Bồi thường thiệt hại trong trường hợp vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng

Bồi thường thiệt hại trong trường hợp vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng
  • Người gây thiệt hại trong trường hợp phòng vệ chính đáng không phải bồi thường cho người bị thiệt hại.
  • Người gây thiệt hại do vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng phải bồi thường cho người bị thiệt hại.
  • Người nào có hành vi xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, uy tín, tài sản, quyền, lợi ích hợp pháp khác của người khác.
  • Thiệt hại thực tế phải được bồi thường toàn bộ và kịp thời.

Trong thực tế, hành vi gây thiệt hại về người không phải lúc nào cũng phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại, đặc biệt là trường hợp gây thiệt hại do phòng vệ chính đáng.

Vậy khi nào được coi là phòng vệ chính đáng?

Gây thiệt hại khi vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng có phải bồi thường thiệt hại không?

Bài viết dưới đây của Luật Quang Huy sẽ thông tin đến bạn quy định của pháp luật về vấn đề trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong trường hợp vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng.


1. Phòng vệ chính đáng là gì?

Điều 22 Bộ luật hình sự 2015 quy định về phòng vệ chính đáng như sau:

Phòng vệ chính đáng là hành vi của người vì bảo vệ quyền hoặc lợi ích chính đáng của mình, của người khác hoặc lợi ích của Nhà nước, của cơ quan, tổ chức mà chống trả lại một cách cần thiết người đang có hành vi xâm phạm các lợi ích nói trên.

Như vậy, phòng vệ chính đáng là hành vi hợp pháp của cá nhân, chống trả lại một cách cần thiết và trong giới hạn đối với người đang có hành vi xâm phạm lợi ích của chính bản thân họ hoặc lợi ích chính đáng của nhà nước hay chủ thể khác.

Phòng vệ chính đáng được xác định không phải là tội phạm.

Trường hợp hành vi chống trả lại vượt quá giới hạn nêu trên thì được coi là vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng. Nếu gây thiệt hại thì có thể chịu trách nhiệm bồi thường.


2. Căn cứ phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong trường hợp vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng

Căn cứ tại Điều 584 Bộ luật dân sự năm 2015 quy định về căn cứ phát sinh bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng như sau:

  • Người nào có hành vi xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, uy tín, tài sản, quyền, lợi ích hợp pháp khác của người khác mà gây thiệt hại thì phải bồi thường, trừ trường hợp Bộ luật này, luật khác có liên quan quy định khác.
  • Người gây thiệt hại không phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong trường hợp thiệt hại phát sinh là do sự kiện bất khả kháng hoặc hoàn toàn do lỗi của bên bị thiệt hại, trừ trường hợp có thỏa thuận khác hoặc luật có quy định khác.
  • Trường hợp tài sản gây thiệt hại thì chủ sở hữu, người chiếm hữu tài sản phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại, trừ trường hợp thiệt hại phát sinh theo quy định tại khoản 2 Điều này.

Cụ thể trong trường hợp người phòng vệ chính đáng gây thiệt hại mà thiệt hại đó là hậu quả của hành vi “vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng” thì người này phải bồi thường thiệt hại theo quy định tại Điều 594 Bộ luật dân sự năm 2015.

Hiểu hành vi vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng là khi bị người khác gây thiệt hại, người phòng vệ chính đáng đã có hành vi gây thiệt hại ngược trở lại nhưng do có sự sai lầm trong việc đánh giá mức độ tấn công, điều kiện hoàn cảnh của hành vi tấn công và hành vi chống trả do đó vượt quá giới hạn cần thiết nên đã gây thiệt hại cho người có hành vi gây thiệt hại ban đầu.

Do đó, hành vi của họ đã vượt quá giới hạn của phòng vệ chính đáng Việc vượt quá giới hạn đó bị coi là trái pháp luật, vì vậy họ phải bồi thường thiệt hại.


3. Chủ thể phải bồi thường thiệt hại trong trường hợp vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng

Theo quy định tại điều 594 Bộ luật dân sự 2015 quy định:

Người gây thiệt hại do vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng phải bồi thường cho người bị thiệt hại.

Như vậy người nào mà có hành vi gây thiệt hại do vượt quá phòng vệ chính đáng sẽ phải bồi thường thiệt hại cho người bị thiệt hại.

Tuy nhiên không phải lúc nào người gây thiệt hại sẽ là người phải bồi thường.

Việc xác định chủ thể sẽ phải bồi thường thiệt hại còn phải căn cứ vào năng lực chủ thể chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại.

Theo Điều 586 Bộ luật dân sự 2015 quy định về năng lực chủ thể chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại như sau:

  • Người từ đủ mười tám tuổi trở lên gây thiệt hại thì phải tự bồi thường.
  • Người chưa đủ mười lăm tuổi gây thiệt hại mà còn cha, mẹ thì cha, mẹ phải bồi thường toàn bộ thiệt hại; nếu tài sản của cha, mẹ không đủ để bồi thường mà con chưa thành niên gây thiệt hại có tài sản riêng thì lấy tài sản đó để bồi thường phần còn thiếu, trừ trường hợp quy định tại Điều 599 của Bộ luật dân sự 2015
  • Người từ đủ mười lăm tuổi đến chưa đủ mười tám tuổi gây thiệt hại thì phải bồi thường bằng tài sản của mình; nếu không đủ tài sản để bồi thường thì cha, mẹ phải bồi thường phần còn thiếu bằng tài sản của mình.
  • Người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự, người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi gây thiệt hại mà có người giám hộ thì người giám hộ đó được dùng tài sản của người được giám hộ để bồi thường.

Nếu người được giám hộ không có tài sản hoặc không đủ tài sản để bồi thường thì người giám hộ phải bồi thường bằng tài sản của mình.

Nếu người giám hộ chứng minh được mình không có lỗi trong việc giám hộ thì không phải lấy tài sản của mình để bồi thường.


4. Nguyên tắc và mức bồi thường thiệt hại trong trường hợp vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng

4.1 Nguyên tắc bồi thường thiệt hại

Theo quy định tại khoản 1 điều 585 Bộ luật dân sự 2015 quy định:

Thiệt hại thực tế phải được bồi thường toàn bộ và kịp thời. Các bên có thể thỏa thuận về mức bồi thường, hình thức bồi thường bằng tiền, bằng hiện vật hoặc thực hiện một công việc, phương thức bồi thường một lần hoặc nhiều lần, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

Việc bồi thường sẽ phải dựa theo các nguyên tắc sau:

  • Người chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại có thể được giảm mức bồi thường nếu không có lỗi hoặc có lỗi vô ý và thiệt hại quá lớn so với khả năng kinh tế của mình.
  • Khi mức bồi thường không còn phù hợp với thực tế thì bên bị thiệt hại hoặc bên gây thiệt hại có quyền yêu cầu Tòa án hoặc cơ quan nhà nước có thẩm quyền khác thay đổi mức bồi thường.
  • Khi bên bị thiệt hại có lỗi trong việc gây thiệt hại thì không được bồi thường phần thiệt hại do lỗi của mình gây ra.
  • Bên có quyền, lợi ích bị xâm phạm không được bồi thường nếu thiệt hại xảy ra do không áp dụng các biện pháp cần thiết, hợp lý để ngăn chặn, hạn chế thiệt hại cho chính mình.

4.2 Mức bồi thường thiệt hại

Nếu có thiệt hại về sức khỏe thì người gây thiệt hại sẽ phải bồi thường về sức khỏe theo quy định tại Điều 589 Bộ luật dân sự 2015 quy định:

  • Chi phí hợp lý cho việc cứu chữa, bồi dưỡng, phục hồi sức khỏe và chức năng bị mất, bị giảm sút của người bị thiệt hại;
  • Thu nhập thực tế bị mất hoặc bị giảm sút của người bị thiệt hại; nếu thu nhập thực tế của người bị thiệt hại không ổn định và không thể xác định được thì áp dụng mức thu nhập trung bình của lao động cùng loại;
  • Chi phí hợp lý và phần thu nhập thực tế bị mất của người chăm sóc người bị thiệt hại trong thời gian điều trị; nếu người bị thiệt hại mất khả năng lao động và cần phải có người thường xuyên chăm sóc thì thiệt hại bao gồm cả chi phí hợp lý cho việc chăm sóc người bị thiệt hại;
  • Ngoài ra người chịu trách nhiệm bồi thường trong trường hợp sức khỏe của người khác bị xâm phạm phải bồi thường thiệt hại theo quy định tại khoản 1 Điều này và một khoản tiền khác để bù đắp tổn thất về tinh thần mà người đó gánh chịu.

Mức bồi thường bù đắp tổn thất về tinh thần do các bên thỏa thuận; nếu không thỏa thuận được thì mức tối đa cho một người có sức khỏe bị xâm phạm không quá năm mươi lần mức lương cơ sở do Nhà nước quy định.

Nếu có thiệt hại về tính mạnh thì người gây thiệt hại sẽ phải bồi thường theo quy định tại Điều 590 Bộ luật dân sự 2015 quy định:

  • Thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm theo quy định tại Điều 590 của Bộ luật dân sự 2015
  • Chi phí hợp lý cho việc mai táng; Chi phí hợp lý cho việc mai táng (các khoản tiền mua quan tài, các vật dụng cần thiết cho việc khâm liệm, khăn tang, hương, nến, hoa, thuê xe tang và các khoản chi khác phục vụ cho việc chôn cất hoặc hỏa táng nạn nhân theo thông lệ chung. Không chấp nhận yêu cầu bồi thường chi phí cúng tế, lễ bái, ăn uống, xây mộ, bốc mộ…).
  • Tiền cấp dưỡng cho những người mà người bị thiệt hại có nghĩa vụ cấp dưỡng.
  • Ngoài ra còn các chi phí khác phát mà pháp luật có quy định
  • Ngoài ra người gây thiệt hại về tính mạng sẽ phải bồi thường một khoản về tinh thần.

Theo khoản 2 điều 591 Bộ luật dân sự 2015 quy định mức bối thường như sau:

Người chịu trách nhiệm bồi thường trong trường hợp tính mạng của người khác bị xâm phạm phải bồi thường thiệt hại theo quy định tại khoản 1 Điều này và một khoản tiền khác để bù đắp tổn thất về tinh thần cho những người thân thích thuộc hàng thừa kế thứ nhất của người bị thiệt hại, nếu không có những người này thì người mà người bị thiệt hại đã trực tiếp nuôi dưỡng, người đã trực tiếp nuôi dưỡng người bị thiệt hại được hưởng khoản tiền này. Mức bồi thường bù đắp tổn thất về tinh thần do các bên thỏa thuận; nếu không thỏa thuận được thì mức tối đa cho một người có tính mạng bị xâm phạm không quá một trăm lần mức lương cơ sở do Nhà nước quy định.


5. Căn cứ pháp lý

  • Bộ luật dân sự 2015

Trên đây là toàn bộ lời tư vấn về trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong trường hợp vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng.

Mọi thắc mắc của bạn liên quan tới vấn đề này hoặc cần tư vấn về bồi thường, hợp đồng hay muốn sử dụng các dịch vụ về dân sự, bạn vui lòng liên hệ Tổng đài tư vấn luật qua HOTLINE 19006588 của Luật Quang Huy để được hỗ trợ cụ thể.

Trân trọng./.

Hãy chia sẻ bài viết này vì nó hữu ích và hoàn toàn miễn phí bạn nhé!

5/5 - (1 bình chọn)
Tác giả bài viết