Bộ luật dân sự năm 2015

BỘ LUẬT DÂN SỰ 2015

      Từ ngày 01/01/2017, Bộ luật dân sự 2015 sẽ có hiệu lực thi hành và thay thế cho Bộ luật dân sự số 33/2005/QH11. Bộ luật dân sự (BLDS) năm 2015 đã được Quốc hội khóa XIII, kỳ họp thứ 10 thông qua vào ngày 24/11/2015 và được Chủ tịch nước ký lệnh công bố ngày 08/12/2015

      Sự cần thiết phải ban hành Bộ luật dân sự mới là do tình hình kinh tế – xã hội của đất nước đang bước sang giai đoạn phát triển mới, trong khi BLDS hiện hành đã bộc lộ nhiều hạn chế, bất cập. Nhiều quy định về chủ thể, giao dịch, đại diện, nghĩa vụ và hợp đồng, thừa kế còn bất hợp lý, thiếu tính khả thi, chưa thực sự tạo điều kiện thuận lợi cho công cuộc xây dựng và phát triển của nền kinh tế thị trường định hướng XHCN, nhiều quy định được lặp lại giữa các phần và các chế định, một số quy định không bảo đảm tính rõ ràng, tạo ra các cách hiểu khác nhau, gây khó khăn cho quá trình áp dụng pháp luật dân sự trong thực tiễn…Với bài viết dưới đây chúng tôi Luật Quang Huy sẽ trình bày nội dung cụ thể của Bộ luật dân sự 2015.


Cơ sở pháp lý

  • Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam;

Tóm tắt nội dung Bộ luật dân sự 2015

        Bộ luật dân sự 2015 được ban hành thể chế hóa đầy đủ, đồng thời tăng cường các biện pháp để công nhận, tôn trọng, bảo vệ và bảo đảm tốt hơn quyền con người, quyền công dân trong các lĩnh vực của đời sống dân sự, cũng như những tư tưởng, nguyên tắc cơ bản của nền kinh tế thị trường định hướng XHCN về quyền sở hữu, quyền tự do kinh doanh, quyền bình đẳng giữa các chủ thể thuộc mọi hình thức sở hữu và thành phần kinh tế.

      Theo đó, BLDS mới có 6 phần, 27 chương với 689 điều, bao gồm: Phần thứ nhất “Quy định chung” (Điều 1 – Điều 157), Phần thứ hai “Quyền sở hữu và quyền khác đối với tài sản” (Điều 158 – Điều 273), Phần thứ ba “Nghĩa vụ và hợp đồng” (Điều 274 – Điều 608), Phần thứ tư “Thừa kế” (Điều 609 – Điều 662), Phần thứ năm “Pháp luật áp dụng đối với quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài” (Điều 663 – Điều 687), Phần thứ sáu “Điều khoản thi hành” (Điều 688 và Điều 689).

      Được đánh giá sẽ khắc phục những hạn chế, bất cập, Bộ luật dân sự 2015 sau khi được triển khai vào đầu năm 2017 sẽ tạo nên môi trường pháp lý thuận lợi cho sự phát triển kinh tế – xã hội của đất nước cũng như cho việc công nhận, tôn trọng, bảo vệ và bảo đảm các quyền dân sự của người dân. Do đó, mỗi cán bộ, công chức, viên chức, người lao động, nhân dân và các doanh nghiệp cần tìm hiểu, nắm bắt những quy định của BLDS năm 2015 để vận dụng vào trong cuộc sống và thực hiện đầy đủ các quyền, nghĩa vụ hợp pháp, chính đáng của mình.

Bộ luật dân sự 2015

Nội dung của Bộ luật dân sự năm 2015

      Bộ luật dân sự 2015 vừa được ban hành ngày 24/11/2015 với nhiều nội dung mới về xác lập, bảo vệ quyền dân sự; năng lực pháp luật dân sự của cá nhân, pháp nhân; hộ gia đình, tổ hợp tác; tài sản; giao dịch dân sự; đại diện; thời hạn, thời hiệu; quyền tài sản; …có nội dung như sau:

TẢI BỘ LUẬT DÂN SỰ 2015


QUỐC HỘI
——–

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
—————

Luật số: 91/2015/QH13

Hà Nội, ngày 24 tháng 11 năm 2015

BỘ LUẬT

DÂN SỰ

  • Căn cứ Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam;
  • Quốc hội ban hành Bộ luật dân sự.

Phần thứ nhất

QUY ĐỊNH CHUNG

Chương I

NHỮNG QUY ĐỊNH CHUNG

Điều 1. Phạm vi điều chỉnh

Bộ luật này quy định địa vị pháp lý, chuẩn mực pháp lý về cách ứng xử của cá nhân, pháp nhân; quyền, nghĩa vụ về nhân thân và tài sản của cá nhân, pháp nhân trong các quan hệ được hình thành trên cơ sở bình đẳng, tự do ý chí, độc lập về tài sản và tự chịu trách nhiệm (sau đây gọi chung là quan hệ dân sự).

Điều 2. Công nhận, tôn trọng, bảo vệ và bảo đảm quyền dân sự

Ở nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, các quyền dân sự được công nhận, tôn trọng, bảo vệ và bảo đảm theo Hiến pháp và pháp luật.

Quyền dân sự chỉ có thể bị hạn chế theo quy định của luật trong trường hợp cần thiết vì lý do quốc phòng, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, đạo đức xã hội, sức khỏe của cộng đồng.

Điều 3. Các nguyên tắc cơ bản của pháp luật dân sự

Mọi cá nhân, pháp nhân đều bình đẳng, không được lấy bất kỳ lý do nào để phân biệt đối xử; được pháp luật bảo hộ như nhau về các quyền nhân thân và tài sản.

Cá nhân, pháp nhân xác lập, thực hiện, chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự của mình trên cơ sở tự do, tự nguyện cam kết, thỏa thuận. Mọi cam kết, thỏa thuận không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội có hiệu lực thực hiện đối với các bên và phải được chủ thể khác tôn trọng.

Cá nhân, pháp nhân phải xác lập, thực hiện, chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự của mình một cách thiện chí, trung thực.

Việc xác lập, thực hiện, chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự không được xâm phạm đến lợi ích quốc gia, dân tộc, lợi ích công cộng, quyền và lợi ích hợp pháp của người khác.

Cá nhân, pháp nhân phải tự chịu trách nhiệm về việc không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ dân sự.

Điều 4. Áp dụng Bộ luật dân sự

Bộ luật này là luật chung điều chỉnh các quan hệ dân sự.

Luật khác có liên quan điều chỉnh quan hệ dân sự trong các lĩnh vực cụ thể không được trái với các nguyên tắc cơ bản của pháp luật dân sự quy định tại Điều 3 của Bộ luật này.

Trường hợp luật khác có liên quan không quy định hoặc có quy định nhưng vi phạm khoản 2 Điều này thì quy định của Bộ luật này được áp dụng.

Trường hợp có sự khác nhau giữa quy định của Bộ luật này và điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên về cùng một vấn đề thì áp dụng quy định của điều ước quốc tế.

Điều 5. Áp dụng tập quán

Tập quán là quy tắc xử sự có nội dung rõ ràng để xác định quyền, nghĩa vụ của cá nhân, pháp nhân trong quan hệ dân sự cụ thể, được hình thành và lặp đi lặp lại nhiều lần trong một thời gian dài, được thừa nhận và áp dụng rộng rãi trong một vùng, miền, dân tộc, cộng đồng dân cư hoặc trong một lĩnh vực dân sự.

Trường hợp các bên không có thỏa thuận và pháp luật không quy định thì có thể áp dụng tập quán nhưng tập quán áp dụng không được trái với các nguyên tắc cơ bản của pháp luật dân sự quy định tại Điều 3 của Bộ luật này.

Điều 6. Áp dụng tương tự pháp luật

Trường hợp phát sinh quan hệ thuộc phạm vi điều chỉnh của pháp luật dân sự mà các bên không có thỏa thuận, pháp luật không có quy định và không có tập quán được áp dụng thì áp dụng quy định của pháp luật điều chỉnh quan hệ dân sự tương tự.

Trường hợp không thể áp dụng tương tự pháp luật theo quy định tại khoản 1 Điều này thì áp dụng các nguyên tắc cơ bản của pháp luật dân sự quy định tại Điều 3 của Bộ luật này, án lệ, lẽ công bằng.

Điều 7. Chính sách của Nhà nước đối với quan hệ dân sự

Việc xác lập, thực hiện, chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự phải bảo đảm giữ gìn bản sắc dân tộc, tôn trọng và phát huy phong tục, tập quán, truyền thống tốt đẹp, tình đoàn kết, tương thân, tương ái, mỗi người vì cộng đồng, cộng đồng vì mỗi người và các giá trị đạo đức cao đẹp của các dân tộc cùng sinh sống trên đất nước Việt Nam.

Trong quan hệ dân sự, việc hòa giải giữa các bên phù hợp với quy định của pháp luật được khuyến khích.


Điểm mới cơ bản của BLDS 2015

      Bộ luật Dân sự có bố cục 6 phần, 27 chương, 689 điều, trong đó đã thể hiện rất nhiều nội dung mới và sự đột phá trong tư duy pháp lý, tạo lập cơ chế pháp lý đồng bộ, thống nhất về điều chỉnh quan hệ dân sự, địa vị pháp lý, chuẩn mực pháp lý về cách ứng xử của cá nhân, pháp nhân trong đời sống dân sự; ghi nhận, bảo vệ tốt hơn các quyền, nghĩa vụ về nhân thân, tài sản của người dân.

      Thứ trưởng Bộ Tư pháp Nguyễn Khánh Ngọc đánh giá: Bộ luật Dân sự là công cụ pháp lý cho việc công nhận, tôn trọng, bảo vệ và bảo đảm các quyền dân sự của cá nhân, pháp nhân, đặc biệt là trong việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các bên yếu thế, các bên có thiện chí trong quan hệ dân sự. Đây cũng là công cụ thúc đẩy sản xuất kinh doanh, sử dụng hiệu quả các nguồn lực xã hội, bảo đảm sự thông thoáng, ổn định trong các quan hệ giao lưu dân sự.

      Để đảm bảo sự đồng bộ, thống nhất và ổn định trong hệ thống pháp luật dân sự, Bộ luật quy định: Bộ luật Dân sự là luật chung điều chỉnh các quan hệ được hình thành trên cơ sở bình đẳng, tự do ý chí, độc lập về tài sản và tự chịu trách nhiệm (gọi chung là quan hệ dân sự). Bộ luật quy định các nguyên tắc cơ bản của pháp luật dân sự và luật khác có liên quan điều chỉnh quan hệ dân sự trong các lĩnh vực cụ thể không được trái với các nguyên tắc cơ bản này; trường hợp luật khác có liên quan không có quy định hoặc có quy định nhưng vi phạm các nguyên tắc cơ bản của pháp luật dân sự thì quy định của Bộ luật Dân sự được áp dụng. Các quy định trong Bộ luật cụ thể hơn hoặc bổ sung các công cụ pháp lý giúp Tòa án có đủ căn cứ giải quyết các vụ việc dân sự, nhất là khi chưa có điều luật để áp dụng. Trong trường hợp này, Tòa án có thể được áp dụng tập quán, tương tự pháp luật, nguyên tắc cơ bản của pháp luật dân sự, án lệ và lẽ công bằng.
Một điểm nhấn quan trọng, Bộ luật Dân sự 2015 đã sửa đổi, bổ sung nhiều quy định của Bộ luật 2005 để cụ thể hóa Hiến pháp 2013 về xây dựng, hoàn thiện hơn các cơ chế pháp lý công nhận, tôn trọng, bảo vệ và bảo đảm quyền con người, quyền công dân trong lĩnh vực dân sự. Cụ thể, Bộ luật quy định Tòa án không được từ chối giải quyết vụ việc dân sự với lý do chưa có điều luật để áp dụng. Tòa án chỉ được áp dụng thời hiệu khi giải quyết vụ việc dân sự trong trường hợp một bên hoặc các bên quan hệ dân sự có yêu cầu; hoàn thiện các chế định về năng lực hành vi dân sự, giám hộ và đại diện để tạo cơ chế pháp lý bảo vệ tốt hơn quyền dân sự của người chưa thành niên, người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi, người mất năng lực hành vi dân sự, giúp họ được bình đẳng với chủ thể khác trong quan hệ dân sự. Các quy định quyền nhân thân của cá nhân, nhất là trong tôn trọng, công nhận và bảo vệ quyền về họ tên, dân tộc, quốc tịch, hình ảnh, tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm và uy tín; quy định cá nhân được chuyển đổi giới tính được ghi nhận trong Bộ luật 2015.

       Bộ luật cũng hoàn thiện các chế định về chủ thể quan hệ pháp luật dân sự, tài sản và quyền sở hữu, nghĩa vụ và hợp đồng, pháp luật áp dụng đối với quan hệ dân sự có yếu tố ngước ngoài để góp phần thể chế hóa các nghị quyết của Đảng, Hiến pháp năm 2013. Theo đó, chủ thể của quan hệ pháp luật dân sự gồm: cá nhân, pháp nhân; Nhà nước CHXHCN Việt Nam, cơ quan nhà nước ở Trung ương, địa phương bình đẳng với chủ thể khác khi tham gia quan hệ dân sự và chịu trách nhiệm dân sự theo quy định của Bộ luật Dân sự. Trường hợp hộ gia đình, tổ hợp tác, tổ chức khác không có tư cách pháp nhân tham gia quan hệ dân sự thì các thành viên là chủ thể tham gia xác lập, thực hiện giao dịch dân sự hoặc ủy quyền cho người đại diện tham gia xác lập, thực hiện giao dịch dân sự.

      Bộ luật đã có các quy định để hoàn thiện chế định tài sản và quyền sở hữu để bảo đảm tính bao quát, minh bạch trong quy định của pháp luật, huy động và khai thác được hết các nguồn lực vật chất trong xã hội; hoàn thiện các chế định về giao dịch, nghĩa vụ và hợp đồng để tạo điều kiện thuận lợi thúc đẩy sự phát triển của sản xuất, kinh doanh, sự thông thoáng, ổn định trong giao lưu dân sự; bảo vệ được quyền, lợi ích hợp pháp của bên yếu thế, bên thiện chí, ngay tình; hạn chế tối đa sự can thiệp của cơ quan công quyền vào các quan hệ dân sự.

      Các hoạt động để triển khai thi hành, đưa Bộ luật Dân sự vào cuộc sống từ ngày 1.1.2017 đã được Bộ Tư pháp, các Sở Tư pháp nhiều địa phương tích cực chuẩn bị trong thời gian vừa qua.

      Để triển khai thi hành Bộ luật Dân sự kịp thời, thống nhất và hiệu quả, ngay từ tháng 2/2016, Thủ tướng Chính phủ đã ký Quyết định Ban hành Kế hoạch triển khai thi hành Bộ luật Dân sự. Trong đó xác định cụ thể các nội dung công việc, thời hạn, tiến độ hoàn thành và trách nhiệm cũng như cơ chế phối hợp của các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, Ủy ban nhân dân các cấp và cơ quan, tổ chức có liên quan trong việc tổ chức triển khai thi hành Bộ luật Dân sự, bảo đảm tính kịp thời, đồng bộ, thống nhất và hiệu quả; xác định cơ chế phối hợp hiệu quả giữa các Bộ, cơ quan ngang Bộ với Tòa án nhân dân tối cao, Viện Kiểm sát nhân dân tối cao, Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên của Mặt trận trong việc triển khai thi hành Bộ luật Dân sự trên phạm vi cả nước. Bộ trưởng Bộ Tư pháp cũng có Quyết định số 276 ban hành Kế hoạch triển khai thi hành Bộ luật Dân sự.

      Cùng với việc tổ chức Hội nghị trực tuyến toàn quốc quán triệt thi hành Bộ luật Dân sự; tọa đàm giới thiệu Bộ luật Dân sự 2015 do Bộ Tư pháp tổ chức, các địa phương cũng đã ban hành kế hoạch cụ thể để triển khai thi hành Bộ luật Dân sự trên địa bàn tỉnh.
      Đánh giá cao những điểm mới nổi bật trong Bộ luật Dân sự 2015, Luật sư Trương Thị Hòa, cho rằng, để bảo đảm thống nhất trong nhận thức, áp dụng pháp luật và bảo đảm sự đồng bộ của hệ thống pháp luật thì bên cạnh Bộ luật Dân sự, các văn bản quy phạm pháp luật khác có liên quan cũng cần được sửa đổi cho phù hợp hoặc có hướng dẫn chi tiết đối với một số nội dung mới của Bộ luật.

      Bộ Luật Dân sự 2015 là một trong những đạo luật quan trọng, rường cột của hệ thống pháp luật Việt Nam với nhiều quy định mới, lần đầu tiên được thiết lập. Do vậy, một số văn bản quy phạm pháp luật hiện hành có liên quan sẽ vẫn còn những quy định chưa bảo đảm tương thích, đồng bộ, thống nhất hoặc còn có khoảng trống pháp lý trong điều chỉnh các quan hệ dân sự theo tinh thần mới của Bộ luật Dân sự 2015. Tới đây, Chính phủ và các bộ, ngành cần rà soát để sửa đổi, bổ sung hoặc ban hành mới văn bản pháp luật, để bảo đảm các quy định tiến bộ của Bộ luật Dân sự được thực thi trong thực tiễn.


      Trên đây là toàn bộ thông tin mà chúng tôi cung cấp đến bạn về vấn đề Bộ luật dân sự 2015 theo quy định của pháp luật hiện hành. Để được tư vấn cụ thể hơn bạn vui lòng liên hệ Tổng đài tư vấn pháp luật trực tuyến qua HOTLINE 19006588 của Luật Quang Huy chúng tôi sẽ giải đáp mọi thắc mắc.

       Trân trọng ./


 

phone-call

HỎI ĐÁP QUA ĐIỆN THOẠI

Scroll to Top