Nguyên tắc tranh tụng trong xét xử được bảo đảm thông qua hoạt động của Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội

Nguyên tắc tranh tụng được đảm bảo thể hiện thông qua hoạt động của Tòa án nhân dân Thành phố Hà Nội

      Trong xu hướng xây dựng nền tư pháp hiện đại, đáp ứng nhu cầu hội nhập quốc tế thì việc bảo vệ tối đa quyền con người và quyền công dân luôn được đặc biệt chú trọng. Với tinh thần ấy, nhằm nâng cao chất lượng của quá trình tố tụng, xác định sự thật vụ án, đảm bảo tốt nhất yếu tố công bằng, khách quan trong xét xử và bảo vệ tốt hơn quyền con người, quyền công dân, trong Hiến pháp năm 2013 tại Khoản 5 Điều 103 quy định: “Nguyên tắc tranh tụng trong xét xử được bảo đảm”. Hiến pháp là đạo luật gốc, văn bản pháp lý có hiệu lực cao nhất do vậy quy định nguyên tắc tranh tụng trong Hiến pháp là tiền đề để xây dựng và hoàn thiện các quy định về bảo đảm tính tranh tụng trong các văn bản pháp luật tố tụng nói chung.

       Nghị quyết 49-NQ/TW ngày 02/6/2005 của Bộ Chính trị về chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020 nêu rõ: “Đổi mới việc tổ chức phiên tòa xét xử, xác định rõ hơn vị trí, quyền hạn trách nhiệm của người tiến hành tố tụng và người tham gia tố tụng theo hướng bảo đảm tính công khai, dân chủ, nghiêm minh; nâng cao chất lượng tranh tụng tại các phiên tòa xét xử, coi đây là khâu đột phá của hoạt động tư pháp”. Nghị quyết 37/NQ-QH13 ngày 23/11/2012 tiếp tục khẳng định: “Kiểm sát viên phải chủ động, tích cực tranh luận, đối đáp tại phiên tòa xét xử các vụ án hình sự… Tòa án nhân dân tối cao chỉ đạo các Tòa án tiếp tục đẩy mạnh việc tranh tụng tại phiên tòa”. Yêu cầu tăng cường tranh tụng được nêu trong Nghị quyết 08-NQ/TW và Nghị quyết 49-NQ/TW của Bộ Chính trị không nên hiểu là yêu cầu thay đổi hệ thống tố tụng (từ hệ thống tố tụng thẩm vấn sang hệ thống hệ thống tố tụng tranh tụng), mà cần phải đựơc hiểu là yêu cầu cần phải tăng cường khả năng tranh luận dân chủ giữa các chủ thể tiến hành và tham gia tố tụng nhằm làm rõ sự thật khách quan của vụ án, bảo đảm cho việc xét xử đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Không hiếm trường hợp khi đưa ra xét xử, các bên tranh tụng bày tỏ quan điểm không rõ ràng về chứng cứ chứng minh, Tòa án buộc phải xét hỏi để làm rõ, bảo đảm công bằng cho các bên đương sự. Do vậy, vẫn cần kết hợp giữa mô hình tố tụng xét hỏi và tố tụng tranh tụng.

      Và để làm rõ hơn về nguyên tắc tranh tụng, trong phần trình bày của mình, em xin lựa chọn đề tài: Nguyên tắc tranh tụng được đảm bảo thể hiện thông qua hoạt động của Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội”.

      Do hiểu biết của em chưa được đầy đủ, em xin thầy cô thông cảm và góp ý để bài viết của em được hoàn chỉnh hơn.


Danh mục tài liệu tham khảo:

  • Hiến pháp 2013
  • Nghị quyết 49-NQ/TW ngày 02/6/2005 của Bộ Chính trị
  • Nghị quyết 37/NQ-QH13 ngày 23/11/2012
  • Nghị quyết số 08-NQ/TW ngày 02/01/2001 của Bộ Chính trị
  • Thông tư 01/2017/TT-TANDTC

Nguyên tắc tranh tụng

Khái niệm

      Các nhà nghiên cứu lịch sử Nhà nước và Pháp luật thế giới chứng minh rằng tư tưởng về tranh tụng bắt nguồn từ ý tưởng của nhà triết học cổ đại nổi tiếng người Hy Lạp Plato. Ông cho rằng “bằng cách nói chuyện (đối thoại) về một điều gì đó trong một thời gian dài, một vài dấu hiệu hoặc hiểu biết sẽ xuất hiện và cả hai bên sẽ cùng nhìn ra sự thật”. Ý tưởng này của Plato được các luật gia Hy Lạp cổ đại phát triển và xây dựng thành là một trong những nguyên tắc cơ bản của tố tụng hình sự ở nhà nước Hy Lạp cổ đại. Sau đó, nguyên tắc này được đưa vào áp dụng ở La Mã và các quốc gia cổ đại khác ở Châu Âu với tên gọi “thủ tục hỏi đáp liên tục”.

      Đến nay, chúng ta có thể hiểu khái quát như sau: Theo nghĩa rộng, tranh tụng là một quá trình được bắt đầu từ khi các đương sự thực hiện quyền khởi kiện và kết thúc khi bản án, quyết định của Tòa án. Như vậy, hiểu theo nghĩa rộng thì quá trình tranh tụng này sẽ bao gồm toàn bộ các giai đoạn khởi kiện, thụ lý vụ án, chuẩn bị xét xử,xét xử sơ thẩm, phúc thẩm và cả giai đoạn giám đốc thẩm, tái thẩm. Theo nghĩa hẹp, tranh tụng là sự đối đáp, đấu tranh giữa các bên đương sự với nhau về chứng cứ, yêu cầu và phản đối yêu cầu của mỗi bên để từ đó nhằm chứng minh cho đối phương và Tòa án rằng yêu cầu và phản đối yêu cầu của mình là có căn cứ và hợp pháp.

Nguyên tắc tranh tụng được đảm bảo thể hiện thông qua hoạt động của Tòa án nhân dân Thành phố Hà Nội
Nguyên tắc tranh tụng được đảm bảo thể hiện thông qua hoạt động của Tòa án nhân dân Thành phố Hà Nội

Nội dung

      Cụm từ “tranh tụng” được xuất hiện đầu tiên tại văn kiện của Đảng, cụ thể là Nghị quyết số 08-NQ/TW ngày 02/01/2001 của Bộ Chính trị. Nghị quyết có xác định quan điểm chỉ đạo hoạt động đối với Tòa án nhân dân là: “Khi xét xử các Tòa án phải bảo đảm cho mọi người dân đều bình đẳng trước pháp luật, thực sự dân chủ, khách quan, Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân độc lập và chỉ tuân theo pháp luật; việc phán quyết của Tòa án phải căn cứ chủ yếu vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện các chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, của người bào chữa, bị cáo, nhân chứng, nguyên đơn, bị đơn và những người có quyền, lợi ích hợp pháp để ra những bản án, quyết định đúng pháp luật, có tính thuyết phục và trong thời hạn pháp luật quy định”. Thể chế hóa quan điểm chỉ đạo nêu trên của Đảng, Tố tụng Hình sự, Tố tụng Dân sự, và Tố tụng hành chính đã sửa đổi bổ sung về các nội dung “tranh tụng” theo định hướng mà Nghị quyết số 08 của Bộ chính trị đã xác định.

      Như vậy, chúng ta có thể hiểu nguyên tắc tranh tụng trong xét xử được đảm bảo có nội dung: Hoạt động xét xử phải bảo đảm tranh tụng giữa Kiểm sát viên, bị hại, nguyên đơn dân sự với bị cáo, người bào chữa, bị đơn dân sự, giữa các đương sự với nhau và những người này có quyền bình đẳng trong việc đưa ra chứng cứ, tài liệu, đồ vật, yêu cầu, đưa ra các luận điểm, luận cứ, luận chứng của mình, bình đẳng trong việc đối đáp, tranh luận, chứng minh bác bỏ quan điểm lẫn nhau. Các hoạt động tranh tụng diễn ra trên tinh thần trách nhiệm, trên cơ sở chứng cứ khách quan và quy định của pháp luật, các bên tôn trọng lẫn nhau. Tòa án có trách nhiệm bảo đảm các điều kiện theo quy định của pháp luật để họ thực hiện đầy đủ các quyền và nghĩa vụ trong việc tranh tụng. Bản án, quyết định của Tòa án phải căn cứ vào kết quả xét hỏi, tranh tụng và những chứng cứ đã được kiểm tra, đánh giá tại phiên tòa, đảm bảo cho việc xét xử là khách quan, minh bạch, công bằng và dựa trên công lý.

Ý nghĩa

      Nguyên tắc tranh tụng trong Hiến pháp là tiền đề để xây dựng và hoàn thiện các quy định về bảo đảm tranh tụng trong các văn bản pháp luật tố tụng. Hiến pháp là đạo luật gốc, văn bản pháp lý có hiệu lực cao nhất. Do vậy, khi Hiến pháp quy định về nguyên tắc bảo đảm tranh tụng như vậy thì những quy định trong bộ luật, luật, các văn bản dưới luật chưa rõ ràng, không thống nhất phải sửa đổi, bổ sung cho phù hợp, tạo sự thống nhất trong việc vận dụng pháp luật, đặc biệt đòi hỏi cần xây dựng quy định cụ thể về phương thức bảo đảm nguyên tắc tranh tụng trong xét xử.

      Bên cạnh đó, nguyên tắc này còn mang ý nghĩa quan trọng: Đảm bảo hoạt động tố tụng được diễn ra khách quan, minh bạch, công bằng, quyết định của tòa án được đưa ra trên cơ sở những chứng cứ, sự việc có thật, xét xử đúng người, đúng tội, đúng pháp luật; Ghi nhận quyền lợi của những người tham gia vào tố tụng có quyền trình bày quan điểm và tranh luận lại những quan điểm mà các bên đưa ra, đảm bảo quyền và lợi ích của các bên; Với bị can, bị cáo thì được quyền bào chữa cho mình trước Hội đồng xét xử; Đảm bảo quyền con người quyền công dân được tôn trọng, quyền bình đẳng của những người tham gia tố tụng với nhau và với cơ quan nhà nước trong tranh tụng. Nguyên tắc này giúp cho việc xét xử khách quan, công bằng, nâng cao chất lượng xét xử của Tòa án với các việc vụ xảy ra trong xã hội; Nguyên tắc tranh tụng giúp đảm bảo sự thật vụ án thông qua tranh tụng tại các giai đoạn trước xét xử cũng như giai đoạn xét xử. Bởi vì tranh tụng làm cho các yếu tố của vụ án như chứng cứ, lời khai,… của các bên rõ ràng, đồng thời cũng tìm ra điểm mâu thuẫn của chứng cứ. Điều này là căn cứ để tìm ra sự thật dưới những cách nhìn khác nhau đem lại cái nhìn toàn diện về vụ án.

Thực tiễn thể hiện thông qua hoạt động của Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội

      Hiến pháp 2013 là một bản Hiến pháp tiến bộ vì nó đã mở rộng các quyền tự do của công dân hơn, đặc biệt đây là bản Hiến pháp đầu tiên của nước ta ghi nhận nguyên tắc tranh tụng tại Khoản 5 Điều 103 quy định: “Nguyên tắc tranh tụng trong xét xử được bảo đảm”.Sự ghi nhận này thể hiện mạnh mẽ việc nâng cao yếu tố tranh tụng trong các vụ án. Đây là tiền đề để chúng ta cụ thể hóa bằng các luật chuyên ngành nhằm phù hợp với sự vận động của xã hội, phản ánh đúng sự thay đổi của kiến trúc thượng tầng phù hợp với cơ sở hạ tầng của nước ta. Điều này dẫn đến sự cần thiết phải điều chỉnh hàng loạt các luật cho phù hợp với quy định của Hiến pháp mới.

      Thực tiễn xét xử tại Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội cho thấy, trong năm 2018, Tòa án nhân dân hai cấp thành phố Hà Nội đã thụ lý 36.472 vụ án; giải quyết 30.001 vụ, đạt tỷ lệ 82,25%. So với năm 2017, số thụ lý tăng 5.695 vụ =18,5%, số giải quyết tăng 2.246 vụ = 8,09%. về chất lượng xét xử: Án bị hủy trong năm 2018 là 112 vụ giảm 81 vụ so với nám 2017; hòa giải thành 14.091 vụ, chiếm 65,15% số án dân sự, hôn nhân gia đình, kinh doanh thưong mại và lao động đã giải quyết. Nhiều vụ án hình sự trọng điểm, nhạy cảm, phức tạp, được dư luận xã hội quan tâm, đặc biệt là các vụ án tham những đã được Tòa án khẩn trương nghiên cứu hồ sơ để đưa ra xét xử kịp thời, nghiêm minh đáp ứng yêu cầu chính trị của địa phương, được dư luận đồng tình ủng hộ. Năm 2018 cũng là năm Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội giải quyết nhiều vụ án lớn như vụ Hà Văn Thắm ở ngân hàng Ocean bank, hay vụ Đinh La Thăng của tập đoàn PVN, vụ Trịnh Xuân Thanh,… Điểm đáng chú ý trong phiên tòa xét xử sơ thẩm bị cáo Trịnh Xuân Thanh và đồng phạm là phiên tòa có bục khai báo thay cho vành móng ngựa. Phiên tòa không có vành móng ngựa không phải đặc quyền cho bị cáo Thăng hay bị cáo Thanh. Bắt đầu từ ngày 1/1/2018, theo quy định của Thông tư 01/2017/TT-TANDTC, bục khai báo sẽ thay thế cho vành móng ngựa trong các phiên tòa. Đây một bước tiến bộ trong tổ chức hình thức của một phiên tòa xét xử các vụ án hình sự. Việc bỏ vành móng ngựa trong tất cả các phòng xử án cho thấy nguyên tắc “suy đoán vô tội” được tôn trọng. Tức là bất kỳ người bị buộc tội nào đều có quyền suy đoán là không phạm tội, cho đến khi hành vi phạm tội của người đó được tòa tuyên bố. Việc bỏ vành móng ngựa cũng mang đến hình ảnh của phiên tòa đảm bảo tính khách quan, bình đẳng, tôn trọng quyền con người.

      Tại Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội, chánh án Nguyễn Hữu Chính đã có chia sẻ về các vị trí trong phòng xét xử, vị trí của hội đồng xét xử, viện kiểm sát hay luật sư: Trước năm 2015, chúng ta thực hiện theo luật tố tụng cũ, đến nay thực hiện tinh thần theo hiến pháp quy định là thẩm phán và hội đồng xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật, do vậy là cao nhất, còn tất cả người tham gia tố tụng là luật sư hay bị cáo đều phải ở dưới bục của hội đồng xét xử. tuy nhiên qua thực tiễn và lý luận, kiểm sát viên là người phải đối đáp lại ý kiến tranh luận của bị cáo và luật sư, do vậy xét cho cùng là kiểm sát viên phải ngang hàng với luật sư và bị cáo. Còn tòa vai trò là trọng tài ở bên trên, không nghiêng về bất cứ ai dù là kiểm sát viên hay bị cáo. Do vậy mục đích chính là hội đồng xét xử nghe ý kiến, sự tranh luận của luận của luật sư và sự đối đáp của viện kiểm sát để từ đó làm trọng tài. Như vậy mới đúng khoa học và đảm bảo sự công bằng, hội đồng xét xử ra phán quyết trên cơ sở lời khai của bị cáo, bào chữa của luật sư, đối đáp của viện kiểm sát, trả lời của nhân chứng và những người liên quan thì mới là khách quan, tránh trường hợp oan sai cho bị cáo.

      Tranh tụng không chỉ ở hình thức mà còn liên quan đến cả quá trình xét xử. Hội đồng xét xử và các thẩm phán đã thực hiện các quy định mới của luật, theo đó, có nhiều chức năng mới được bổ sung cho hội đồng. Ví dụ, triệu tập điều tra viên và trong tương lai có thể triệu tập cả kiểm sát viên và thẩm phán ra tòa. Hội đồng xét xử có quyền khởi tố vụ án, khởi tố bị can, tha bị cáo ngay tại phiên tòa. Hội đồng xét xử có thẩm quyền ký quyết định, kiến nghị xử lý cán bộ và kiến nghị các biện pháp xử lý kinh tế. Ví dụ, vụ OceanBank, hội đồng xét xử sơ thẩm Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội có nhiều kiến nghị, trong đó có kiến nghị Chính phủ đánh giá lại vấn đề mua ngân hàng “0 đồng”. Đặc biệt là có một số vụ án như vụ án Trịnh Xuân Thanh, vụ án Ngân hàng xây dựng, vụ án Hứa Thị Phấn, vụ án Đinh La Thăng… các vụ án này thu hút sự quan tâm của dư luận xã hội, trong phần luận tội thì do tòa án cho phép mở rộng phạm vi để tranh tụng, cho nên thời gian không bị giới hạn, có những phiên tòa kéo dài đến 7, 8h tối thậm chí đến tận 10h đêm. Điều này chứng tỏ rằng, việc tranh luận và đối đáp giữa kiểm sát viên với luật sư đã tạo một điều kiện, một không gian, một thời gian phù hợp cho việc tranh tụng.

      Tuy nhiên theo Chánh án Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội bên cạnh những kết quả đã đạt được, trong năm 2018, Tòa án nhân dân hai cấp thành phố Hà Nội vẫn còn một số vụ án để quá thời hạn xét xử, trong đó đặc biệt là án hành chính.

      Để đánh giá chất lượng tranh tụng, cần đứng trên quan điểm khách quan. Bởi vì, bên buộc tội dựa vào chứng cứ, luận điểm để đưa ra quan điểm buộc tội, thì bên gỡ tội, bên bào chữa cũng tìm ra những chứng cứ, chứng minh sự không phạm tội hoặc là giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo. Việc đánh giá chứng cứ  tùy thuộc vào quan điểm, cùng một chứng cứ, cùng một sự vật hiện tượng, có nhiều cách tiếp cận và quan điểm khác nhau. Khi tranh tụng, mỗi bên đều giữ quan điểm khác biệt, vấn đề là ở chỗ phải dựa trên kết quả tranh tụng tại phiên tòa để làm sáng tỏ bản chất, sự thật khách quan của vụ án.


      Trên đây là phần giải đáp thắc mắc của chúng tôi về vấn đề: Nguyên tắc tranh tụng được đảm bảo thể hiện thông qua hoạt động của Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội. Nếu trong quá trình giải quyết còn gì thắc mắc bạn có thể liên hệ chúng tôi qua Tổng đài tư vấn pháp luật trực tuyến qua HOTLINE 19006588 của Luật Quang Huy để được giải đáp.

      Trân trọng./.


 

Hãy chia sẻ bài viết này vì nó hữu ích và hoàn toàn miễn phí bạn nhé!

phone-call