QUYỀN TÁC GIẢ LÀ GÌ? QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VỀ QUYỀN TÁC GIẢ

  • Quyền tác giả là quyền của tổ chức, cá nhân đối với tác phẩm do mình sáng tạo ra hoặc sở hữu.
  • Để tác phẩm được bảo hộ quyền tác giả, cần đáp ứng các điều kiện sau đây: Có tính nguyên gốctính sáng tạo; Tác phẩm phải được thể hiện dưới hình thức vật chất nhất định.
  • Về nội dung quyền tác giả được bảo hộ bao gồm quyền nhân thânquyền về tài sản cho tác giả, chủ sở hữu tác phẩm được bảo hộ quyền tác giả đó.

      Trong xã hội hiện đại như ngày nay, việc truyền bá các sản phẩm, các tác phẩm nghệ thuật được thực hiện rất dễ dàng bằng nhiều phương thức khác nhau. Quyền tác giả được nhắc đến rất nhiều trong các văn bản pháp luật, quy định về quyền của tác giả, cơ chế bảo hộ quyền tác giả với sản phẩm của mình cũng được thể hiện rất rõ. Tuy nhiên, không phải ai cũng nắm được những quy định này cũng như cách thức bảo vệ quyền lợi khi tác phẩm nghệ thuật của mình bị người khác sử dụng, phát tán. Trên thực tế, hành vi xâm phạm quyền tác giả cũng rất phổ biến, chẳng hạn như vi phạm bản quyền bài hát, bản quyền sách đang trong thời hạn bảo hộ quyền tác giả. Vậy làm sao để bảo vệ quyền tác giả, là những chủ thể bỏ ra công sức để có được tác phẩm đó? Hãy cùng Luật Quang Huy tìm hiểu về quyền tác giả và quy định liên quan trong bài viết dưới đây:


Căn cứ pháp lý

  • Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005, sửa đổi bổ sung năm 2009
  • Nghị định 22/2018/NĐ-CP

Quyền tác giả là gì?

      Quyền tác giả (hay tác quyền hoặc bản quyền) là thuật ngữ rất phổ biến trên thực tế và thường được hiểu là quyền độc quyền của tác giả cho tác phẩm của người này. Vậy theo quy định của pháp luật, quyền tác giả là gì? Cơ chế bảo hộ quyền tác giả được quy định như thế nào?

      Khoản 2 Điều 4 Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005, sửa đổi bổ sung năm 2009 quy định về quyền tác giả như sau:

Quyền tác giả là quyền của tổ chức, cá nhân đối với tác phẩm do mình sáng tạo ra hoặc sở hữu.

      Theo đó, quyền tác giả chính là quyền của chủ thể được coi là tác giả đối với sản phẩm do chính bản thân mình sáng tạo ra hoặc sở hữu tác phẩm đó. Vậy, đối tượng của quyền tác giả là gì? Có phải mọi tác phẩm đều được bảo hộ quyền tác giả không?

      Khoản 7 Điều 4 Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005, sửa đổi bổ sung năm 2009 quy định về tác phẩm như sau:

Tác phẩm là sản phẩm sáng tạo trong lĩnh vực văn học, nghệ thuật và khoa học thể hiện bằng bất kỳ phương tiện hay hình thức nào.

      Tác phẩm ở đây có nhiều loại, có thể là tác phẩm nguyên gốc, tác phẩm phái sinh hoặc tác phẩm đã công bố.

      Như vậy, quyền tác giả được dùng để bảo vệ các tác phẩm mang tính sáng tạo tinh thần có tính chất văn hóa để không bị vi phạm bản quyền, chẳng hạn như các bài viết về khoa học hay văn học, sáng tác nhạc, ghi âm, tranh vẽ, hình chụp, phim và các chương trình truyền thanh. Quyền này bảo vệ các quyền lợi cá nhân và lợi ích kinh tế của tác giả trong mối liên quan với tác phẩm này.

      Khi quyền tác giả được bảo hộ, Cục Bản quyền tác giả sẽ cấp Giấy chứng nhận đăng ký quyền tác giả, thiết lập bản quyền cho tác giả, chủ sở hữu tác phẩm đó.


Căn cứ làm phát sinh quyền tác giả

      Khoản 1 Điều 6 Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005, sửa đổi bổ sung năm 2009 quy định về căn cứ phát sinh quyền tác giả như sau:

Quyền tác giả phát sinh kể từ khi tác phẩm được sáng tạo và được thể hiện d­ưới một hình thức vật chất nhất định, không phân biệt nội dung, chất l­ượng, hình thức, phương tiện, ngôn ngữ, đã công bố hay ch­ưa công bố, đã đăng ký hay ch­ưa đăng ký.

      Có thể thấy, quyền tác giả phát sinh kể từ thời điểm tác phẩm đó được ra đời và được tác giả thể hiện dưới một hình thức vật chất nhất định. Chỉ cần sản phẩm đó được lưu lại dưới bất kỳ hình thức, phương tiện, ngôn ngữ nào, dù đã được công bố hay chưa công bố, đã được đăng ký hay chưa được đăng ký thì đều phát sinh quyền tác giả. Như vậy, sự xuất hiện của tác phẩm chính là căn cứ phát sinh quyền tác giả và quyền này cần được tôn trọng, bảo vệ.


Điều kiện bảo hộ quyền tác giả

      Điều 13 Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005, sửa đổi bổ sung năm 2009 thì tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả có tác phẩm sẽ được bảo hộ quyền tác giả.

1. Tổ chức, cá nhân có tác phẩm được bảo hộ quyền tác giả gồm người trực tiếp sáng tạo ra tác phẩm và chủ sở hữu quyền tác giả quy định tại các điều từ Điều 37 đến Điều 42 của Luật này.

2. Tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả quy định tại khoản 1 Điều này gồm tổ chức, cá nhân Việt Nam; tổ chức, cá nhân nước ngoài có tác phẩm được công bố lần đầu tiên tại Việt Nam mà chưa được công bố ở bất kỳ nước nào hoặc được công bố đồng thời tại Việt Nam trong thời hạn ba mươi ngày, kể từ ngày tác phẩm đó được công bố lần đầu tiên ở nước khác; tổ chức, cá nhân nước ngoài có tác phẩm được bảo hộ tại Việt Nam theo điều ước quốc tế về quyền tác giả mà Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên. 

      Quyền tác giả hay tác quyền hoặc bản quyền là độc quyền của một tác giả cho tác phẩm của người này. Để tác phẩm được bảo hộ quyền tác giả, cần đáp ứng các điều kiện sau đây:

  • Có tính nguyên gốc và tính sáng tạo. Tính nguyên gốc và sáng tạo thể hiện ở tác phẩm đó được tạo ra một cách độc lập và không sao chép từ bất kỳ một tác phẩm nào khác. Việc bảo hộ quyền tác giả chỉ áp dụng với tác phẩm được tạo ra với sự mới mẻ và nguyên gốc, không phải tái bản hay vay mượn từ khác tác phẩm khác.
  • Tác phẩm phải được thể hiện dưới hình thức vật chất nhất định. Sáng tạo trong lĩnh vực văn học, nghệ thuật và khoa học chỉ được công nhận là tác phẩm nếu được thể hiện dưới hình thức vật chất nhất định. Chẳng hạn như tác phẩm thơ, truyện được thể hiện trên giấy, tác phẩm điện ảnh dưới dạng những thước phim,… Việc ghi lại tác phẩm dưới hình thức nhất định nào đó là cơ sở để bảo hộ quyền tác giả cho tác phẩm này.

      Khoản 1 Điều 14 Luật Sở hữu trí tuệ quy định cụ thể về các loại hình tác phẩm được bảo hộ quyền tác giả. Theo đó, tác phẩm văn học, nghệ thuật và khoa học được bảo hộ bao gồm:

  • Tác phẩm văn học, khoa học, sách giáo khoa, giáo trình và tác phẩm khác được thể hiện dưới dạng chữ viết hoặc ký tự khác;
  • Bài giảng, bài phát biểu và bài nói khác;
  • Tác phẩm báo chí;
  • Tác phẩm âm nhạc;
  • Tác phẩm sân khấu;
  • Tác phẩm điện ảnh và tác phẩm được tạo ra theo phương pháp tương tự (sau đây gọi chung là tác phẩm điện ảnh);
  • Tác phẩm tạo hình, mỹ thuật ứng dụng;
  • Tác phẩm nhiếp ảnh;
  • Tác phẩm kiến trúc;
  • Bản họa đồ, sơ đồ, bản đồ, bản vẽ liên quan đến địa hình, công trình khoa học;
  • Tác phẩm văn học, nghệ thuật dân gian;
  • Chương trình máy tính, sưu tập dữ liệu.

      Các tác phẩm phái sinh chỉ được bảo hộ nếu không gây phương hại đến quyền tác giả đối với tác phẩm được dùng để tạo ra tác phẩm phái sinh đó.

      Luật sở hữu trí tuệ cũng quy định về các tác phẩm không được bảo hộ quyền tác giả, cụ thể bao gồm:

  • Tin tức thời sự thuần tuý đưa tin;
  • Văn bản quy phạm pháp luật, văn bản hành chính, văn bản khác thuộc lĩnh vực tư pháp và bản dịch chính thức của văn bản đó;
  • Quy trình, hệ thống, phương pháp hoạt động, khái niệm, nguyên lý, số liệu. 
Quyền tác giả

Nội dung, giới hạn quyền, thời hạn bảo hộ quyền tác giả

Nội dung và giới hạn quyền tác giả

      Về nội dung quyền tác giả, Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005, sửa đổi bổ sung năm 2009 quy định bao gồm quyền nhân thân và quyền về tài sản cho tác giả, chủ sở hữu tác phẩm được bảo hộ quyền tác giả đó.

      Về quyền nhân thân của tác giả, chủ sở hữu tác phẩm, Điều 19 Luật Sở hữu trí tuệ quy định như sau:

Quyền nhân thân bao gồm các quyền sau đây:

1. Đặt tên cho tác phẩm;

2. Đứng tên thật hoặc bút danh trên tác phẩm; được nêu tên thật hoặc bút danh khi tác phẩm được công bố, sử dụng;

3. Công bố tác phẩm hoặc cho phép người khác công bố tác phẩm;

4. Bảo vệ sự toàn vẹn của tác phẩm, không cho người khác sửa chữa, cắt xén hoặc xuyên tạc tác phẩm dưới bất kỳ hình thức nào gây phương hại đến danh dự và uy tín của tác giả.

      Theo quy định này, các quyền nhân thân bao gồm: quyền đặt tên cho tác phẩm; đứng tên thật hoặc bút danh trên tác phẩm, nêu tên thật hoặc bút danh khi tác phẩm được công bố, sử dụng; công bố, phổ biến hoặc cho người khác công bố, phổ biến tác phẩm của mình; bảo vệ sự toàn vẹn của tác phẩm, không cho phép người khác sửa chữa, cắt xén hoặc xuyên tạc tác phẩm dưới bất kỳ hình thức nào gây phương hại đến danh dự và uy tín của tác giả.
Tác giả không đồng thời là chủ sở hữu tác phẩm có các quyền nhân thân đối với tác phẩm mà mình sáng tạo gồm: đặt tên cho tác phẩm; đứng tên thật hoặc bút danh trên tác phẩm; bảo vệ sự toàn vẹn tác phẩm, cho phép hoặc không cho phép người khác sửa đổi nội dung của tác phẩm.
Chủ sở hữu tác phẩm không đồng thời là tác giả có các quyền nhân thân đối với tác phẩm gồm: công bố, phổ biến hoặc cho người khác công bố, phổ biến tác phẩm thuộc sở hữu của mình, trừ trường hợp giữa tác giả và chủ sở hữu có thỏa thuận khác; cho hoặc không cho người khác sử dụng tác phẩm thuộc quyền sở hữu của mình, trừ trường hợp giữa tác giả và chủ sở hữu có thoả thuận khác.

      Về quyền tài sản, Điều 20 Luật Sở hữu trí tuệ quy định bao gồm các quyền cơ bản sau đây:

  • Làm tác phẩm phái sinh;
  • Biểu diễn tác phẩm trước công chúng;
  • Sao chép tác phẩm;
  • Phân phối, nhập khẩu bản gốc hoặc bản sao tác phẩm;
  • Truyền đạt tác phẩm đến công chúng bằng phương tiện hữu tuyến, vô tuyến, mạng thông tin điện tử hoặc bất kỳ phương tiện kỹ thuật nào khác;
  • Cho thuê bản gốc hoặc bản sao tác phẩm điện ảnh, chương trình máy tính.

      Các quyền về tài sản nêu trên do tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả độc quyền thực hiện hoặc cho phép người khác thực hiện theo quy định. Các tổ chức, cá nhân khi khai thác, sử dụng một, một số hoặc toàn bộ các quyền về nhân thân nêu trên thì phải xin phép và trả tiền nhuận bút, thù lao, các quyền lợi vật chất khác cho chủ sở hữu quyền tác giả.

Quy định của pháp luật về quyền tác giả

Thời hạn bảo hộ quyền tác giả

      Quyền tác giả được bảo hộ trong thời gian bao lâu? Đây là thắc mắc của rất nhiều người, đặc biệt là tác giả, chủ sở hữu của tác phẩm được bảo hộ quyền tác giả.  Điều 27 Luật Sở hữu trí tuệ quy định về thời hạn bảo hộ quyền tác giả, theo đó mỗi loại quyền lại có thời hạn bảo hộ khác nhau. 

      Các quyền nhân thân như đặt tên cho tác phẩm, đứng tên thật hoặc bút danh trên tác phẩm; được nêu tên thật hoặc bút danh khi tác phẩm được công bố, sử dụng, bảo vệ sự toàn vẹn của tác phẩm, không cho người khác sửa chữa, cắt xén hoặc xuyên tạc tác phẩm dưới bất kỳ hình thức nào gây phương hại đến danh dự và uy tín của tác giả sẽ được bảo hộ vô thời hạn.

      Các quyền công bố tác phẩm hoặc cho phép người khác công bố tác phẩm và các quyền tài sản quy định tại Điều 20 của Luật Sở hữu trí tuệ có thời hạn bảo hộ như sau:

  • Tác phẩm điện ảnh, nhiếp ảnh, sân khấu, mỹ thuật ứng dụng, tác phẩm khuyết danh có thời hạn bảo hộ là năm mươi năm, kể từ khi tác phẩm được công bố lần đầu tiên. Trong thời hạn năm mươi năm, kể từ khi tác phẩm điện ảnh, tác phẩm sân khấu được định hình, nếu tác phẩm chưa được công bố thì thời hạn được tính từ khi tác phẩm được định hình; đối với tác phẩm khuyết danh, khi các thông tin về tác giả được xuất hiện thì thời hạn bảo hộ được tính theo quy định tại điểm b khoản này;
  • Tác phẩm không thuộc loại hình quy định tại điểm a khoản này có thời hạn bảo hộ là suốt cuộc đời tác giả và năm mươi năm tiếp theo năm tác giả chết; trong trường hợp tác phẩm có đồng tác giả thì thời hạn bảo hộ chấm dứt vào năm thứ năm mươi sau năm đồng tác giả cuối cùng chết;
  • Thời hạn bảo hộ chấm dứt vào thời điểm 24 giờ ngày 31 tháng 12 của năm chấm dứt thời hạn bảo hộ quyền tác giả. 

Chủ sở hữu quyền tác giả

      Điều 36 Luật Sở hữu trí tuệ quy định về chủ sở hữu quyền tác giả như sau:

Chủ sở hữu quyền tác giả là tổ chức, cá nhân nắm giữ một, một số hoặc toàn bộ các quyền tài sản quy định tại Điều 20 của Luật này.

      Điều 25 Nghị định 22/2018/NĐ-CP hướng dẫn Luật Sở hữu trí tuệ thì chủ sở hữu quyền tác giả quy định tại Điều 36 của Luật sở hữu trí tuệ bao gồm:

  • Tổ chức, cá nhân Việt Nam.
  • Tổ chức, cá nhân nước ngoài có tác phẩm được sáng tạo và thể hiện dưới hình thức vật chất nhất định tại Việt Nam.
  • Tổ chức, cá nhân nước ngoài có tác phẩm được công bố lần đầu tiên tại Việt Nam.
  • Tổ chức, cá nhân nước ngoài có tác phẩm được bảo hộ tại Việt Nam theo Điều ước quốc tế mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên.

      Đối với mỗi chủ thể là cá nhân hoặc tổ chức khác nhau thì phạm vi quyền tác giả lại khác nhau, có thể có một, một số hoặc toàn bộ quyền tác giả theo quy định của pháp luật.


      Trên đây là toàn bộ thông tin về quyền tác giả và các quy định liên quan đến quyền tác giả. Nếu có vướng mắc về các vấn đề liên quan, bạn vui lòng liên hệ HOTLINE 19006588 của Luật Quang Huy để được hỗ trợ.

      Trân trọng ./.


Đánh giá

Tại sao bạn nên chia sẻ bài viết này? Vì nó hữu ích, và hoàn toàn miễn phí :)


Tác giả bài viết

OO

HỎI ĐÁP QUA ĐIỆN THOẠI