Trách nhiệm hình sự của pháp nhân thương mại phạm tội

Pháp nhân thương mại phạm tội là gì?

Pháp nhân thương mại là gì?

Cơ sở và nguyên tắc xử lý hình sự với pháp nhân thương mại được quy định như thế nào?

Pháp nhân thương mại nếu đủ các yếu tố cấu thành tội phạm có thể phải chịu những hình phạt gì?

Bài viết dưới đây, Luật Quang Huy sẽ cung cấp cho bạn những quy định về pháp nhân thương mại phạm tội để bạn có thể tham khảo.


1. Pháp nhân là gì?

Tuy pháp luật không quy định cụ thể về khái niệm, nhưng qua các điều kiện thì có thể đưa ra một khái niệm cơ bản của pháp nhân.

Pháp nhân là một tổ chức (một chủ thể pháp luật) có tư cách pháp lý độc lập, có thể tham gia vào các hoạt động kinh tế, chính trị, xã hội… theo quy định của pháp luật.


2. Pháp nhân thương mại phạm tội là gì?

Dưới góc độ khoa học luật hình sự, pháp nhân thương mại phạm tội là pháp nhân thương mại thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong bộ luật hình sự một cách cố ý hoặc vô ý xâm phạm đến khách thể được bộ luật hình sự ghi nhận, bảo vệ mà theo quy định của bộ luật này phải bị xử lý hình sự.

Trên cơ sở này, khoản 2 điều 2 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 đã quy định:

Chỉ pháp nhân thương mại nào phạm một tội đã được quy định tại điều 76 của Bộ luật này mới phải chịu trách nhiệm hình sự.

Pháp nhân thương mại phạm tội là gì?
Pháp nhân thương mại phạm tội là gì?

3. Cơ sở và nguyên tắc xử lý hình sự với pháp nhân thương mại

Khoản 2 điều 3 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 quy định các nguyên tắc xử lý đối với pháp nhân thương mại phạm tội bên cạnh xử lý đối với người phạm tội như sau:

  • Mọi hành vi phạm tội do pháp nhân thương mại thực hiện phải được phát hiện kịp thời, xử lý nhanh chóng, công minh theo đúng pháp luật;
  • Mọi pháp nhân thương mại phạm tội đều bình đẳng trước pháp luật, không phân biệt hình thức sở hữu và thành phần kinh tế;
  • Nghiêm trị pháp nhân thương mại phạm tội dùng thủ đoạn tinh vi, có tính chất chuyên nghiệp, cố ý gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng;
  • Khoan hồng đối với pháp nhân thương mại tích cực hợp tác với cơ quan tiến hành tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án, tự nguyện sửa chữa hoặc bồi thường thiệt hại gây ra, chủ động ngăn chặn hoặc khắc phục hậu quả xảy ra.
Nghiêm trị pháp nhân thương mại phạm tội dùng thủ đoạn tinh vi
Nghiêm trị pháp nhân thương mại phạm tội dùng thủ đoạn tinh vi

Ngoài ra, cần lưu ý, kể cả pháp nhân thương mại nước ngoài phạm tội ở ngoài lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam cũng có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 trong trường hợp hành vi phạm tội xâm hại quyền, lợi ích hợp pháp của công dân Việt Nam hoặc xâm hại lợi ích của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam hoặc theo quy định của điều ước quốc tế mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên (điều 6 Bộ luật Hình sự 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Trong Bộ luật Hình sự 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 lần đầu tiên pháp nhân thương mại được đưa vào các thiết chế hình sự với tư cách là chủ thể của tội phạm.

Tuy nhiên, do tính chất đặc thù riêng của loại chủ thể này, nên việc xác định phạm vi các tội phạm mà chủ thể này thực hiện có những đặc trưng riêng.

Theo đó, chủ thể này không thể là chủ thể của tội phạm về chức vụ hay nhóm tội phạm về xâm phạm tính mạng, sức khỏe của con người được…

Theo quy định tại điều 76 Bộ luật Hình sự 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 thì pháp nhân thương mại phải chịu trách nhiệm hình sự về 33 tội phạm sau đây:

  • Một số tội xâm phạm trật tự quản lý kinh tế: Điều 188 (tội buôn lậu), Điều 189 (tội vận chuyển trái phép hàng hóa, tiền tệ qua biên giới), Điều 190 (tội sản xuất, buôn bán hàng cấm), Điều 191 (tội tàng trữ, vận chuyển hàng cấm), Điều 192 (tội sản xuất, buôn bán hàng giả), Điều 193 (tội sản xuất, buôn bán hàng giả là lương thực, thực phẩm, phụ gia thực phẩm), Điều 194 (tội sản xuất, buôn bán hàng giả là thuốc chữa bệnh, thuốc phòng bệnh), Điều 195 (tội sản xuất, buôn bán hàng giả là thức ăn dùng để chăn nuôi, phân bón, thuốc thú y, thuốc bảo vệ thực vật, giống cây trồng, giống vật nuôi), Điều 196 (tội đầu cơ), Điều 200 (tội trốn thuế), Điều 203 (tội in, phát hành, mua bán trái phép hóa đơn, chứng từ thu nộp ngân sách nhà nước), Điều 209 (tội cố ý công bố thông tin sai lệch hoặc che giấu thông tin trong hoạt động chứng khoán), Điều 210 (tội sử dụng thông tin nội bộ để mua bán chứng khoán), Điều 211 (tội thao túng thị trường chứng khoán), Điều 213 (tội gian lận trong kinh doanh bảo hiểm), Điều 216 (tội trốn đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp cho người lao động), Điều 217 (tội vi phạm quy định về cạnh tranh), Điều 225 (tội xâm phạm quyền tác giả, quyền liên quan), Điều 226 (tội xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp), Điều 227 (tội vi phạm quy định về nghiên cứu, thăm dò, khai thác tài nguyên), Điều 232 (tội vi phạm quy định về khai thác, bảo vệ rừng và lâm sản), Điều 234 (tội vi phạm quy định về bảo vệ động vật hoang dã);
  • Một số tội phạm về môi trường: Điều 235 (tội gây ô nhiễm môi trường), Điều 237 (tội vi phạm quy định về phòng ngừa, ứng phó, khắc phục sự cố môi trường), Điều 238 (tội vi phạm quy định về bảo vệ an toàn công trình thủy lợi, đê điều và phòng, chống thiên tai; vi phạm quy định về bảo vệ bờ, bãi sông), Điều 239 (tội đưa chất thải vào lãnh thổ Việt Nam), Điều 242 (tội hủy hoại nguồn lợi thủy sản), Điều 243 (tội hủy hoại rừng), Điều 244 (tội vi phạm quy định về bảo vệ động vật nguy cấp, quý, hiếm), Điều 245 (tội vi phạm quy định về quản lý khu bảo tồn thiên nhiên), Điều 246 (tội nhập khẩu, phát tán các loài ngoại lai xâm hại),
  • Một số tội xâm phạm an toàn công cộng, trật tự công cộng: Điều 300 (tội tài trợ khủng bố) và Điều 324 (tội rửa tiền).

Như vậy, theo quy định của bộ luật hình sự, pháp nhân thương mại chỉ phải chịu trách nhiệm hình sự chủ yếu trong hai lĩnh vực: tội xâm phạm trật tự quản lý kinh tế và tội phạm về môi trường.

Ngoài ra, pháp nhân thương mại cũng phải chịu trách nhiệm hình sự về tội tài trợ khủng bố và tội rửa tiền.

Việc quy định phạm vi trách nhiệm hình sự như vậy đối với pháp nhân thương mại là hợp lý từ góc độ thực tiễn tình hình vi phạm và các công ước quốc tế về chống rửa tiền và chống khủng bố mà Việt Nam tham gia; đáp ứng yêu cầu đấu tranh chống tội phạm hiện nay ở nước ta.

Trong Bộ luật Hình sự 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 quy định 33 tội phạm mà pháp nhân thương mại phải chịu trách nhiệm hình sự.

Trong các điều luật cụ thể nêu ở phần trên, thì quy định đối với pháp nhân thương mại thường được thiết kế tại khoản cuối cùng của điều luật thành một khoản tách bạch so với các quy định đối với cá nhân phạm tội.

Và do các dấu hiệu cấu thành tội phạm đối với cá nhân và pháp nhân thương mại giống nhau, cho nên trong các điều luật này cũng chủ yếu quy định chế tài đối với pháp nhân thương mại phạm tội.

Phân tích chế tài các điều luật quy định trách nhiệm hình sự đối với pháp nhân thương mại, có một số nhận xét như sau:

  • Một là, phạt tiền là hình phạt chính được quy định trong 100% chế tài. Tội phạm càng nghiêm trọng thì mức phạt tiền càng tăng.
  • Hai là, trong nhiều chế tài, đình chỉ hoạt động vĩnh viễn cũng được quy định là hình phạt chính. Còn đình chỉ hoạt động có thời hạn hầu như không được quy định.
  • Ba là, các hình phạt bổ sung cấm kinh doanh, cấm hoạt động trong một số lĩnh vực nhất định, cấm huy động vốn được quy định hầu như trong 100% chế tài. Phạt tiền cũng được quy định là hình phạt bổ sung trong nhiều trường hợp nếu hình phạt chính là đình chỉ hoạt động vĩnh viễn được áp dụng.

4. Điều kiện chịu trách nhiệm hình sự của pháp nhân thương mại

Pháp nhân thương mại chỉ phải chịu trách nhiệm hình sự khi có đủ các điều kiện sau đây:

4.1 Hành vi phạm tội được thực hiện nhân danh pháp nhân thương mại

Hành vi phạm tội được thực hiện nhân danh pháp nhân thương mại là hành vi của một người hoặc một số người đang thuộc biên chế của tổ chức kinh tế mà theo pháp luật thì tổ chức kinh tế này là pháp nhân thương mại.

Nếu họ không phải trong tổ chức kinh tế được công nhận là pháp nhân thương mại thì hành vi phạm tội của họ không phải là hành vi của pháp nhân thương mại.

Tuy nhiên, nếu một người được pháp nhân thương mại ký hợp đồng hay uỷ quyền thực hiện nhiệm vụ do pháp nhân thương mại giao và khi thực hiện họ nhân danh pháp nhân thương mại đã ký hợp đồng hoặc uỷ quyền cho họ thì hành vi phạm tội của người này vẫn là hành vi phạm tội của pháp nhân thương mại mà họ ký hợp đồng hoặc được uỷ quyền.

4.2 Hành vi phạm tội được thực hiện vì lợi ích của pháp nhân thương mại

Khi một người hoặc một số người thực hiện hành vi phạm tội do pháp nhân thương mại giao hoặc uỷ quyền đều vì lợi ích của pháp nhân thương mại chứ không vì lợi ích cá nhân của họ.

Tuy nhiên, nếu trong quá trình thực hiện hành vi phạm tội họ lại lợi dụng pháp nhân thương mại để thực hiện thêm hành vi vì lợi ích cá nhân thì chỉ hành vi nào vì lợi ích của pháp nhân thương mại mới buộc pháp nhân thương mại phải chịu, còn hành vi nào vượt ra ngoài lợi ích của pháp nhân thương mại mà vì lợi ích cá nhân họ thì họ phải chịu.

4.3 Hành vi phạm tội được thực hiện có sự chỉ đạo, điều hành hoặc chấp thuận của pháp nhân thương mại

Hành vi phạm tội của một hoặc một số người phải có sự chỉ đạo, điều hành hoặc chấp thuận của pháp nhân thương mại.

Sự chỉ đạo điều hành là sự chỉ đạo của những người đứng đầu hoặc của một tập thể pháp nhân thương mại như: Giám đốc, Tổng giám đốc, Hội đồng quản trị, Ban Giám đốc của công ty.

Sự chỉ đạo, điều hành này cũng tương tự như trường hợp phạm tội có tổ chức mà người tổ chức là người chỉ đạo điều hành mọi hành vi của tất cả các đồng phạm khác.

Ngoài sự chỉ đạo, điều hành của những người nhân danh pháp nhân thương mại còn có trường hợp tuy không có sự chỉ đạo, điều hành nhưng lại có sự chấp thuận của những người đứng đầu pháp nhân thương mại thì hành vi phạm tội cũng là hành vi phạm tội của pháp nhân thương mại.

Hành vi phạm tội được thực hiện có sự chỉ đạo, điều hành hoặc chấp thuận của pháp nhân thương mại
Hành vi phạm tội được thực hiện có sự chỉ đạo, điều hành hoặc chấp thuận của pháp nhân thương mại

4.4 Chưa hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự quy định

Thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự được quy định tại Khoản 2 và Khoản 3 Điều 27 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017 tuỳ thuộc vào tội phạm mà pháp nhân thương mại thực hiện:

  • 05 năm đối với tội phạm ít nghiêm trọng;
  • 10 năm đối với tội phạm nghiêm trọng;
  • 15 năm đối với tội phạm rất nghiêm trọng;
  • 20 năm đối với tội phạm đặc biệt nghiêm trọng.

Việc pháp nhân thương mại chịu trách nhiệm hình sự không loại trừ trách nhiệm hình sự của cá nhân.


5. Các hình phạt đối với pháp nhân thương mại phạm tội

5.1 Hình phạt chính

5.1.1 Phạt tiền

Phạt tiền được áp dụng là hình phạt chính hoặc hình phạt bổ sung đối với pháp nhân thương mại phạm tội.

Mức tiền phạt được quyết định căn cứ vào tính chất, mức độ nguy hiểm của tội phạm và có xét đến tình hình tài chính của pháp nhân thương mại phạm tội, sự biến động của giá cả nhưng không được thấp hơn 50.000.000 đồng;

5.1.2 Đình chỉ hoạt động có thời hạn

Đình chỉ hoạt động của pháp nhân trong một hoặc một số lĩnh vực mà pháp nhân thương mại gây thiệt hại đến tính mạng, sức khỏe con người, môi trường hoặc an ninh, trật tự, an toàn xã hội mà hậu quả gây ra có khả năng khắc phục trên thực tế.

Thời hạn đình chỉ hoạt động từ 06 tháng đến 03 năm;

Các hình phạt đối với pháp nhân thương mại phạm tội
Các hình phạt đối với pháp nhân thương mại phạm tội

5.1.3 Đình chỉ hoạt động vĩnh viễn

Chấm dứt hoạt động của thương mại trong một hoặc một số lĩnh vực mà pháp nhân thương mại phạm tội gây thiệt hại hoặc có khả năng thực tế gây thiệt hại đến tính mạng của nhiều người, gây sự cố môi trường hoặc gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội và không có khả năng khắc phục hậu quả đó.

Pháp nhân thương mại được thành lập chỉ để thực hiện tội phạm thì bị đình chỉ vĩnh viễn toàn bộ mọi hoạt động..

5.2 Hình phạt bổ sung

Cấm kinh doanh, cấm hoạt động trong một số lĩnh vực nhất định được áp dụng khi xét thấy nếu để pháp nhân thương mại bị kết án tiếp tục kinh doanh hoặc hoạt động trong lĩnh vực đó, thì có thể gây nguy hại cho tính mạng, sức khỏe của con người hoặc cho xã hội.

Tòa án quyết định lĩnh vực cụ thể bị cấm kinh doanh hoặc cấm hoạt động.

Thời hạn cấm kinh doanh, cấm hoạt động trong một số lĩnh vực nhất định là từ 01 năm đến 03 năm, kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật.

Cấm huy động vốn được áp dụng khi xét thấy nếu để pháp nhân thương mại bị kết án huy động vốn thì có nguy cơ tiếp tục phạm tội.

Các hình thức cấm huy động vốn bao gồm:

  • Cấm vay vốn của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài hoặc quỹ đầu tư;
  • Cấm phát hành, chào bán chứng khoán;
  • Cấm huy động vốn khách hàng;
  • Cấm liên doanh, liên kết trong và ngoài nước;
  • Cấm hình thành quỹ tín thác bất động sản.

Thời hạn cấm huy động vốn là từ 01 năm đến 03 năm, kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật.

Phạt tiền: áp dụng trong trường hợp không được áp dụng là hình phạt chính.

Đối với mỗi tội phạm, pháp nhân thương mại phạm tội chỉ bị áp dụng một hình phạt chính và có thể bị áp dụng một hoặc một số hình phạt bổ sung.

Các hình phạt nhìn chung chủ yếu tác động vào lợi ích kinh tế, tài chính của pháp nhân.


6. Biện pháp tư pháp đối với pháp nhân thương mại phạm tội

Các biện pháp tư pháp áp dụng đối với pháp nhân thương mại phạm tội – Căn cứ điều 82 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tòa án có thể quyết định áp dụng các biện tư pháp sau đây đối với pháp nhân thương mại phạm tội:

  • Các biện pháp tư pháp sau: Tịch thu vật, tiền trực tiếp liên quan đến tội phạm, trả lại tài sản, sửa chữa hoặc bồi thường thiệt hại; buộc công khai xin lỗi.
  • Buộc khôi phục lại tình trạng ban đầu.
  • Buộc thực hiện một số biện pháp nhằm khắc phục, ngăn chặn hậu quả tiếp tục xảy ra.

Tòa án có thể quyết định áp dụng biện pháp tư pháp buộc pháp nhân thương mại phạm tội phải khôi phục lại tình trạng ban đầu đã bị thay đổi do hành vi phạm phạm tội của mình gây ra.

Căn cứ vào từng trường hợp phạm tội cụ thể, Tòa án có thể quyết định buộc pháp nhân thương mại phạm tội phải thực hiện một hoặc một số biện pháp sau nhằm khắc phục, ngăn chặn hậu quả của tội phạm:

  • Buộc tháo dỡ công trình, phần công trình xây dựng không có giấy phép hoặc xây dựng không đúng với giấy phép.
  • Buộc khắc phục tình trạng ô nhiễm môi trường, lây lan dịch bệnh.
  • Buộc đưa ra khỏi lãnh thổ nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt nam hoặc tái xuất hàng hóa, vật phẩm, phương tiện được đưa vào lãnh thổ nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt nam, nhập khẩu trái với quy định của pháp luật hoặc được tạm nhập, tái xuất nhưng không tái xuất theo đúng quy định pháp luật; hàng hóa nhập khẩu, quá cảnh xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ, hàng hóa giả mạo quyền sở hữu trí tuệ, phương tiện, nguyên liệu, vật liệu nhập khẩu được sử dụng chủ yếu để sản xuất, kinh doanh hàng hóa giả mạo về sở hữu trí tuệ sau khi đã loại bỏ yếu tố vi phạm.
  • Buộc tiêu hủy hàng hóa, vật phẩm gây hại cho sức khỏe con người, vật nuôi, cây trồng và môi trường, văn hóa phẩm có nội dung độc hại hoặc tang vật khác thuộc đối tượng bị tiêu hủy theo quy định pháp luật.
  • Buộc loại bỏ yếu tố vi phạm trên hàng hóa, bao bì hàng hóa, phương tiện kinh doanh, vật phẩm.
  •  Buộc thu hồi sản phẩm, hàng hóa vi phạm đang lưu thông trên thị trường.


7. Cơ sở pháp lý

  • Bộ luật Dân sự năm 2015.
  • Bộ luật Hình sự năm 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2017).
  • Luật Doanh nghiệp năm 2020.

Trên đây là toàn bộ nội dung về pháp nhân thương mại phạm tội.

Qua bài viết này chúng tôi mong rằng sẽ giúp bạn dễ hình dung hơn về vấn đề này.

Nếu còn điều gì chưa rõ, cần hỗ trợ, các bạn có thể liên hệ tới Tổng đài tư vấn luật hình sự trực tuyến của Luật Quang Huy qua HOTLINE 19006588

Trân trọng./.

Hãy chia sẻ bài viết này vì nó hữu ích và hoàn toàn miễn phí bạn nhé!

5/5 - (2 bình chọn)
Tác giả bài viết