều tra phải kịp thời đề nghị Viện kiểm sát hủy bỏ việc tạm giam để trả tự do cho người bị tạm giam hoặc xét thấy cần thiết thì áp dụng biện pháp ngăn chặn khác.

      Khi đã hết thời hạn tạm giam thì người ra lệnh tạm giam phải trả tự do cho người bị tạm giam hoặc xét thấy cần thì áp dụng biện pháp ngăn chặn khác.


Thời hạn phục hồi điều tra

Là thời hạn do pháp luật quy định để tiếp tục điều tra vụ án đã được phục hồi điều tra.

      Đối với những vụ án đã có quyết định đình chỉ hoặc tạm đình chỉ điều tra nhưng có lý do để hủy bỏ quyết định này thì cơ quan điều tra ra quyết định phục hồi điều tra nếu chưa hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự.

1.Trường hợp phục hồi điều tra quy định tại Điều 235 của Bộ luật này thì thời hạn điều tra tiếp không quá 02 tháng đối với tội phạm ít nghiêm trọng, tội phạm nghiêm trọng và không quá 03 tháng đối với tội phạm rất nghiêm trọng, tội phạm đặc biệt nghiêm trọng kể từ khi có quyết định phục hồi điều tra cho đến khi kết thúc điều tra.

Trường hợp cần gia hạn điều tra do tính chất phức tạp của vụ án thì chậm nhất là 10 ngày trước khi hết thời hạn điều tra, Cơ quan điều tra phải có văn bản đề nghị Viện kiểm sát gia hạn điều tra.

Việc gia hạn điều tra được quy định như sau:

a) Đối với tội phạm ít nghiêm trọng có thể được gia hạn điều tra một lần không quá 01 tháng;

b) Đối với tội phạm nghiêm trọng và tội phạm rất nghiêm trọng có thể được gia hạn điều tra một lần không quá 02 tháng;

c) Đối với tội phạm đặc biệt nghiêm trọng có thể được gia hạn điều tra một lần không quá 03 tháng.

      Vậy thời hạn phục hồi điều tra (tính cả thời gian gia hạn) đối với tội phạm ít nghiêm trọng không quá 03 tháng; tội phạm nghiêm trọng không quá 04 tháng; tội phạm rất nghiêm trọng không quá 05 tháng; tội phạm đặc biệt nghiêm trọng không quá 06 tháng.


Thời hạn điều tra bổ sung

      Thời hạn điều tra bổ sung là thời hạn do pháp luật quy định để điều tra bổ sung đối với vụ án khi có yêu cầu của Viện kiểm sát hoặc Tòa án cấp sơ thẩm. Khoản 2 Điều 174 BLTTHS quy định như sau

2. Trường hợp vụ án do Viện kiểm sát trả lại để yêu cầu điều tra bổ sung thì thời hạn điều tra bổ sung không quá 02 tháng; nếu do Tòa án trả lại để yêu cầu điều tra bổ sung thì thời hạn điều tra bổ sung không quá 01 tháng. Viện kiểm sát chỉ được trả lại hồ sơ để điều tra bổ sung hai lần. Thẩm phán chủ tọa phiên tòa chỉ được trả hồ sơ để điều tra bổ sung một lần và Hội đồng xét xử chỉ được trả hồ sơ để điều tra bổ sung một lần.

Thời hạn điều tra bổ sung tính từ ngày Cơ quan điều tra nhận lại hồ sơ vụ án và yêu cầu điều tra bổ sung.


Thời hạn điều tra lại

      Thời hạn điều tra lại là thời hạn do pháp luật quy định để tiến hành điều tra lại vụ án theo quyết định của Hội đồng xét xử phúc thẩm, Hội đồng giám đốc thẩm, tái thẩm. Điều tra lại được tiến hành trong những trường hợp vụ án được đưa ra xét xử nhưng Tòa án cấp phúc thẩm hủy án sơ thẩm, hội đồng giám đốc thẩm, hội đồng tái thẩm hủy bản án hoặc quyết định đã có hiệu lực pháp luật bị kháng nghị để điều tra lại. Khi điều tra lại thời hạn điều tra và gia hạn điều tra được áp dụng theo thủ tục chung quy định tại Điều 172 BLTTHS. Thời hạn điều tra lại được tính từ khi cơ quan điều tra nhận hồ sơ và yêu cầu điều tra lại.

      Trên đây là toàn bộ câu trả lời của chúng tôi về vấn đề thời hạn điều tra vụ án hình sự. Nếu nội dung tư vấn còn chưa rõ, có nội dung gây hiểu nhầm hoặc có thắc mắc cần tư vấn cụ thể hơn, bạn có thể kết nối tới  HOTLINE 19006588 của Luật Quang Huy để được Luật sư tư vấn luật hình sự tư vấn trực tiếp.

      Trân trọng./.


 

Hãy chia sẻ bài viết này vì nó hữu ích và hoàn toàn miễn phí bạn nhé!


phone-call

HỎI ĐÁP QUA ĐIỆN THOẠI