Một số vấn đề về quyền của người phụ nữ trong pháp luật phong kiến Việt Nam

      Ảnh hưởng của yếu tố truyền thống, tư tưởng nặng nề của nho nho giáo, pháp luật Việt Nam thời phong kiến mặc dù đã ghi nhận đảm bảo quyền của người phụ nữ trong các quan hệ xã hội đặc biệt là lĩnh vực hôn nhân để đảm bảo quyền bình đẳng giữa vợ và chồng trong trong gia đình được quy định trong hai bộ luật tiêu biểu là Bộ Luật Hồng Đức và Bộ Luật Gia Long .Nhưng, xét về mặt tổng thể thì phụ nữ Việt Nam thời kỳ đó vẫn còn bị đối xử rất hạn chế hơn rất nhiều so với nam giới, họ bị hạn chế trong việc sở hữu tài sản, trong giáo dục, ít có tiếng nói trong gia đình và xã hội, phải mang nhiều gánh nặng xã hội với vai trò kép… Để hiểu rõ hơn về vị thế, vai trò của người phụ nữ trong thời kỳ này, bài viết dưới đây sẽ đi phân tích đề tài: “Một số vấn đề về quyền của người phụ nữ trong pháp luật phong kiến Việt Nam.”


Danh mục tài liệu tham khảo:

  • Luật Cạnh tranh được Quốc hội Nước CHXNCH Việt Nam khoá IX thông qua ngày 03/12/2004, có hiệu lực ngày 01/ 07/2005.
  •  Nghị định số 42/2014/ NĐ–CP của chính phủ về quản lý hoạt động bán hàng đa cấp
  • Giáo trình Luật cạnh tranh và bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng – ĐH Luật Hà Nội
  • Khóa luật tốt nghiệp–Một số vấn đề pháp lý về bán hàng đa cấp bất chính tại Việt Nam – Nguyễn Thị Huyền Trang–ĐH Luật Hà Nội – Năm 2012

Vấn đề quyền của người phụ nữ

Khái niệm quyền của người phụ nữ

      Khi tiếp cận vấn đề quyền của người phụ nữ, thì khái niệm quyền phụ nữ trước hết phải được hiểu trên cơ sở quyền con người, khái niệm quyền phụ nữ cần phải được nghiên cứu trong mối liên hệ khăng khít với quyền con người, phụ nữ cũng như nam giới họ phải được hưởng tất cả những quyền con người mà pháp luật ghi nhận và bảo vệ.
      Quyền con người là một thuật ngữ pháp lý được sử dụng khá phổ biến. Tuy nhiên trong các văn bản pháp luật quốc tế cũng như pháp luật quốc gia, chưa có một định nghĩa chính thức về quyền con người mà chỉ dừng lại ở việc liệt kê các quyền con người. Trên cơ sở nghiên cứu của các nhà luật học khi tiếp cận về vấn đề này thì có thể hiểu “ Quyền con người là những đặc quyền (quyền tự nhiên) của con người được pháp luật công nhận, điều chỉnh, do cá nhân con người nắm giữ trong mối liên hệ với Nhà nước và với những cá nhân con người khác” .
      Quyền phụ nữ là một khái niệm dùng để chỉ các quyền con người của phụ nữ. Phụ nữ là một nhóm xã hội đặc biệt, dễ bị tổn thương. Do đó, việc xác định, ghi nhận các quyền con người cho họ, đặc biệt đảm bảo trên cơ sở tiêu chí bình đẳng là cần thiết. Đó cũng chính là cơ sở để tiến hành bảo vệ quyền con người của phụ nữ. Bảo vệ quyền con người bằng công cụ pháp luật cũng là một trong những phương thức rất quan trọng nhằm đảm bảo tối ưu quyền của người phụ nữ nói chung, phụ nữ Việt Nam nói riêng.

 Khái quát chung về quyền của người phụ nữ trong pháp luật phong kiến Việt Nam.

      Lịch sử loài người đã trải qua giai đoạn mà địa vị của người phụ nữ được tôn vinh, người phụ nữ có nhiều quyền hành và địa vị “vinh dự“ hơn người đàn ông. Đó là giai đoạn mà Ph. Ăngghen gọi là giai đoạn của chế độ “mẫu quyền”. Ở chế độ này người đàn bà có vai trò và địa vị quan trọng trong gia đình. Quyền lực trong gia đình thuộc về người phụ nữ. Nhưng rồi chế độ mẫu quyền bị lật đổ và thay vào đó là chế độ phụ quyền, dưới chế độ này địa vị của người phụ nữ trong gia đình và xã hội thấp hơn nam giới một cách rõ rệt, sự phân biệt đối xử với phụ nữ diễn ra ở khắp mọi nơi, làm trở ngại lớn cho việc phụ nữ tham gia bình đẳng với nam giới vào đời sống chính trị, gia đình và xã hội. Như vậy, sự bất bình đẳng giữa đàn ông và đàn bà đã xảy ra, kéo dài trong suốt tiến trình phát triển của lịch sử loài người và diễn ra ở khắp mọi noi trên thế giới.
      Ở Việt Nam, thời phong kiến – pháp luật đã chịu ảnh hưởng nặng nề bởi tư tưởng Nho giáo nên địa vị của người phụ nữ hoàn toàn phụ thuộc vào nam giới. Sự bất bình đẳng được thể hiện trước tiên chính là sự phân biệt đối xử giữa con trai và con gái trong gia đình. Với quan niệm cần phải có con trai để nối dõi tông đường nên xã hội phong kiến cho rằng “nhất nam viết hữu, thập nữ viết vô”. Quan điểm này chính là khởi điểm cho sự bất bình đẳng mà phụ nữ ở chế độ phong kiến phải gánh chịu. Tư tưởng đó là tư tưởng chủ đạo, căn bản của xã hội phong kiến và nguyên tắc bất bình đẳng nam nữ đã trở thành tư tưởng chỉ đạo trong cả hai văn bản pháp luật được đánh giá là thành tựu lập pháp của Nhà nước phong kiến Việt Nam là Bộ luật Hồng Đức và Bộ luật Gia Long. Trong đó có khá nhiều điểm tiến bộ được đề cập trong việc bảo vệ quyền cử người phụ nữ.

Quyền của người phụ nữ trong pháp luật phong kiến Việt Nam

Những quy định về quyền của người phụ nữ trong Bộ Luật Hồng Đức (Quốc triêu hình luật)

      “Quốc triều hình luật” hay còn gọi là Bộ luật Hồng Đức được ban hành dưới thời Lê – thế kỉ XV. Đây có thể coi là thời kỳ hưng thịnh nhất của phong kiến Việt Nam nói chung và của nhà Lê nói riêng. Bởi vậy, Bộ luật Hồng Đức cũng thể hiện nhiều điểm khá tiến bộ trong việc bảo vệ quyền phụ nữ. Đặc thù nhất thể hiện trong hai chương “ Hôn điền “ và “ Điền sản” . Qua hai chương này, các nhà làm luật đã coi trọng cá nhân và vai trò của người phụ nữ – điều mà các bộ luật trước đó không mấy quan tâm. Bộ luật có 53/722 điều luật (7%) bàn về hôn nhân – gia đình; 30/722 điều luật (4%) bàn về việc hương hỏa, tế lễ, thừa kế và sở hữu tài sản. Những điều luật này ít nhiều đã đề cập đến một số quyền lợi của người phụ nữ trong xã hội và trong gia đình và thậm chí còn trao cho người phụ nữ quyền quan trọng và rất mới mà chưa nhà nước phong kiến nào có.
      Trong chương Hôn điền.
       Việc kết hôn và ly hôn:
      Điều 322 – “Quốc triều hình luật” ghi: “Con gái thấy chồng chưa cưới có ác tật có thể kêu quan mà trả đồ sính lễ”, nếu “ con rể lăng mạ cha mẹ vợ , đem thưa quan, cho ly dị”. Đây là điều khoản cho thấy sự tiến bộ của các nhà làm luật lúc bấy giờ khi họ cho người phụ nữ quyền từ chối kết hôn và ly hôn với một người đàn ông nếu như họ cảm thấy anh ta có nhân cách không tốt. Một trong những điều luật rất tiến bộ chưa từng thấy ở Việt Nam trước đó.
      Trong gia đình người vợ tương đối bình quyền với chồng và do đó, hôn nhân không được coi là sự chuyển giao hoàn toàn cô gái từ gia đình bên nội của mình sang gia đình chồng như ở Trung Quốc, không những thế, luật pháp còn bảo vệ người phụ nữ. Họ được phép đến nhà đương chức xin ly hôn trong trường hợp chồng không chăm nom, chăm sóc vợ trong 5 tháng. Điều 308, 333 Quốc triều hình luật có quy định: “Chồng xa cách vợ không lui tới suốt 5 tháng thì vợ được phép trình quan sở tại, quan sở tại làm chứng thì người chồng đó mất vợ” hoặc “nếu con rể mắng nhiếc cha mẹ vợ bởi chuyện phi lý thưa lên, quan sẽ cho li dị”. Pháp luật cũng đã có nhận thức quan trọng về vai trò, vị thế của người phụ nữ trong xã hội. Nếu người chồng không làm tròn nghĩa vụ với vợ thì người vợ cũng không buộc phải làm tròn bổn phận của mình.
      Trong Bộ luật này, bên cạnh những điều khoản quy định người vợ có quyền ly hôn chồng thì cũng có điều khoản người chồng có quyền ly hôn vợ của mình.
      Điều 310 quy định  “Nếu thê thiếp phạm nghĩa tuyệt (không con, dâm đãng…) mà người chồng ẩn nhẫn, chịu đựng không bỏ thì xử biếm, tùy việc nặng nhẹ”. Tuy nhiên vấn đề ly hôn sẽ không được đặt ra nếu như khi phạm vào nghĩa tuyệt (thất xuất) người vợ đang ở trong ba trường hợp (tam bất khứ): “đã để tang nhà chồng ba năm; khi lấy nhau nghèo mà sau giàu có; khi lấy nhau có bà con mà khi bỏ lại không có bà con để trở về”. Đồng thời, khi hai bên vợ chồng đang có tang cha mẹ thì vấn đề ly hôn cũng không được đặt ra. Nếu như bên cạnh những quy định mang tính chất bất công đối với phụ nữ (thất xuất) thì Quốc triều hình luật cũng có những quy định riêng về ba trường hợp (tam bất khứ) mà người chồng không được ly hôn vợ của mình lại được đánh giá là những quy định mang tính bảo vệ cho người phụ nữ .
      Trong một số trường hợp cụ thể, quyền lợi của người phụ nữ cũng được ưu tiên bảo vệ như: cưỡng ép phụ nữ kết hôn cũng là có tội (điều 320); đặc biệt bộ luật quy định xử rất nặng đối với tội xâm phạm thân thể, tiết hạnh của người phụ nữ như kẻ nào “hiếp dâm” thì xử lưu hay chết phải nộp tiền tạ tội hơn một bậc đối với tiền tạ tội gian dâm thường, nếu gây thương tích cho người đàn bà thì xử nặng hơn một bậc đánh người bị thương,Nếu làm chết người đàn bà thì điền sản kẻ phạm tội phải giao cho nhà người bị chết (điều 403); “gian dâm với con gái nhỏ 12 tuổi trở xuống, dù nó thuận tình thì vẫn xử như tội hiếp dâm” (điều 404). Phụ nữ đang mà phạm tội thì cũng được giảm nhẹ.hơn so với nam giới.
      Trong chương điều sản.
     Trong xã hội phong kiến, người phụ nữ về nguyên tắc phải phụ thuộc rất lớn vào người chồng. Tuy nhiên trên thực tế tại Việt Nam thì địa vị của vợ – chồng thay đổi tùy thuộc vào địa vị xã hội và sở hữu tài sản mà học có được. Đây là một điểm khác biệt rất quan trọng của người phụ nữ Việt nam so với phụ nữ Trung Quốc cùng trong giai đoạn này.
      Về quan hệ sở hữu tài sản Quốc triều hình luật có những quy định thể hiện một vài điểm tiến bộ khi gián tiếp thừa nhận quyền bình đẳng của người vợ đối với tài sản gia đình thông qua quy định về thanh toán điền sản của vợ chồng khi một trong hai bên vợ hoặc chồng chết, phản ánh rất chi tiết qua ba điều  374, 375 và 376. Theo luật thì khi vợ chồng còn sống chung thì tất cả các tài sản đều là của chung, khi ly hôn thì phần tài sản của riêng ai thì được nhận lại và tài sản chung thì chia đôi. Khi vợ hay chồng chết đi mà không có con thì phần tài sản được thừa kế của hai người và phần tài sản chung sẽ được chia như sau : Khi chồng chết trước (hay vợ chết trước) thì phần tài sản do bố mẹ dành cho được chia làm hai phần bằng nhau. Một phần dành cho gia đình bên vợ hay chồng người vừa chết để lo việc tế lễ (bố mẹ bên vợ/ chồng hoặc người thừa tự bên vợ/ chồng). Phần còn lại dành cho vợ hoặc chồng để phụng dưỡng một đời (nhưng không có quyền sở hữu. Đối với tài sản hai người cùng tạo ra cũng chia làm hai phần bằng nhau. Đây có thể coi là bước đột phá táo bạo khi xây dựng bộ luật này khi cho người vợ được hưởng quyền tài sản ngang với người chồng.
      Về quyền làm chủ tài sản, có một điều đặc biệt quan trọng trong bộ Quốc triều hình luật này là đã quy định người chồng không có quyền thừa kế tài sản của vợ, nếu người vợ mất đi mà không có con quy định tại Điều 376 : “Vợ chồng đã có con nếu một người chết trước, sau đó con cũng lại chết, thì điền sản thuộc về chồng hay vợ. Nếu ngưởng họ chia không đúng phép, thì bị xử phạt 50 roi, biếm một tư và mất phần chia (đúng phép nghĩa là điền sản của vợ chia làm 3, để cho chồng hai phần, cho người họ (người thừa tự một phần). Cha mẹ còn sống thì chia làm hai, thuộc về cha mẹ một phần, phàn của chồng chỉ để nuôi một đời, không được nhạn làm của riêng, chồng chết thì phần ấy thuộc ề cha mẹ hay người thừa tự…”. Việc chuyển tài sản của người vợ cho gia đình cha mẹ đẻ chứng tỏ người vợ không hoàn toàn bị phụ thuộc vào quyền lực của người chồng.
      Về quyền thừa kế tài sản.
      Trong gia đình, quyền được chia gia tài của con gái cũng ngang bằng với con trai (Điều 388); Không có con trai cũng không có nghĩa là không có người thừa tự, vì Điều 391 quy định: trong trường hợp gia đình không có con trai thì con gái cũng có quyền thừa kế hương hoả “ người giữ hương hỏa không có con trai trưởng thì dùng con gái trưởng, truống đất hương hỏa, giao cho người con trai trưởng giữ, còn thì chia nhau.
       Quyền của người phụ nữ trong Hoàng Việt Luật Lệ (Bộ Luật Gia Long).
      Sau khi triều Lê suy yếu, Việt nam rơi vào tình trạng nội chiến kéo dài suốt 3 thế kỷ, cho đến khi Nguyễn Ánh lập ra triều Nguyễn năm 1802. Để củng cố chế độ phong kiến, bảo vệ quyền lực vương triều và ổn định xã hội sau một thời gian dài biến động, ngay sau khi lên ngôi, vua Gia Long đã ngay lập tức sai quần thần biên soạn bộ luật mới. Năm 1815 Bộ Hoàng Việt Luật Lệ (còn gọi là Bộ luật Gia Long) được ban hành. Ở Bộ Luật này, ảnh hưởng Bộ Quốc triều hình luật thời nhà Lê, bộ Hoàng Việt Luật Lệ cũng có thêm những quy định nhằm tiếp tục đề cao quyền lợi của người phụ nữ, thể hiện như sau:
      Hoàng Việt Luật Lệ đã lo xa hơn cho đời sống của người phụ nữ nếu phải ly dị chồng, do đó có quy định ba trường hợp khiến cho chồng không thể bỏ vợ được trừ khi người vợ ngoại tình là: vợ đã để tang cha mẹ chồng; vợ đã làm nên giàu có; ngoài nhà chồng ra vợ không còn chỗ nào nương tựa nữa. Nếu vi phạm một trong ba trường hợp ấy sẽ bị trừng trị đích đáng.
      Bộ luật cũng quy định về việc trừng trị tội “quấy rối tình dục”. Điều 17 khoản 168 Hoàng Việt Luật Lệ quy định: “người nào dùng lời thô tục dâm đãng làm cho người đàn bà xấu hổ mà tự tử thì phải xử đến hình giảo giam hậu” . Đây chính là một hình thức thể hiện sự bảo vệ nhân thân của người phụ nữ trong Bộ Luật gia Long.
      Bộ luật còn quy định Cấm quan lại lấy đàn bà, con gái ở địa phương nơi mình đương chức quy định tại các Điều 103 và 183 nhằm tránh sự lạm dụng quyền thế của các quan để cưỡng bức con gái nhà lành hoặc gia đình nhà gái lợi dụng hôn nhân để chi phối quan quyền.
     Cấm nhà quyền thế cưỡng đoạt, ức hiếp con gái nhà dân làm vợ. Điều cấm này được ghi nhận rõ trong Điều 105. Nếu phạm vào tội này sẽ bị xử thắt cổ.
     Pháp luật nghiêm cấm và có những hình phạt đối với hành vi lừa gạt kết hôn, nhưng hình phạt đối với nhà trai nặng hơn nhà gái Lý giải là vì nếu bị lừa gạt vẫn có thể cưới vợ, còn nhà gái nếu bị phinh gạt thì đã thắt thân (mất đời con gái). Bộ Hoàng Việt Luật Lệ xử rất nặng tội gian dâm, đặc biệt là tội cưỡng dâm đối với trẻ em gái (Điều 404 và Điều 1 quyển 18). Việc nghiêm cấm và trừng phạt nặng đối với các tội thông dâm, cưỡng dâm phần nào gián tiếp bảo vệ thân thể và nhân phẩm của người phụ nữ.

 Đánh giá các quy định của pháp luật về quyền của người phụ nữ Việt Nam thời phong kiến

      Bộ Luật Hồng Đức và Bộ luật Gia Long ra đời là hai bộ luật đánh dấu bước tiến bộ vượt bậc trong việc quy định đảm bảo quyền của người phụ nữ Việt Nam trong thời kỳ phong kiến. Nó chứng tỏ nét tiến bộ trong tư tưởng của nhà nước Việt Nam ở thế kỷ XV và cũng được nhiều nhà sử gia, nhiều nhà nghiên cứu luật pháp trong nước và quốc tế đánh giá cao.
      Không khỏi phủ nhận những thành tựu đạt được của hai bộ Luật tiêu biểu trên, đặc biệt là Bộ Luật Hồng Đức đã được đánh giá rất cao,một bộ luật phong kiến được coi là độc đáo, chẳng những trong lịch sử Việt nam mà cả trong lịch sử nói chung, bởi những điều khoản của nó công nhận và bảo đảm một số quyền lợi quan trọng của người phụ nữ. Bộ luật Gia long cũng có ghi nhận những điều khoản đảm bảo quyền phụ nữ tuy nhiên không có sự kế thừa, phát huy Bộ luật Hồng Đức trước đó mà chỉ sao chép hầu hết luật nhà Thanh nên chỉ đóng vai trò mờ nhạt.
      Bên cạnh những điểm tiến bộ nhất định, Bộ Luật Hồng Đức và Hoàng Việt Luật Lệ vẫn còn tồn tại những tư tưởng phong kiến lạc hậu đã ăn sâu hàng nghìn năm đè nặng trách nhiệm, nghĩa vụ lên vai người phụ nữ. Đó chính là nghĩa vụ tòng phu và nghĩa vụ chung thủy của người vợ.
      Nghĩa vụ tòng phu là khái niệm suy rộng từ nghĩa vụ theo chồng, hết lòng vì chồng, gia đình chồng của người vợ trong gia đình. Về nghĩa vụ này cả hai bộ luật đều quy định song Bộ Luật Hồng Đức không có một điều khoản cụ thể nào về nghĩa vụ này. Còn Hoàng Việt Luật Lệ quy định rất tỉ mỉ về vấn đề này. Điều đó phần nào đã làm tăng nghĩa vụ của người phụ nữ trong gia đình.
      Vợ có nghĩa vụ để tang cha mẹ, họ hàng nhà chồng, thờ phụng tổ tiên bên chồng, tôn trọng trật tự thê thiếp. Vợ đánh, mắng xâm hại đến bề trên hoặc tôn trưởng bên chồng đều xử nặng…(điều 284, 289,290 Hoàng Việt Luật Lệ). Theo quan điểm nho giáo, người vợ phải phụ thuộc vào chồng, phải kính phục, phải tôn trọng và nghe lời chồng, không được làm trái ý chồng. Người vợ không được ghen tuông, cậy thế lấn át chồng, đánh chồng. Sự phục tùng buộc người vợ phải thực hiện đầy đủ, trọn vẹn các nghĩa vụ với các thành viên trong gia đình chồng như chính chồng. Sự phụ thuộc này còn buộc người vợ phải gánh chịu những hậu quả xấu do hành vi phạm tội mà người chồng gây ra (quy định tại điều 331, 504, 481, 482, 476, 479, 483,484 … QTHL).
      Ngoài ra, người chồng có nghĩa vụ giáo dục, dạy bảo vợ về nghi lễ thờ cúng gia tiên, nguyên tắc thờ cúng tại miếu …
       Nghĩa vụ chung thủy
      Nghĩa vụ này chỉ đặt ra đối với người vợ mà không đòi hỏi người chồng phải thực hiện, vì người chồng đương nhiên có quyền đa thê. Sự chung thủy này nhằm đảm bảo con người vợ sinh ra luôn là con của chồng mình. Đó là mục đích chính của hôn nhân phong kiến, sinh con nối dõi tông đường. Vì thế, hành vi ngoại tình của người vợ bị trừng phạt rất nghiêm khắc, được xếp là một trong “thất xuất” buộc người chồng phải bỏ vợ. Điều 332 Hoàng Việt Luật lệ quy định: Tiết hạnh chủ yếu quy định đối với người vợ, chồng có quyền gả bán vợ nếu vợ mắc tội thông gian. Hay trong điều 401 Quốc triều hình luật: “ … Vợ cả, vợ lẽ phạm tội đều xử tội lưu, điền sản trả lại cho người chồng”.
      Đồng thời, luật cũng đưa ra một số điền khoản hạn chế người chồng như: cấm chồng gả bán vợ cho gian phu… (điều 254 Hoàng Việt Luật lệ).
      Chế độ tài sản: Việc quy định chế độ tài sản của vợ chồng nói chung và tài sản của vợ, chồng nói riêng trong pháp luật phong kiến chưa rõ ràng mà mới chỉ dự liệu trong một số trường hợp riêng rẽ. Bộ luật Hồng Đức không có một chế định nào đề cập đến vấn đề tài sản của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân mà chỉ dự liệu một số trường hợp khi vợ hoặc chồng chết (Điều 374- Điều 376). Hoàng việt luật lệ sao chép y nguyên luật lệ nhà Thanh nên không có một điều khoản cụ thể nào về tài sản vợ chồng.Người vợ hoàn toàn vô năng lực và đặt dưới sự quản lý của chồng.
      So sánh những quy định trong hai bộ luật, ta thấy được sự tiến bộ của pháp luật triều Lê và sự thụt lùi của pháp luật triều Nguyễn trong việc bảo vệ địa vị, quyền của người phụ nữ.

Vị trí, vai trò của người phụ nữ Việt Nam thời phong kiến trên thực tế (hệ thống ký tự VN chỉ có dấu … thôi)

      Mặc dù trong pháp luật phong kiến Việt Nam thời đó quyền người phụ nữ vẫn chưa được ghi nhận rõ ràng nhưng trên thực tế cuộc sống thì quyền của người phụ nữ lại được thể hiện giá trị bình đẳng rất rõ nét thông qua các công trình nghiên cứu, tác phẩm văn học về lịch sử…..cho thấy rằng người phụ nữ Việt nam cũng có ảnh hưởng, có tiếng nói, địa vị quan trọng trong xã hội, họ có thể làm những việc mà người đàn ông phải ngả mình, có thể làm chính trị, đấu tranh…với những tấm gương sáng, tiêu biểu như: Hoàng Thái hậu Nguyên phi Ỷ Lan, Nữ tướng Lê Lợi, nữ tướng Lê Chân, Hồ Xuân Hương, Huyện Thanh Quan…đã để lại dấu ấn một thời, là hạt nhân long lanh đại diện cho người phụ nữ Việt Nam thời kỳ ấy.

      Trong lĩnh vực chính trị: Mặc dù, thời phong kiến, đa số phụ nữ thường đứng sau đàn ông không được tham gia chính trị, lo việc triều chính. Tuy nhiên, thời kỳ đó, vào thời vua Lý Thánh Tông 1063, nổi lên một người phụ nữ với dung mạo xinh đẹp, thông minh, được sự sủng ái của vua,Yến Loan (Sau này có tên là Vương Phi Ỷ Lan) đã được vua đưa vào cung làm phi, được học hỏi và nhanh chóng trở thành một người tài giỏi, có kiến thức uyên thâm đặc biệt là triều chính. Dần dần bà được phong chức cao. Giúp vua rất nhiều trong việc triều chính. Bà đã 2 lần nhiếp chính (thay vua cai quản triều đình), nhiều lần lo cứu nguy cho đất nước, cứu sống dân đói, vững vàng đưa đất nước vượt qua khó khăn, giữ cảnh thái bình, góp phần không nhỏ trong sự nghiệp chấn hưng đất nước của vua Lý Thánh Tông.

Một số vấn đề về quyền của người phụ nữ trong pháp luật phong kiến Việt Nam
      Trong mặt trận chống quân thù: Lịch sử dân tộc Việt Nam còn mãi ghi đậm dấu ấn chói ngời của những nữ anh hùng hào kiệt không chịu khuất phục kẻ thù, không chịu kiếp sống nô lệ, đứng lên chống giặc ngoại xâm giành tự do. Đó là Bà Trưng, Bà Triệu; Nữ tướng Bùi thị Xuân, Bà Nguyễn Thị Định, Chị út Tịch, … Nữ tướng Lê Chân là một trong những nữ tướng xuất xắc của Hai Bà Trưng được Trưng Nữ Vương phong làm Lê Chân Công chúa. Bà quê ở huyện Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh. Cha mẹ bị Tô Định hãm hại nên Lê Chân đã phái uất hận bỏ xứ mà đến đất An Biên. Chính Lê Chân là người đã đứng ra tổ chức khai hoang và lập ra làng này vào năm Bà mới 19 tuổi. Cũng tại An Biên, Lê Chân đã lập ra đội dân binh gồm đủ cả nam lẫn nữ. Ngoài nhiệm vụ bảo vệ cho dân làng, đội dân binh An Biên còn chủ động tổ chức những trận tấn công rất bất ngờ vào lực lượng quân đô hộ. Tô Định rất tức tối nhưng cũng tỏ ra rất lúng túng trong kế sách đối phó. Khi Hai Bà Trưng khởi nghĩa, Lê Chân đã đem toàn bộ quân sĩ của mình theo về. Năm ấy Bà mới 22 tuổi. Quân giặc rất sợ tài thao lược của Bà, chúng gọi Bà là Đông Hải Kình Ngư (con cá kình của biển Đông). Qua đây có thể thấy, trên mặt trận chống quân thù, mặc dù là phận nữ nhưng bà Lê Chân vẫn không ngại xông pha chiến trường từ nhỏ, với lòng kiên trung, gan dạ đã cũng với Hai Bà Trưng lập nên những chiến công hiển hách trong công cuộc chống thế lực phong kiến phương bắc đầu công nguyên. Bà là tấm gương tiêu biểu, anh dũng hy sinh trên mặt trận chống quân thù.
      Trong mặt trận nghiên cứu khoa học: Ở Việt Nam thời kỳ phong kiến, có những nữ sĩ nổi tiếng mặc dù không cầm gươm, đao xông pha nơi chiến trận, nhưng ngòi bút của họ đã đóng góp cho nền văn hoá dân tộc đặc biệt là trong việc đấu tranh đòi quyền lợi cho người phụ nữ phong kiến, họ đã đem thơ ca vào cuộc sống để thay lời tuyên ngôn đòi một số quyền cho người yêu biểu là những nhà thơ nữ nổi tiếng như: Đoàn Thị Điểm dịch giả Chinh Phụ Ngâm khúc của Đặng Trần Côn Huyện Thanh Quan, Sương Nguyệt Ánh. Nữ sĩ nổi tiếng một thời được gọi là Bà Chúa Thơ Nôm Hồ Xuân Hương…
      Thơ Hồ Xuân Hương là những tiếng cười chế giễu, đôi khi như ai oán, phản ảnh số phận nghiệt ngã người phụ nữ và chính cuộc đời mình. Thơ của bà muốn vượt qua cái suy nghĩ hẹp hòi của chế độ phong kiến về thân phận người phụ nữ và phải sánh tầm với non sông đất nước.Xót thương cho duyên số cũng như thân phận nghiệt ngã của mình,, , hận chế độ,xã hôi phong kiến bất công với người phụ nữ bấy giờ, bà đã sáng tác rất nhiều bài thơ Nôm thể hiện sự bất mãn, thay tiếng nói người phụ nữ, thậm chí bà chửi :
      Kẻ đắp chăn chung kẻ lạnh lùng
     Chém cha cái kiếp cảnh chồng chung
     Năm thì mười họa chăng hay chớ
     Một tháng đôi lần có cũng không
     Cố đấm ăn xôi, xôi lại hẩm
     Cầm bằng làm mướn, mướn không công
     Thân này biết ví đường nào nhỉ
     Thà trước thôi đành ở vậy không
      Bà Huyện Thanh Quan là một trong số ít những người phụ nữ có học thức thời phong kiến Việt Nam được sử sách và người đời ca tụng và lưu giữ tên tuổi đến ngày nay., bất bình với quy định pháp luật phong kiến thời đó, quy định phụ nữ Việt Nam cấm kết hôn trong thời kỳ “ tang chế”, bà nói :
     Phó cho con Nguyễn Thị Đào
     Nước trong leo lẻo cắm sào đợi ai?
     Chữ rằng xuân bất tái lai
     Cho về kiếm chút kẻo mai nữa già!
      Qua đó như thay tiếng nói người phụ nữ lúc bấy giờ đòi chấm dứt chế độ cấm kết hôn thời tang chế để người phụ nữ có thể tìm hạnh phúc mới kẻo lỡ tuổi xuân.

      Với những quy định về quyền của người phụ nữ Việt Nam trong thời kỳ phong kiến như trên có thể thấy quyền của người phụ nữ Việt nam trong thời kỳ này còn bị hạn chế hơn nhiều so với quyền của nam giới. Mặc dù hiện nay, trong quy định của pháp luật đã có những quy định tiến bộ, đảm bảo quyền, khẳng định vị thế cho người phụ nữ nhưng dấu ấn, tàn dư của chế độ cũ ít nhiều vẫn còn ảnh hưởng trong nhận thức, tư tưởng một số người. Vì vậy, việc tiếp tục quy định trong luật, đẩy mạnh, nâng cao vị thế người phụ nữ Việt Nam nhằm tạo điều kiện tốt nhất đảm bảo quyền cho người phụ nữ cũng như cống hiến cho xã hội là việc làm thật sự cần thiết trong xã hội hiện nay.


Trên đây là toàn bộ thông tin mà chúng tôi cung cấp đến bạn về vấn đề: Một số vấn đề về quyền của người phụ nữ trong pháp luật phong kiến Việt Nam. Để được tư vấn cụ thể hơn bạn vui lòng liên hệ Tổng đài tư vấn luật trực tuyến qua HOTLINE 19006588 của Luật Quang Huy.

Trân trọng ./.


Đánh giá

Tại sao bạn nên chia sẻ bài viết này? Vì nó hữu ích, và hoàn toàn miễn phí :)


Tác giả bài viết

OO

HỎI ĐÁP QUA ĐIỆN THOẠI