Thẩm quyền hoà giải tranh chấp đất đai

  • Tranh chấp đất đai mà các bên tranh chấp không hòa giải được thì gửi đơn đến Ủy ban nhân dân cấp xã nơi có đất tranh chấp để hòa giải.
  • Trường hợp hòa giải không thành hoặc sau khi hòa giải thành mà có ít nhất một trong các bên thay đổi ý kiến về kết quả hòa giải thì Ủy ban nhân dân cấp xã lập biên bản hòa giải không thành và hướng dẫn các bên tranh chấp gửi đơn đến cơ quan có thẩm quyền giải quyết tranh chấp tiếp theo.

      Tranh chấp về đất đai là một trong những tranh chấp xảy ra phổ biến, rất phức tạp và đa số các tranh chấp về đất đai phải giải quyết bằng con đường Tòa án. Một trong những biện pháp hữu hiệu để hạn chế các bên tranh chấp khởi kiện ra Tòa án để giải quyết tranh chấp đất đai là tăng cường công tác hòa giải ở cơ sở nhất là hòa giải tại Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn (gọi chung là Ủy ban nhân dân cấp xã). Vậy pháp luật quy định về thẩm quyền hòa giải tranh chấp đất đai như thế nào? Với bài viết dưới đây, Luật Quang Huy chúng tôi xin trình bày cụ thể nội dung thẩm quyền hòa giải tranh chấp đất đai theo quy định của pháp luật hiện hành.


Thẩm quyền hòa giải tranh chấp đất đai ở cấp xã

     Theo quy định của Luật Đất đai năm 2013 thì tranh chấp đất đai là tranh chấp về quyền, nghĩa vụ của người sử dụng đất giữa hai hoặc nhiều bên trong quan hệ đất đai. Nhà nước khuyến khích các bên tranh chấp đất đai tự hòa giải hoặc giải quyết tranh chấp đất đai thông qua hòa giải ở cơ sở. Tranh chấp đất đai mà các bên tranh chấp không hòa giải được thì gửi đơn đến Ủy ban nhân dân cấp xã nơi có đất tranh chấp để hòa giải.

      Cụ thể tại khoản 3 điều 202 luật đất đai 2013 quy định về thủ tục hòa giải tranh chấp đất đai tại ủy ban nhân dân xã:

Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã có trách nhiệm tổ chức việc hòa giải tranh chấp đất đai tại địa phương mình; trong quá trình tổ chức thực hiện phải phối hợp với Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp xã và các tổ chức thành viên của Mặt trận, các tổ chức xã hội khác.

      Cũng theo căn cứ tại điểm b khoản 1 điều 88 nghị định số 43/2014/NĐ-CP hướng dẫn thi hành luật đất đai quy định:

Thành lập Hội đồng hòa giải tranh chấp đất đai để thực hiện hòa giải. Thành phần Hội đồng gồm: Chủ tịch hoặc Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân là Chủ tịch Hội đồng …

      Như vậy theo căn cứ của pháp luật hiện hành thì thẩm quyền hòa giải tranh chấp đất đai tại ủy ban nhân dân xã thuộc về Hội đồng hòa giải mà đứng đầu thường là Chủ tịch hoặc Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã.

Thẩm quyền hòa giải tranh chấp đất đai
Thẩm quyền hòa giải tranh chấp đất đai

Thẩm quyền hòa giải tranh chấp đất đai cấp trên

      Trong thực tế việc hòa giải tranh chấp đất đai không phải lúc nào cũng thành, và khi tranh chấp đất đai giữa các bên không thể hòa giải được tại ủy ban nhân dân xã thì người có đơn yêu cầu giải quyết tranh chấp đất đai nộp đơn tại Ủy ban nhân dân cấp trên có thẩm quyền.

      Căn cứ tại khoản 4 Điều 88 Nghị định số 43/2014/NĐ-CP quy định về thủ tục hòa giải tranh chấp đất đai thì trường hợp hòa giải không thành hoặc sau khi hòa giải thành mà có ít nhất một trong các bên thay đổi ý kiến về kết quả hòa giải thì Ủy ban nhân dân cấp xã lập biên bản hòa giải không thành và hướng dẫn các bên tranh chấp gửi đơn đến cơ quan có thẩm quyền giải quyết tranh chấp tiếp theo.

      Theo khoản 3 điều 203 luật đất đai 2013 quy định trường hợp đương sự lựa chọn giải quyết tranh chấp tại Ủy ban nhân dân cấp có thẩm quyền thì việc giải quyết tranh chấp đất đai được thực hiện như sau:

  • Trường hợp tranh chấp giữa hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư với nhau thì Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện giải quyết. Căn cứ tại khoản 4 điều 89 nghị định số 43/2014/NĐ-CP quy định về thầm quyền giải quyết tranh chấp đất đai cấp huyện, tỉnh như sau:

Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp có thẩm quyền ban hành quyết định giải quyết tranh chấp hoặc quyết định công nhận hòa giải thành, gửi cho các bên tranh chấp, các tổ chức, cá nhân có quyền và nghĩa vụ liên quan.

        Trường hợp không đồng ý với quyết định giải quyết tranh chấp thì có quyền khiếu nại đến Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh hoặc khởi kiện tại Tòa án nhân dân theo quy định của pháp luật về tố tụng hành chính. 

  • Trường hợp tranh chấp mà một bên tranh chấp là tổ chức, cơ sở tôn giáo, người Việt Nam định cư ở nước ngoài, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài thì Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh giải quyết. Tương tự như ở cấp huyện, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh ban hành quyết định giải quyết tranh chấp hoặc quyết định công nhận hòa giải thành, gửi cho các bên tranh chấp, các tổ chức, cá nhân có quyền và nghĩa vụ liên quan. Nếu không đồng ý với quyết định giải quyết thì có quyền khiếu nại đến Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường hoặc khởi kiện tại Tòa án nhân dân theo quy định của pháp luật về tố tụng hành chính. 

      Như vậy, trường hợp nếu hòa giải không thành thì đương sự có thể gửi đơn lên ủy ban nhân dân cấp tỉnh để thực hiện giải quyết tranh chấp. Thầm quyền giải quyết tranh chấp đất đai cấp trên thuộc về chủ tịch ủy ban nhân dân cấp huyện hoặc cấp tỉnh.

      Tuy nhiên, theo quy định của pháp luật thì Ủy ban nhân dân cấp huyện, tỉnh sẽ tiến hành thủ tục giải quyết tranh chấp đất đai chứ không thực hiện thủ tục hòa giải. Nhưng trong quá trình giải quyết tranh chấp đất đai thì ủy ban nhân dân có thể định hướng để các bên tự hòa giải với nhau.


Cơ sở pháp lý

  • Luật đất đai 2013
  • Nghị định số 43/2014/NĐ-CP

      Trên đây là toàn bộ lời tư vấn về Thẩm quyền hòa giải tranh chấp đất đai theo quy định của pháp luật. Mọi thắc mắc của bạn liên quan tới vấn đề này hoặc cần tư vấn về vấn đề giải quyết tranh chấp đất đai, bạn vui lòng liên hệ Tổng đài tư vấn pháp luật trực tuyến qua HOTLINE 19006588 của Luật Quang Huy để được hỗ trợ cụ thể.

      Trân trọng./.


Tác giả bài viết

Leave a Comment

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

G

TƯ VẤN QUA ĐIỆN THOẠI

shares
Scroll to Top