Tội vu khống có thể bị phạt tù đến 7 năm

Tội vu khống có thể bị phạt tù đến 7 năm

Thế nào là vu khống?

Tội vu khống được quy định như thế nào?

Nếu phạm tội vu khống có thể phải chịu mức hình phạt ra sao?

Bài viết dưới đây, Luật Quang Huy sẽ hướng dẫn bạn tìm hiểu Quy định pháp luật về tội vu khống để bạn có thể tham khảo.


Tội vu khống là gì?

Tội vu khống là hành vi nguy hiểm cho xã hội biểu hiện thông qua việc bịa đặt hoặc lan truyền những điều biết rõ là sai sự thật nhằm xúc phạm nghiêm trọng nhân phẩm, danh dự hoặc gây thiệt hại đến quyền, lợi ích hợp pháp của người khác; bịa đặt người khác phạm tội và tố cáo họ trước cơ quan có thẩm quyền.


Hình phạt tội vu khống

Hình phạt chính tội vu khống

Phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 02 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 01 năm

Bạn sẽ bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 02 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 01 năm nếu thực hiện một trong các hành vi sau:

  • Bịa đặt hoặc loan truyền những điều biết rõ là sai sự thật nhằm xúc phạm nghiêm trọng nhân phẩm, danh dự hoặc gây thiệt hại đến quyền, lợi ích hợp pháp của người khác
  • Bịa đặt người khác phạm tội và tố cáo họ trước cơ quan có thẩm quyền

Phạt tù từ 01 năm đến 03 năm

Bạn sẽ bị phạt tù từ 01 năm đến 03 năm nếu phạm tội vu khống thuộc một trong các trường hợp:

  • Có tổ chức;
  • Lợi dụng chức vụ, quyền hạn;
  • Đối với 02 người trở lên;
  • Đối với ông, bà, cha, mẹ, người dạy dỗ, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục, chữa bệnh cho mình;
  • Đối với người đang thi hành công vụ;
  • Sử dụng mạng máy tính hoặc mạng viễn thông, phương tiện điện tử để phạm tội;
  • Gây rối loạn tâm thần và hành vi của nạn nhân mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31% đến 60%;
  • Vu khống người khác phạm tội rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng.
Tội vu khống có thể bị phạt tù đến 7 năm
Tội vu khống có thể bị phạt tù đến 7 năm

Phạt tù từ 03 năm đến 07 năm

Bạn sẽ bị phạt tù từ 03 năm đến 07 năm nếu phạm tội vu khống thuộc một trong các trường hợp sau:

  • Vì động cơ đê hèn;
  • Gây rối loạn tâm thần và hành vi của nạn nhân mà tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên;
  • Làm nạn nhân tự sát.

Dựa theo quy định trên, có thể thấy, tội vu khống trường hợp không gây thiệt hại cho người bị hại, không lạm dụng chức vụ quyền hạn hay xúc phạm người có công nuôi dưỡng, giáo dục, chăm sóc với mình, chưa gây hậu quả trầm trọng cho xã hội v.v có thể không phải chịu hình phạt tù mà có thể chỉ bị phạt tiền hoặc cải tạo không giam giữ.

Việc quyết định hình phạt ngoài việc xác định cách thức hành vi phạm tội thực hiện ra sao, động cơ phạm tội hay hậu quả thực tế xảy ra, nạn nhân của tội phạm,…

Toà án còn phụ thuộc vào các tình tiết tăng nặng, tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại Điều 51, Điều 52 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Bên cạnh đó, nhân thân người phạm tội hay hoàn cảnh của họ (phụ nữ có thai, người đủ 70 tuổi trở lên, hoàn cảnh đặc biệt khó khăn mà không phải do mình gây ra, người phạm tội bị đe dọa, cưỡng bức,…) cũng sẽ là một trong những yếu tố liên quan đến việc quyết định mức phạt đối với người phạm tội.

Do vậy, ví dụ, người phạm tội tuy có gây thiệt hại ở khung hình phạt cao nhưng có tình tiết giảm nhẹ hay nhân thân tốt, trước đó chưa phạm tội lần nào, thành thật khai báo, khắc phục thiệt hại xảy ra hoặc là cha, mẹ, vợ, chồng, con của liệt sĩ thì Toà án có thể xem xét để giảm nhẹ hình phạt ở khung thấp hơn.

Để xác định được các tình tiết có lợi hay bất lợi cho người phạm tội, xác định được mức phạt cụ thể nhất, bạn nên tìm đến những Luật sư uy tín, có thâm niên, điển hình như Luật Quang Huy.

Tại Luật Quang Huy, các Luật sư đa phần đều từng là Thẩm phán với kinh nghiệm nhiều năm xét xử cũng đã từng là Luật sư biện hộ cho nhiều vụ án hình sự.

Để được hỗ trợ nhanh nhất, bạn hãy liên hệ cho chúng tôi qua Tổng đài 19006588.

Hình phạt bổ sung tội vu khống

Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm.


Cấu thành tội phạm tội vu khống

Mặt khách quan tội vu khống

Về hành vi: người phạm tội vu khống khi có một trong các hành vi sau:

  • Bịa đặt nhằm xúc phạm nghiêm trọng nhân phẩm, danh dự hoặc gây thiệt hại đến quyền, lợi ích hợp pháp của người khác

Bịa đặt là tự nghĩ ra một điều gì đó mà không có đối với người khác như: không lạm dụng chức vụ quyền hạn thì tố cáo là lạm dụng chức vụ quyền hạn, không quan hệ bất chính lại tố cáo là quan hệ bất chính, không hiếp dâm thì lại tố cáo là hiếp dâm, người đã tốt nghiệp đại học, đã bảo vệ luận văn thạc sĩ, tiến sĩ nhưng lại tố cáo họ là bằng giả,…

Việc từ không nói có này sẽ gây ảnh hưởng đến nhân phẩm, danh dự hoặc gây thiệt hại đến quyền, lợi ích hợp pháp của người bị vu khống khi mà ngày nay dư luận xã hội ngày càng lớn, việc ảnh hưởng đến uy tín sẽ gây thiệt hại không nhỏ đến tài sản của người bị vu khống chẳng hạn như bị mất việc, thiếu sự tin tưởng của người khác nên mất hợp đồng kinh tế,…

Hình thức để đưa ra những thông tin nói trên có thể dưới các dạng khác nhau như: Nói trực tiếp, thông qua phương tiện thông tin đại chúng hoặc các phương thức khác (nhắn tin qua điện thoại di động)

  • Loan truyền những điều biết rõ là sai sự thật nhằm xúc phạm nghiêm trọng nhân phẩm, danh dự hoặc gây thiệt hại đến quyền, lợi ích hợp pháp của người khác

Tuy người phạm tội không bịa đặt, nhưng lại loan truyền những điều biết rõ là bịa đặt.

Việc loan truyền này có thể bằng nhiều hình thức khác nhau như: sao chép làm nhiều bản gửi đi nhiều nơi, kể lại cho người khác nghe, đăng tin, bài trên các phương tiện thông tin đại chúng, đăng bài trên các trang mạng xã hội,.v.v.

Hành vi này có thể gây khó khăn trong quá trình tư pháp vì nếu vẫn còn bán tín bán nghi thì người lan truyền có thể chưa phạm tội vu khống nên để xác minh được việc người loan truyền “biết rõ” điều loan truyền là sai sự thật đòi hỏi quá trình thẩm vấn nghiêm ngặt trong quá trình tố tụng.

  • Bịa đặt là người khác phạm tội và tố cáo họ trước cơ quan có thẩm quyền

Đây là hành vi tố cáo trước cơ quan nhà nước có thẩm quyền (Công an, Viện kiểm sát…) về một người khác phạm tội mà hoàn toàn không có thực.

Trong trường này cần lưu ý là người phạm tội biết rõ người mình tố giác không có hành vi phạm tội nhưng vẫn tố giác.

Ở đây vẫn phải nhấn mạnh tính “biết rõ” của người thực hiện hành vi vu khống bởi trên thực tế tùy vào từng trường hợp mà xác định người đó phạm tội vu khống hay khai báo gian dối.

Xác định nguyên nhân người đó biết rõ do là người trong cuộc hay nghe đồn đoán từ nhiều nguồn bên ngoài vì nhiều khi thông tin được nhiều người biết đến chưa chắc đã là thông tin chính xác.

Người tố cáo lúc này có thể bị xử lý bởi chế tài khác.

Cấu thành tội phạm tội vu khống
Cấu thành tội phạm tội vu khống

Người thực hiện hành vi vu khống nhưng không bị nạn nhân yêu cầu trừng trị, nói cách khác là không có đơn yêu cầu khởi tố hình sự của bị hại hoặc bị hại đã nộp đơn nhưng rút đơn thì không được coi là phạm tội vu khống.

Người bị hại phải là cá nhân, không phải pháp nhân.

Về hậu quả: Tội vu khống không bắt buộc phải gây ra hậu quả trên thực tế. Vậy nên chúng ta cũng không xét đến mối quan hệ nhân quả giữa hành vi và hậu quả phạm tội.

Mặt chủ quan tội vu khống

Cần phải nhấn mạnh rằng: người phạm tội vu khống đã “biết rõ” thông tin là sai sự thật nhưng vẫn lan truyền và bịa đặt. Do vậy, người phạm tội vu khống thực hiện hành vi với lỗi cố ý.

Người phạm tội hoàn toàn nhận thức rõ được hậu quả xâm hại danh dự nhân phẩm của nạn nhân, thậm chí xâm phạm đến quyền, lợi ích hợp pháp của nạn nhân nhưng vẫn cố tình thực hiện để mong muốn hậu quả xảy ra.

Động cơ phạm tội có thể do thù oán cá nhân, giữa người phạm tội và nạn nhân có thể từng xảy ra xích mích dẫn đến căm ghét nhau, người phạm tội chỉ mong muốn nạn nhân bị mọi người nghĩ xấu.

Khách thể tội vu khống

Tội vu khống xâm phạm danh dự, nhân phẩm, quyền và lợi ích hợp pháp của con người.

Như vậy, khách thể của tội vu khống là quyền được Nhà nước bảo hộ về danh dự nhân phẩm của con người và các quyền, lợi ích hợp pháp của người bị xâm hại.

Chủ thể tội vu khống

Chủ thể của tội vu khống là người từ 16 tuổi trở lên, có năng lực trách nhiệm hình sự.

Bởi Khoản 2 Điều 12 đã liệt kê các tội phạm mà người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi phải chịu trách nhiệm hình sự nhưng không bao gồm tội phạm vu khống.

Chủ thể của tội vu khống phải là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự bao gồm năng lực nhận thức và năng lực làm chủ hành vi của mình.

Khi xem xét để định tội danh, bạn phải xem xét kỹ các dấu hiệu cấu thành tội phạm. Nếu không có đủ các yếu tố trên sẽ không phải chịu các hình phạt được quy định tại Điều 156 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Nếu cần hỗ trợ để biết trường hợp của bạn hay người thân của bạn có đủ yếu tố cấu thành tội vu khống hay không, bạn có thể liên hệ cho chúng tôi qua Tổng đài 19006588.


Cơ sở pháp lý

  • Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Bài viết trên đây của chúng tôi là hướng dẫn cho bạn đọc cách xác định mức phạt cũng như cấu thành tội phạm của tội vu khống.

Luật Quang Huy là công ty có kinh nghiệm không chỉ trong việc tư vấn pháp luật Hình sự mà còn có bề dày kinh nghiệm trong vai trò là Luật sư biện hộ cho nhiều vụ án Hình sự trong cả nước.

Nếu bài viết chưa giải đáp được toàn bộ thắc mắc hay cần hỗ trợ, bạn hãy liên hệ trực tiếp tới Tổng đài tư vấn luật Hình sự trực tuyến qua Hotline 19006588 của Luật Quang Huy.

Trân trọng./.


 

Hãy chia sẻ bài viết này vì nó hữu ích và hoàn toàn miễn phí bạn nhé!

phone-call

HỎI ĐÁP QUA ĐIỆN THOẠI

Scroll to Top