QUYỀN VÀ NGHĨA VỤ CỦA ĐƯƠNG SỰ VÀ NGƯỜI CÓ QUYỀN LỢI, NGHĨA VỤ LIÊN QUAN TRONG THI HÀNH ÁN DÂN SỰ

Thi hành án dân sự là việc tổ chức thi hành các bản ản, quyết định được đưa ra thi hành theo quy định của các cơ quan, tổ chức có thẩm quyền nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân cơ quan, tổ chức. họat động thi hành án nói chung và hoạt động thi hành án dân sự nói riêng có ý nghĩa vô cùng quan trọng đối với tòan bộ quá trình giải quyết vụ án bởi vì bản án, quyết định chỉ có ý nghĩa khi bản án án đó được thi hành trên thực tiễn, khi đó quyền và lợi ích hợp pháp của các đương sự vì thế cũng được bảo vệ một cách trọn vẹn, đầy đủ hơn. Quyền và nghĩa vụ của đương sự và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong thi hành án dân sự”. Qua bài viết này Luật Quang Huy sẽ đi sâu phân tích và tìm hiểu vấn đề này:


Cơ sở pháp lý

  • Đại học Luật Hà Nội, Giáo trình Luật thi hành án dân sự Việt Nam, NXB Tư Pháp.
  • Luật thi hành án dân sự 2008 sửa đổi bổ sung 2014.
  • Trường Đại học Luật Hà Nội, Giáo trình luật dân sự Việt Nam, tập 2, Nxb. CAND, Hà Nội

Quyền và nghĩa vụ của đương sự và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong thi hành án dân sự

Quyền và nghĩa vụ của đương sự trong thi hành án dân sự

Một số khái niệm liên quan

       Căn cứ theo quy định tại khoản 1 Điều 3 Luật thi hành án dân sự sửa đổi bổ sung năm 2014 (sau đây gọi tắt là LTHADS) như sau: “ Đương sự bao gồm người được thi hành án, người phải thi hành án.”

       Như vậy, trong thi hành án dân sự đương sự bao gồm hai đối tượng là người được thi hành án và người phải thi hành án. Tại khoản 2, khoản 3 Điều 3 LTHADS người được thi hành án và người phải thi hành án được định nghĩa như sau:

“- Người được thi hành án là cá nhân, cơ quan, tổ chức được hưởng quyền, lợi ích trong bản án, quyết định được thi hành.

– Người phải thi hành án là cá nhân, cơ quan, tổ chức phải thực hiện nghĩa vụ trong bản án, quyết định được thi hành.”


Quyền và nghĩa vụ của đương sự trong thi hành án dân sự

Quyền và nghĩa vụ của người được thi hành án

Quyền của người được thi hành án

Quyền của người được thi hành án được LTHADS quy định rất cụ thể tại khoản 1 Điều 7, theo đó người được thi hành án có các quyền sau đây:

a) Yêu cầu thi hành án, đình chỉ thi hành một phần hoặc toàn bộ bản án, quyết định, áp dụng biện pháp bảo đảm, áp dụng biện pháp cưỡng chế thi hành án được quy định trong Luật này;

b) Được thông báo về thi hành án;

c) Thỏa thuận với người phải thi hành án, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan về thời gian, địa điểm, phương thức, nội dung thi hành án;

d) Yêu cầu Tòa án xác định, phân chia quyền sở hữu, sử dụng tài sản; yêu cầu Tòa án giải thích những điểm chưa rõ, đính chính lỗi chính tả hoặc số liệu sai sót; khởi kiện dân sự để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình trong trường hợp có tranh chấp về tài sản liên quan đến thi hành án;

đ) Tự mình hoặc ủy quyền cho người khác xác minh, cung cấp thông tin về điều kiện thi hành án của người phải thi hành án;

e) Không phải chịu chi phí xác minh điều kiện thi hành án do Chấp hành viên thực hiện;

g) Yêu cầu thay đổi Chấp hành viên trong trường hợp có căn cứ cho rằng Chấp hành viên không vô tư khi làm nhiệm vụ;

h) Ủy quyền cho người khác thực hiện quyền, nghĩa vụ của mình;

i) Chuyển giao quyền được thi hành án cho người khác;

k) Được miễn, giảm phí thi hành án trong trường hợp cung cấp thông tin chính xác về điều kiện thi hành án của người phải thi hành án và trường hợp khác theo quy định của Chính phủ;

l) Khiếu nại, tố cáo về thi hành án.”

Nghĩa vụ của người được thi hành án

Nghĩa vụ của người được thi hành án được LTHADS quy định rất cụ thể tại khoản 2 Điều 7, theo đó người được thi hành án có các nghĩa vụ sau đây:

a) Chấp hành nghiêm chỉnh bản án, quyết định;

b) Thực hiện các quyết định, yêu cầu của Chấp hành viên trong thi hành án; thông báo cho cơ quan thi hành án dân sự khi có thay đổi về địa chỉ, nơi cư trú;

c) Chịu phí, chi phí thi hành án theo quy định của Luật này.

Quyền và nghĩa vụ của người phải thi hành án

Quyền của người phải thi hành án

Quyền của người phải thi hành án được LTHADS quy định rất cụ thể tại khoản 1 Điều 7a như sau:

Người phải thi hành án có các quyền sau đây:

a) Tự nguyện thi hành án; thỏa thuận với người được thi hành án, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan về thời gian, địa điểm, phương thức, nội dung thi hành án; tự nguyện giao tài sản để thi hành án;

b) Tự mình hoặc ủy quyền cho người khác yêu cầu thi hành án theo quy định của Luật này;

c) Được thông báo về thi hành án;

d) Yêu cầu Tòa án xác định, phân chia quyền sở hữu, sử dụng tài sản; yêu cầu Tòa án giải thích những điểm chưa rõ, đính chính lỗi chính tả hoặc số liệu sai sót; khởi kiện dân sự để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình trong trường hợp có tranh chấp về tài sản liên quan đến thi hành án;

đ) Chuyển giao nghĩa vụ thi hành án cho người khác theo quy định của Luật này;

e) Yêu cầu thay đổi Chấp hành viên trong trường hợp có căn cứ cho rằng Chấp hành viên không vô tư khi làm nhiệm vụ;

g) Được xét miễn, giảm nghĩa vụ thi hành án; được xét miễn, giảm một phần hoặc toàn bộ chi phí cưỡng chế thi hành án theo quy định của Luật này;

h) Khiếu nại, tố cáo về thi hành án.

Nghĩa vụ của người phải thi hành án

Nghĩa vụ của người phải thi hành án được LTHADS quy định rất cụ thể tại khoản 2 Điều 7a như sau:

Người phải thi hành án có các nghĩa vụ sau đây:

a) Thi hành đầy đủ, kịp thời bản án, quyết định;

b) Kê khai trung thực tài sản, điều kiện thi hành án; cung cấp đầy đủ tài liệu, giấy tờ có liên quan đến tài sản của mình khi có yêu cầu của người có thẩm quyền và chịu trách nhiệm trước pháp luật về nội dung kê khai đó;

c) Thực hiện các quyết định, yêu cầu của Chấp hành viên trong thi hành án; thông báo cho cơ quan thi hành án dân sự khi có thay đổi về địa chỉ, nơi cư trú;

d) Chịu chi phí thi hành án theo quy định của Luật này.


Quyền và nghĩa vụ của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong thi hành án dân sự

Khái niệm

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được định nghĩa theo khoản 4 Điều 3 LTHADS như sau: “ Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là cá nhân, cơ quan, tổ chức có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trực tiếp đến việc thực hiện quyền, nghĩa vụ thi hành án của đương sự.

Quyền và nghĩa vụ của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan

Quyền và nghĩa vụ của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được LTHADS quy định rất cụ thể tại Điều 7b như sau:

  • Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có các quyền sau đây:

a) Được thông báo, tham gia vào việc thực hiện biện pháp bảo đảm, biện pháp cưỡng chế thi hành án mà mình có liên quan;

b) Yêu cầu Tòa án xác định, phân chia quyền sở hữu, sử dụng tài sản; yêu cầu Tòa án giải thích những điểm chưa rõ, đính chính lỗi chính tả hoặc số liệu sai sót; khởi kiện dân sự để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình trong trường hợp có tranh chấp về tài sản liên quan đến thi hành án;

c) Khiếu nại, tố cáo về thi hành án.

  • Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có nghĩa vụ :

Thực hiện nghiêm chỉnh các quyết định, yêu cầu của Chấp hành viên trong thi hành án; thông báo cho cơ quan thi hành án dân sự khi có thay đổi về địa chỉ, nơi cư trú.


Đánh giá quy định pháp luật về quyền và nghĩa vụ của đương sự; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong thi hành án dân sự

Đánh giá quy định của pháp luật

       Thi hành án dân sự là công cụ quan trọng để bảo vệ quyền lợi của người được thi hành án được xác định trong bản án, quyết định. Pháp luật THADS quy định và bảo vệ quyền được tự nguyện, quyền được thỏa thuận trong thi hành án cho các đương sự, bởi thực chất của việc THADS là việc tổ chức và thực thi các phán quyết có nguồn gốc về pháp luật nội dung là luật tư. Trong mọi giai đoạn của quá trình thi hành án, đương sự đều có quyền thỏa thuận, định đoạt các vấn đề liên quan đến việc thực hiện quyền và nghĩa vụ trong bản án, quyết định. Đây là một quyền quan trọng của đương sự trong THADS. “Vấn đề dân sự, thương sự cốt ở hai bên, đó là nguyên tắc xuyên suốt, chỉ yêu cầu Nhà nước can thiệp khi họ không thể tự giải quyết. Việc tự giải quyết không chỉ làm giảm gánh nặng của cơ quan thi hành án, mà còn làm tăng tình đoàn kết giữa hai bên. Nhất là truyền thống của Việt Nam khuyến khích hòa giải ở bất kỳ giai đoạn nào. Do đó, theo chúng tôi nghĩ cần giữ nguyên tắc để các bên thi hành án tự nguyện thi hành, khi bên phải thi hành cố tình không thực hiện, bên được thi hành án có yêu cầu thì cơ quan thi hành án mới vào cuộc”.

      Không giống như nhiều nước trên thế giới quy định Tòa án là cơ quan có thẩm quyền ra quyết định thi hành án, ở Việt Nam, thẩm quyền này được giao cho cơ quan THADS. Mặc dù thẩm quyền ra quyết định và tổ chức thi hành án khác nhau, tuy nhiên, điểm chung trong pháp luật các nước, đó là đảm bảo kiểm soát việc sử dụng biện pháp chế tài trong THADS – chỉ Nhà nước mới có quyền thực hiện cưỡng chế thi hành án. Nhà nước giao cho cơ quan THADS, chấp hành viên thực hiện. Mọi cá nhân, tổ chức khác không được phép sử dụng quyền lực để buộc người khác thực hiện nghĩa vụ của họ nếu pháp luật không cho phép.

Kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Tại điểm a khoản 1 Điều 7a  LTHADS có quy định về quyền của người phải thi hành án như sau: “Người phải thi hành án có các quyền sau đây:

a) Tự nguyện thi hành án; thỏa thuận với người được thi hành án, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan về thời gian, địa điểm, phương thức, nội dung thi hành án; tự nguyện giao tài sản để thi hành án;”

        Theo tôi, nên bỏ quy định về biện pháp tự nguyện thi hành án, không nên quy định tự nguyện thi hành án là một biện pháp bắt buộc trong THADS, đây cần được xem quyền của người phải thi hành án, họ có thể thỏa thuận với bên được thi hành án để tự thực hiện nghĩa vụ của mình, Nhà nước không cần can thiệp vào việc này. Khi người được thi hành án yêu cầu cơ quan nhà nước tổ chức thi hành án, cơ quan thi hành án cần nhanh chóng triển khai áp dụng các biện pháp cưỡng chế thi hành án, việc quy định biện pháp tự nguyện thi hành án trong trường hợp này không cần thiết, kéo dài việc thi hành án. Bởi lẽ, trong quá trình theo đuổi vụ tranh chấp, nhiều trường hợp bên phải thi hành án đã biết được kết quả có thể của vụ kiện, đặc biệt sau khi đã có bản án, quyết định, nghĩa vụ thi hành án của họ đã được xác định rõ, thông thường từ khi bản án, quyết định có hiệu lực đến khi người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án là khoảng thời gian dài, nhưng người phải thi hành án vẫn không tự nguyện thực hiện nghĩa vụ của mình, vì vậy, Luật Thi hành án dân sự hiện hành quy định thời hạn 10 ngày để bên phải thi hành án tự nguyện thực hiện nghĩa vụ sau khi có quyết định thi hành án là không cần thiết. Thực tiễn về THADS cho thấy người phải thi hành án thường có xu hướng tìm mọi cách để tẩu tán, che dấu tài sản, trốn tránh việc thi hành án, do vậy, việc quy định khoảng thời gian tự nguyện thi hành án như hiện nay vô hình trung tạo điều kiện cho người phải thi hành án tẩu tán tài sản, trốn tránh việc thi hành án.


      Trên đây là phần giải đáp thắc mắc của chúng tôi về vấn đề: Quyền và nghĩa vụ của đương sự và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong thi hành án dân sự.  Nếu trong quá trình giải quyết còn gì thắc mắc bạn có thể liên hệ chúng tôi qua tổng đài tư vấn pháp luật qua HOTLINE 19006588 của Luật Quang Huy để được giải đáp.

Trân trọng./.


 

5 / 5 ( 1 bình chọn )

Tại sao bạn nên chia sẻ bài viết này? Vì nó hữu ích, và hoàn toàn miễn phí :)


Tác giả bài viết

OO

HỎI ĐÁP QUA ĐIỆN THOẠI