NGUYÊN TẮC ĐỐI XỬ TỐI HUỆ QUỐC (MFN) TRONG LĨNH VỰC THƯƠNG MẠI HÀNG HÓA THEO QUY ĐỊNH CỦA WTO

      Các nguyên tắc trong thương mại quốc tế là nền tảng cho sự tồn tại, vận hành và phát triển của quan hệ thương mại quốc tế nói chung và trong lĩnh vực thương mại hàng hóa nói riêng. Và một trong những nguyên tắc cơ bản, có ý nghĩa đặc biệt quan trọng phải kể đến là nguyên tắc Đối xử tối huệ quốc (MFN).

“1. Phân tích nội dung nguyên tắc đối xử tối huệ quốc (MFN) trong lĩnh vực thương mại hàng hóa theo quy định của WTO.

Lựa chọn một tranh chấp liên quan đến Điều I của GATT và phân tích.”

Qua bài viết này chúng tôi tổng đài Luật Quang Huy sẽ đi sâu phân tích và tìm hiểu vấn đề này:


Cơ sở pháp lý

  • Hiệp định chung về thuế quan và thương mại – GATT 1947.
  • Hiệp định chung về thuế quan và thương mại – GATT 1994.
  • Giáo trình Luật thương mại quốc tế, Trường Đại học Luật Hà Nội, NXB Công an nhân dân, 2017.
  • Lý luận và thực tiễn đối xử tối huệ quốc (MFN) trong pháp luật thương mại quốc tế trong điều kiện hội nhập quốc tế, Luận án Tiến sĩ luật học, Hà Nội – 2017.

nguyên tắc đối xử tối huệ quốc trong lĩnh vực hàng hóa theo nguyên tắc WTO

Phân tích nội dung nguyên tắc đối xử tối huệ quốc (MFN) trong lĩnh vực thương mại hàng hóa theo quy định của WTO

      Mua bán hàng hóa là hình thức thương mại lâu đời, có ý nghĩa quan trọng hàng đầu trong quan hệ kinh tế giữa các quốc gia. Kinh tế càng phát triển, giao thương càng mở rộng thì cạnh tranh giữa các nền kinh tế cũng gia tăng.  MFN có ý nghĩa rất quan trọng trong việc duy trì sức cạnh tranh của hàng hóa trên cơ sở giành quyền được hưởng đối xử không kém hơn đối thủ khi xuất khẩu vào một thị trường. Các nền kinh tế phát triển có thị trường lớn, nhiều tiềm năng từng sử dụng MFN như một lợi ích kinh tế để làm công cụ đàm phán hoặc gây sức ép chính trị. Trước khi GATT ra đời, MFN thường được trao trên cơ sở điều ước. Trong đó phổ biến nhất là các thỏa thuận thương mại song phương trên cơ sở có đi có lại. Bên cạnh đó còn có các hình thức trao đơn phương giữa bên thắng trận và bên bãi trận, giữa quốc gia thực dân và quốc gia thuộc địa… Về cơ bản, MFN được xác lập trên cơ sở các hiệp định thương mại song phương giữa các quốc gia.

      Năm 1947, lần đầu tiền MFN được thể chế hóa vào một hiệp định đa phương. Với việc MFN được ghi nhận là một trong những nguyên tắc nền tảng của hệ thống thương mại đa phương, các thành viên GATT/WTO đều thừa nhận nguyên tắc không phân biệt đối xử trong quan hệ thương mại với nhau.  Và mỗi bên sẽ cùng đồng thời thực hiện cả quyền lợi và nghĩa vụ của Bên trao, Bên thụ hưởng và Bên thứ ba. Các khuôn khổ pháp lý của GATT/WTO không ngừng được hoàn thiện với các quy định điều chỉnh nhiều hành vi thương mại hàng hóa: cấp phép, xác định trị giá hải quan, các biện pháp khắc phục thương mại,… Cùng với tiến trình này, các quy định về MFN cũng được tăng cường để áp dụng cho nhiều hành vi thương mại. Với tính chất bao quát, được thừa nhận chung bởi hầu hết các nền kinh tế, các hiệp định điều chỉnh thương mại hóa trong WTO trở thành khuôn khổ pháp lý quan trọng nhất xác lập và điều chỉnh MFN trong thương mại hàng hóa.

      Việc công nhận MFN bởi hầu hết các nền kinh tế trên thế giới đã làm thay đổi căn bản ý nghĩa của MFN với thương mại. MFN không còn mang tính chất một hình thức ứng xử thông thường giữa các quốc gia. Giờ đây, MFN được giao cho các quốc gia có quan hệ bình thường và chỉ trong một số trường hợp rất hãn hữu người ta mới không chấp thuận đối xử MFN. Sự ra đời của các FTA đã tạo nên một mặt bằng cam kết mới, có mức độ tự do hóa cao hơn nhiều cam kết MFN. Bản thân các FTA là ngoại lệ của MFN của WTO. Bởi vậy, các đối tác trong FTA được quyền tự xác lập mức độ tự do hóa cũng như các nguyên tắc điều chỉnh quan hệ giữa các bên bao gồm cả MFN. Nếu WTO yêu cầu các thành viên dành cho nhau các MFN ngay lập tức và vô điều kiện thì các đối tác FTA có nhiều lựa chọn trong việc thiết kế điều khoản này. Bản chất sự khác nhau giữa MFN trong WTO và MFN trong FTA bắt nguồn từ mục đích của quy định này. Thông thường, các đối tác trong một FTA dành cho nhau đối xử MFN trong khuôn khổ các cam kết nội khối. Điều khoản MFN trong FTA (nếu có) nhắm vào các cam kết mà một bên đã hoặc sẽ có với các đối tác ngoài khối nhằm đảm bảo cho mỗi bên luôn có được những đối xử tốt nhất có thể từ phía đối tác. Trong khi đó, điều khoản MFN trong một hiệp định đã phương như các hiệp định trong khuôn khổ WTO nhằm ràng buộc các bên phải dành cho nhau đối xử ngang bằng với các đối tác khác trong hiệp định. Sự khác biệt về bản chất này tạo ra sự khác biệt về nội dung và giá trị pháp lý của điều khoản MFN trong các hiệp định FTA.

Phân tích một tranh chấp liên quan đến điều I của GATT

      Điều I GATT 1994 quy định chung về Đối xử tối huệ quốc: Khoản 1 quy định: “Với mọi khoản thuế quan nhằm vào hay có liên hệ tới nhập khẩu và xuất khẩu hoặc đánh vào các khoản chuyển khoản để thanh toán hàng xuất  nhập khẩu, hay phương thức đánh thuế hoặc áp dụng phụ thu  nêu trên, hay với mọi luật lệ hay thủ tục trong xuất nhập khẩu và liên quan tới mọi nội dung đã được nêu tại khoản 2 và khoản 4 của Điều III,* mọi lợi thế, biệt đãi, đặc quyền hay quyền miễn trừ được bất kỳ bên ký kết nào dành cho bất cứ một sản phẩm có xuất xứ từ hay được giao tới bất kỳ một nước nào khác sẽ được áp dụng cho sản phẩm tương tự có xuất xứ từ hay giao tới mọi bên ký kết khác ngay lập tức và một cách không điều kiện.

          Một tranh chấp liên quan đến Điều này là Năm 1981, Braxin đã kiện Tây Ban Nha ra trước GATT về thuế suất đặc biệt đối với cà phê chưa rang. Braxin cho rằng Nghị định 1764/79 của Tây Ban Nha quy định các mức thuế quan khác nhau đối với năm loại cà phê chưa rang khác nhau (cà phê A Rập chưa rang, cà phê Robusta, cà phê Côlômbia, cà phê nhẹ và cà phê khác). Hai loại cà phê đều được nhập khẩu miễn thuế, ba loại cà phê còn lại chịu mức thuế giá trị gia tăng là 7%. Sau khi xem xét Nghị định nói trên, Nhóm chuyên gia của GATT đã đi đến kết luận như sau: “Hiệp định GATT không quy định nghĩa vụ cho các bên ký kết phải tuân thủ một hệ thống phân loại hàng hoá đặc biệt nào. Tuy nhiên, Điều I,1 của GATT quy định nghĩa vụ của các Bên ký kết phải dành một sự đối xử như nhau cho những sản phẩm tương tự…. Lập luận của Tây Ban Nha biện minh cho sự cần thiết phải có sự đối xử khác nhau đối với từng loại cà phê khác nhau chủ yếu dựa trên những yếu tố như địa lý, phương pháp trồng trọt, quá trình thu hoạch hạt và giống. Những yếu tố này tuy có khác nhau nhưng không đủ để Tây Ban Nha có thể áp dụng những thuế suất khác nhau đối với từng loại cà phê khác nhau. Đối với tất cả những người tiêu thụ cà phê trên thế giới thì cà phê chưa rang được bán dưới dạng hạt cho dù thuộc nhiều loại khác nhau cũng chỉ là một lại sản phẩm cùng loại, có tính năng sử dụng duy nhất là để uống mà không phân biệt độ caphêin mạnh hay nhẹ. Năm loại cà phê chưa rang nhập khẩu có tên trong danh mục thuế quan của Tây Ban Nha đều là những sản phẩm cùng loại. Việc Tây Ban Nha áp dụng mức thuế quan cao hơn đối với hai loại cà phê là A Rập và Robusta, được nhập khẩu từ Braxin mang tính chất phân biệt đối xử đối với những sản phẩm cùng loại và như vậy trái với quy định của Điều I, khoản 1 Hiệp định GATT”.

Như vậy, trong vụ việc này, có thể xác định như sau:

Nguyên đơn: Braxin.

Bị đơn: Tây Ban Nha.

      Vấn đề pháp lý: Việc Tây Ban Nha áp dụng mức thuế quan cao hơn đối với hai loại cà phê là A Rập và Robusta, được nhập khẩu từ Braxin có mang tính chất phân biệt đối xử đối với những sản phẩm cùng loại và như vậy có trái với quy định của Điều I, khoản 1 Hiệp định GATT không?

      Có thể thấy Tây Ban Nha và Braxin đều là thành viên của WTO, do đó Tây Ban Nha phải có nghĩa vụ dành cho các sản phẩm tương tự của Braxin và các nước khác trong WTO được hưởng MFN như nhau, nghĩa là hàng nhập khẩu là cà phê chưa rang từ Braxin và các nước khác vào Tây Ban Nha phải được đối xử như nhau. Tuy nhiên, Tây Ban Nha quy định các mức thuế quan khác nhau đối với năm loại cà phê chưa rang khác nhau (cà phê A Rập chưa rang, cà phê Robusta, cà phê Côlômbia, cà phê nhẹ và cà phê khác). Hai loại cà phê đều được nhập khẩu miễn thuế, ba loại cà phê còn lại chịu mức thuế giá trị gia tăng là 7%. Mặc dù năm loại cà phê chưa rang nhập khẩu này có tên trong danh mục thuế quan của Tây Ban Nha đều là những sản phẩm cùng loại. Do đó có thể kết luận hành động của Tây Ban Nha đã vi phạm nguyên tắc Đối xử tối huệ quốc trong thương mại quốc tế theo quy định tại khoản 1 Điều I GATT 1994.


      Trên đây là phần giải đáp thắc mắc của chúng tôi về vấn đề:nguyên tắc đối xử tối huệ quốc (MFN) trong lĩnh vực thương mại hàng hóa theo quy định của WTO.  Nếu trong quá trình giải quyết còn gì thắc mắc bạn có thể liên hệ chúng tôi qua tổng đài tư vấn pháp luật miễn phí NQH qua HOTLINE 19006588 của Luật Quang Huy để được giải đáp.

Trân trọng./.


 

5 / 5 ( 1 bình chọn )

Tại sao bạn nên chia sẻ bài viết này? Vì nó hữu ích, và hoàn toàn miễn phí :)


Tác giả bài viết

OO

HỎI ĐÁP QUA ĐIỆN THOẠI