Tội xâm phạm quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí phạt gì?

Tội xâm phạm quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí phạt gì?

Quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí đã được Hiến pháp công nhân và được pháp luật bảo vệ.

Xâm phạm quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí là tội gì? Mức phạt phải chịu là bao nhiêu?

Trong bài viết này, Luật Quang Huy sẽ giúp mọi người nắm được quy định hiện hành về tội xâm phạm quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí.


Điều 167 Bộ luật hình sự quy định về tội phạm gì?

Điều 167 Bộ luật Hình sự 2015 sửa đổi, bổ sung 2017 quy định về tội xâm phạm quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tiếp cận thông tin, quyền biểu tình của công dân.

Tội xâm phạm quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tiếp cận thông tin, quyền biểu tình của công dân là tội phạm hoàn toàn mới, lần đầu tiên được quy định trong Bộ luật Hình sự 2015 sửa đổi, bổ sung 2017 của Việt Nam.


Thế nào là xâm phạm quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí?

Có thể hiểu xâm phạm quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tiếp cận thông tin, quyền biểu tình của công dân là hành vi cản trở công dân thực hiện quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tiếp cận thông tin, quyền biểu tình của công dân.


Hình phạt của tội xâm phạm quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí

Hình phạt chính

Phạt cải tạo không giam giữ đến 02 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 02 năm

Áp dụng đối với người dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực hoặc thủ đoạn khác cản trở công dân thực hiện quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tiếp cận thông tin, quyền biểu tình của công dân, đã bị xử lý kỷ luật hoặc xử phạt vi phạm hành chính về một trong các hành vi này mà còn vi phạm.

Phạt tù từ 01 năm đến 05 năm

Áp dụng với người phạm tội xâm phạm quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí trong các trường hợp sau:

  • Có tổ chức;
  • Lợi dụng chức vụ, quyền hạn;
  • Gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội.

Việc quyết định hình phạt khi phạm tội quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố khác chứ không chỉ các trường hợp theo quy định trên.

Điển hình như việc người phạm tội có hay không những tình tiết tăng nặng, tình tiết giảm nhẹ tội phạm theo quy định tại Điều 51, Điều 52 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Nhân thân người phạm tội hay hoàn cảnh của họ (phụ nữ có thai, người đủ 70 tuổi trở lên,…) cũng sẽ là một trong những yếu tố liên quan đến việc quyết định mức phạt đối với người phạm tội.

Do vậy, tuy người phạm tội thuộc trường hợp áp dụng mức khung hình phạt cao vẫn có thể được giảm nhẹ hơn nếu như có những tình tiết giảm nhẹ hoặc có nhân thân tốt hay có hoàn cảnh đặc biệt.

Ngược lại, nếu có những tình tiết tăng nặng theo quy định, trong quá trình xét xử Toà án có thể nhận thấy được, quyết định hình phạt có nâng cao hơn so với khung hình phạt.

Do vậy, để xác định được trường hợp vụ án có thể có mức hình phạt cao hay thấp, bạn nên tìm đến những văn phòng luật sư hay công ty luật uy tín hoặc những Luật sư có kinh nghiệm dày dặn, điển hình như Luật Quang Huy.

Tại công ty của chúng tôi, các Luật sư đều là những người có kinh nghiệm nhiều năm trong lĩnh vực giải quyết các vụ án hình sự.

Tội xâm phạm quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí phạt gì?
Tội xâm phạm quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí phạt gì?

Hình phạt bổ sung

Ngoài hình phạt chính, người phạm tội còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ từ 01 năm đến 05 năm.


Cấu thành tội phạm của tội xâm phạm quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí

Chủ thể tội xâm phạm quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí

Chủ thể của tội phạm này là người từ đủ 16 tuổi trở lên và có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự bao gồm năng lực nhận thức và năng lực làm chủ hành vi.

Trong trường hợp là vụ án đồng phạm, các chủ thể có thể cùng là người thực hành, cùng trực tiếp thực hiện hành vi phạm tội. Nhưng cũng có thể có sự phân chia nhiệm vụ đối với từng đồng phạm như người tổ chức, người thực hành, người xúi giục, người giúp sức.

Khách thể tội xâm phạm quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí

Khách thể của tội phạm là quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tiếp cận thông tin, quyền biểu tình của công dân.

Mặt chủ quan tội xâm phạm quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí

Tội xâm phạm quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tiếp cận thông tin, quyền biểu tình của công dân được thực hiện do lỗi cố ý, có thể là lỗi cố ý gián tiếp hoặc cố ý trực tiếp.

Người phạm tội nhận thức rõ hành vi xâm phạm quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tiếp cận thông tin, quyền biểu tình của công dân là trái pháp luật, thấy trước được hậu quả của hành vi đó và mong muốn hậu quả xảy ra hoặc nhận thức rõ hành vi của mình là trái pháp luật, thấy trước hậu quả của hành vi đó có thể xảy ra, tuy không mong muốn nhưng vẫn có ý thức để mặc cho hậu quả xảy ra.

Động cơ

Người phạm tội xâm phạm quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tiếp cận thông tin, quyền biểu tình của công dân có nhiều động cơ khác nhau; động cơ không phải là dấu hiệu bắt buộc của tội phạm này, nên việc xác định động cơ phạm tội của người phạm tội chỉ có ý nghĩa trong việc quyết định hình phạt.

Mục đích

Mục đích của người phạm tội là mong muốn quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tiếp cận thông tin, quyền biểu tình của công dân bị xâm phạm.

Cấu thành tội phạm của tội xâm phạm quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí
Cấu thành tội phạm của tội xâm phạm quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí

Mặt khách quan tội xâm phạm quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí

Mặt khách quan của tội phạm thể hiện ở hành vi nào dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực hoặc dùng thủ đoạn khác cản trở công dân thực hiện quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tiếp cận thông tin, quyền biểu tình của công dân.

Hành vi dùng vũ lực

Dùng vũ lực trong tội xâm phạm quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tiếp cận thông tin, quyền biểu tình công dân cũng tương tự với hành vi dùng vũ lực ở một số tội phạm khác mà người phạm tội có dùng vũ lực, nhưng ở tội xâm phạm quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tiếp cận thông tin, quyền biểu tình của công dân, hành vi dùng vũ lực là nhằm cản trở không cho công dân được tự do ngôn luận, tự do báo chí hoặc không cho công dân được tiếp cận thông tin hay biểu tình. Hành vi này, thông thường là làm thế nào để không cho công dân thực hiện các quyền trên như: đánh, đấm, trói, lừa lọc, che giấu thông tin…

Những hành vi này chủ yếu làm tê liệt sự kháng cự của người bị hại để bị hại không thể bày tỏ mong muốn của mình hay tiếp cận thông tin mình quan tâm.

Đe doạ dùng vũ lực

Là hành vi của một người dùng lời nói hoặc hành động uy hiếp tinh thần của người khác, làm cho người bị đe dọa sợ hãi như: dọa giết, dọa đánh, dọa bắn… làm cho người bị hại sợ dẫn đến không thể tự do ngôn luận, tự do báo chí, tiếp cận thông tin, hay biểu tình.

Người phạm tội có thể đe dọa dùng vũ lực trực tiếp với nạn nhân như dọa giết nạn nhân,… nhưng cũng có thể đe dọa sẽ dùng vũ lực với người thân thích, người mà nạn nhân quan tâm nếu nạn nhân ko làm theo ý muốn của người phạm tội,…

Đã bị xử lý kỷ luật hoặc xử phạt vi phạm hành chính

Đã bị xử lý kỷ luật về hành vi này mà còn vi phạm là trước đó đã có lần xâm phạm quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tiếp cận thông tin, quyền biểu tình của công dân, đã bị xử lý bằng một trong những hình thức kỷ luật theo quy định của Nhà nước hoặc theo quy định trong Điều lệ của tổ chức và chưa hết thời hạn được xóa kỷ luật, nay lại có hành vi xâm phạm quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tiếp cận thông tin, quyền biểu tình của công dân.

Nếu trước đó người phạm tội tuy có bị xử lý kỷ luật, nhưng về hành vi khác không phải là hành vi xâm phạm quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tiếp cận thông tin, quyền biểu tình của công dân thì cũng không cấu thành tội phạm này.

Đã bị xử phạt hành chính về hành vi này mà còn vi phạm là trước đó đã có lần xâm phạm quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tiếp cận thông tin, quyền biểu tình của công dân, đã bị xử phạt hành chính bằng một trong những hình thức xử phạt hành chính hoặc bằng một trong những hình thức xử lý hành chính khác theo quy định của Luật Xử phạt vi phạm hành chính và chưa hết thời hạn được coi là chưa bị xử lý hành chính, nay lại có hành vi xâm phạm quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tiếp cận thông tin, quyền biểu tình của công dân.

Nếu trước đó người phạm tội tuy có bị xử lý hành chính, nhưng về hành vi khác không phải là hành vi xâm phạm quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tiếp cận thông tin, quyền biểu tình của công dân thì cũng không cấu thành tội phạm này.

Khi xem xét để định tội danh, bạn phải xem xét kỹ các dấu hiệu cấu thành tội phạm. Nếu không có đủ các yếu tố trên sẽ không phải chịu các hình phạt được quy định tại Điều 167 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Nếu cần hỗ trợ để biết trường hợp của bạn hay người thân của bạn có đủ yếu tố cấu thành tội phạm hay không, bạn có thể liên hệ cho chúng tôi qua Tổng đài 19006588.


Cơ sở pháp lý

  • Bộ luật Hình sự 2015 sửa đổi, bổ sung 2017

Trên đây là toàn bộ nội dung về vấn đề xoay quanh hình phạt áp dụng cho tội xâm phạm quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí theo quy định hiện hành.

Qua bài viết này chúng tôi mong rằng sẽ giúp bạn nắm được rõ về chủ đề này.

Luật Quang Huy là công ty có kinh nghiệm không chỉ trong việc tư vấn pháp luật Hình sự mà còn có bề dày kinh nghiệm trong vai trò là Luật sư biện hộ cho nhiều vụ án Hình sự trong cả nước.

Nếu còn điều gì chưa rõ, cần hỗ trợ, các bạn có thể liên hệ tới Tổng đài tư vấn pháp luật hình sự trực tuyến của Luật Quang Huy qua HOTLINE 19006588.

Trân trọng./.


 

Hãy chia sẻ bài viết này vì nó hữu ích và hoàn toàn miễn phí bạn nhé!

guest
0 Comments
Inline Feedbacks
View all comments
phone-call

HỎI ĐÁP QUA ĐIỆN THOẠI

Scroll to Top