Hình phạt áp dụng cho tội ra quyết định trái pháp luật

Hình phạt áp dụng cho tội ra quyết định trái pháp luật

Hình phạt áp dụng đối với tội ra quyết định trái pháp luật

Bạn đang thắc mắc thế nào được coi là ra quyết định trái pháp luật? Hình phạt của tội ra quyết định trái pháp luật được quy định như thế nào? Cấu thành tội phạm của tội này gồm các yếu tố như thế nào?

Nếu bạn đang quan tâm, tìm hiểu hay nghiên cứu đến quy định pháp luật về tội ra quyết định trái pháp luật thì hy vọng viết dưới đây của Luật Quang Huy sẽ cung cấp đầy đủ đến bạn thông tin về vấn đề này để bạn có thể tham khảo.


Thế nào là ra quyết định trái pháp luật?

Ra quyết định trái pháp luật, được hiểu là hành vi của người có thẩm quyền trong hoạt động điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án ký và ban hành quyết định mà biết rõ là quyết định đó áp dụng không đúng với quy định pháp luật (được áp dụng để giải quyết vụ án đó).


Hình phạt áp dụng đối với tội ra quyết định trái pháp luật

Hình phạt chính

Theo quy định tại Điều 371 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 thì hình phạt chính của tội ra quyết định trái pháp luật là phạt tù có thời hạn và phạt cải tạo không giam giữ.

Thời hạn của hình phạt sẽ phụ thuộc vào vào thiệt hại về tài sản, mức độ nghiêm trọng hay tình tiết khác nhau của vụ án.

Cụ thể:

Phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm

Người nào có thẩm quyền trong hoạt động tố tụng, thi hành án ra quyết định mà mình biết rõ là trái pháp luật gây thiệt hại về tài sản từ 50.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng hoặc gây thiệt hại đến lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân, nếu không thuộc trường hợp quy định tại các Điều 368 (Tội truy cứu trách nhiệm hình sự người không có tội), 369 (Tội không truy cứu trách nhiệm hình sự người có tội), 370 (Tội ra bản án trái pháp luật), 377 (Tội lợi dụng chức vụ, quyền hạn bắt, giữ, giam người trái pháp luật) và 378 (Tội tha trái pháp luật người bị bắt, người đang bị tạm giữ, tạm giam, người đang chấp hành án phạt tù) của Bộ luật này, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm

Phạt tù từ 02 năm đến 07 năm.

Người nào phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm:

  • Có tổ chức;
  • Phạm tội 02 lần trở lên;
  • Đối với người dưới 18 tuổi, phụ nữ mà biết là có thai, người già yếu;
  • Gây rối loạn tâm thần và hành vi của người bị bắt, người bị tạm giữ, bị can, bị cáo, người bị kết án, người phải chấp hành án, người bị hại, đương sự mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31% đến 60%;
  • Gây thiệt hại về tài sản từ 200.000.000 đồng đến dưới 1.000.000.000 đồng;
  • Gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội.

Phạt tù từ 07 năm đến 12 năm

Người nào phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 12 năm:

  • Gây rối loạn tâm thần và hành vi của người bị bắt, người bị tạm giữ, bị can, bị cáo, người bị kết án, người phải chấp hành án, người bị hại, đương sự mà tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên;
  • Dẫn đến người bị bắt, người bị tạm giữ, bị can, bị cáo, người bị kết án, người phải chấp hành án, người bị hại, đương sự tự sát;
  • Gây thiệt hại về tài sản 1.000.000.000 đồng trở lên.

Dựa theo quy định trên, người có hành vi phạm tội ra quyết định trái pháp luật có thể phải chịu hình phạt tù từ 06 tháng đến 12 năm hoặc phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm. Bên cạnh việc có hành vi gây thiệt hại về tài sản từ 50.000.000 đồng hoặc gây thiệt hại đến lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân thì nếu người phạm tội không vi phạm thuộc trường hợp sau đây thì mới phải chịu hình phạt dành cho tội danh ra quyết định trái pháp luật:

  • Truy cứu trách nhiệm hình sự người không có tội.
  • Không truy cứu trách nhiệm hình sự người có tội.
  • Ra bản án trái pháp luật.
  • Lợi dụng chức vụ, quyền hạn bắt, giữ, giam người trái pháp luật.
  • Tha trái pháp luật người bị bắt, người đang bị tạm giữ, tạm giam, người đang chấp hành án phạt tù.
Hình phạt áp dụng đối với tội ra quyết định trái pháp luật
Hình phạt áp dụng đối với tội ra quyết định trái pháp luật

Việc quyết định hình phạt ngoài việc xác định có hậu quả thiệt hại về tài sản cụ thể hoặc phải chứng minh thực tế có thiệt hại đến lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của cá nhân thì thẩm phán còn phụ thuộc vào các tình tiết tăng nặng, tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại Điều 51, Điều 52 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Bên cạnh đó, nhân thân người phạm tội hay hoàn cảnh của họ (người phạm tội là người có thành tích xuất sắc trong sản xuất, chiến đấu, học tập hoặc công tác, phạm tội trong trường hợp bị kích động về tinh thần do hành vi trái pháp luật của nạn nhân gây ra; phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, người phạm tội bị đe dọa, cưỡng bức,…) cũng sẽ là một trong những yếu tố liên quan đến việc quyết định mức phạt đối với người phạm tội.

Cũng chính vì vậy mà nếu hành vi của người phạm tội ra quyết định trái pháp luật vi phạm ở khung hình phạt cao nhưng có tình tiết giảm nhẹ hay nhân thân tốt, trước đó chưa phạm tội lần nào, thành thật khai báo, khắc phục thiệt hại xảy ra hoặc là cha, mẹ, vợ, chồng, con của liệt sĩ thì Toà án có thể xem xét để giảm nhẹ hình phạt ở khung thấp hơn.

Để xác định được các tình tiết có lợi hay bất lợi cho người phạm tội, xác định được mức phạt cụ thể nhất, bạn nên tìm đến những Luật sư uy tín, có thâm niên, điển hình như Luật Quang Huy.

Tại Luật Quang Huy, các Luật sư đa phần đều từng là Thẩm phán với kinh nghiệm nhiều năm xét xử cũng đã từng là Luật sư biện hộ cho nhiều vụ án hình sự.

Để được hỗ trợ nhanh nhất, bạn hãy liên hệ cho chúng tôi qua Tổng đài 19006588.

Hình phạt bổ sung

Người phạm tội còn bị cấm đảm nhiệm chức vụ nhất định từ 01 năm đến 05 năm.


Cấu thành tội phạm của tội ra quyết định trái pháp luật

Chủ thể tội ra quyết định trái pháp luật

Chủ thể của tội ra quyết định trái pháp luật là chủ thể đặc biệt, là dấu hiệu rất dễ phân biệt so với các nhóm tội phạm khác. Ngoài phải thỏa mãn điều kiện là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự và từ đủ 16 tuổi trở lên thì họ là những người tiến hành tố tụng và người có thẩm quyền về thi hành án sau đây: Thủ trưởng cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện trưởng, Phó Viện trưởng Viện kiểm sát, Kiểm sát viên, Thủ trưởng cơ quan thi hành án, Chấp hành viên, Chánh án, Phó Chánh án, Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân,…

Nếu người có chức vụ, quyền hạn nhưng không phải là người có thẩm quyền trong hoạt động điều tra truy tố, xét xử, thi hành án mà ra lệnh cho người có thẩm quyền trong hoạt động điều tra truy tố, xét xử, thi hành án ra quyết định trái pháp luật thì tùy trường hợp mà họ có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội ép buộc người có thẩm quyền trong hoạt động tư pháp làm trái pháp luật về tội lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành công vụ. Những người có thẩm quyền trong hoạt động điều tra truy tố, xét xử, thi hành án vẫn bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội ra quyết định trái pháp luật.

Khách thể tội ra quyết định trái pháp luật

Khách thể của tội phạm là quan hệ xã hội được pháp luật hình sự bảo vệ và bị hành vi phạm tội xâm hại. Khách thể của tội phạm là yếu tố phản ánh rõ rệt nhất bản chất nguy hiểm cho xã hội của từng loại tội phạm cụ thể.

Cũng giống như các tội xâm phạm hoạt động tư pháp khác, khách thể bị xâm hại của tội phạm ra quyết định trái pháp luật là các quan hệ xã hội trong lĩnh vực tố tụng như hoạt động điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án nhằm đảm bảo cho các cơ quan này thực hiện đúng chức năng, nhiệm vụ của mình.

Tội ra quyết định trái pháp luật không chỉ xâm phạm đến lợi ích Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, công dân, mà còn ảnh hưởng đến quá trình giải quyết vụ án, xâm phạm đến hoạt động bình thường của Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án và cơ quan thi hành án, làm mất uy tín của các cơ quan tiến hành tố tụng và Cơ quan thi hành án.

Đối tượng tác động của tội phạm này là những quyết định trái pháp luật của những người có thẩm quyền trong hoạt động điều tra truy tố, xét xử, thi hành án như: quyết định thu giữ đồ vật, tài liệu; quyết định xử lý vật chứng; quyết định việc giữ khẩn cấp; quyết định áp dụng, thay đổi hoặc hủy bỏ biện pháp ngăn chặn; quyết định kê biên tài sản; quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời; quyết định thi hành án…Những hành vi phạm tội xâm phạm hoạt động tư pháp đồng thời còn xâm phạm đến nhiều quan hệ xã hội khác được luật hình sự bảo vệ như quan hệ nhân thân, quan hệ sở hữu, các quan hệ xã hội khác. Hơn thế nữa các hành vi phạm tội này còn ảnh hưởng xấu đến uy tín của các cơ quan bảo vệ pháp luật, hạn chế hiệu quả đấu tranh, phòng chống tội phạm cũng như các hành vi vi phạm pháp luật khác.

Cấu thành tội phạm của tội ra quyết định trái pháp luật
Cấu thành tội phạm của tội ra quyết định trái pháp luật

Mặt chủ quan tội ra quyết định trái pháp luật

Mặt chủ quan của tội phạm là thái độ tâm lý bên trong của người phạm tội khi thực hiện tội phạm. Các dấu hiệu chủ quan của tội phạm gồm: lỗi, động cơ, mục đích phạm tội.

Người phạm tội ra quyết định trái pháp luật thực hiện hành vi phạm tội của mình là do cố ý (cố ý trực tiếp), tức là người phạm tội nhận thức rõ việc ra quyết định của mình được áp dụng để giải quyết các loại án hoặc thi hành án là trái pháp luật, thấy trước hậu quả của hành vi đó và mong muốn hậu quả xảy ra. Đây là dấu hiệu cấu thành cơ bản của tội này.

Tuy điều luật không quy định động cơ là dấu hiệu bắt buộc của cấu thành tội phạm này nhưng việc xác định động cơ của người phạm tội rất cần thiết. Căn cứ vào động cơ phạm tội mà có thể xác định người phạm tội có biết rõ quyết định của mình có trái pháp luật hay không.

Trên thực tế, người phạm tội ít khi thừa nhận là cố ý hoặc biết rõ là trái pháp luật nhưng vẫn ban hành quyết định trái pháp luật; để chứng minh được người phạm tội biết rõ là trái pháp luật, phải đánh giá toàn diện về trình độ, kinh nghiệm của người ra quyết định; tính chất, mức độ sai phạm.

Nếu việc ra quyết định trái pháp luật do trình độ nghiệp vụ hạn chế hoặc do thiếu trách nhiệm thì có thể bị xử lý hành chính, nếu gây hậu quả nghiêm trọng có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự về Tội thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng.

Nếu người có thẩm quyền ra quyết định và biết rõ là trái pháp luật nhưng vì chấp hành chỉ thị của cấp trên thì tùy trường hợp mà người ra quyết định trái pháp luật vẫn bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội ra quyết định trái pháp luật, còn người ra chỉ thị (ra lệnh) có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành công vụ hoặc đồng phạm với người ra quyết định trái pháp luật.

Nếu người có thẩm quyền nhận hối lộ mà ra quyết định trái pháp luật thì ngoài tội ra quyết định trái pháp luật còn bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội nhận hối lộ –  Điều 354 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Mặt khách quan tội ra quyết định trái pháp luật

Hành vi khách quan

Mặt khách quan của tội phạm bao gồm những biểu hiện của tội phạm diễn ra hoặc tồn tại bên ngoài thế giới khách quan gồm: hành vi khách quan của tội phạm, hậu quả của tội phạm, mối quan hệ nhân quả giữa hành vi khách quan và hậu quả của tội phạm, công cụ, phương tiện phạm tội và các dấu hiệu khách quan khác. Trong các dấu hiệu nổi trên, hành vi khách quan là dấu hiệu bắt buộc của mọi tội phạm.

Mặt khách quan của tội ra quyết định trái pháp luật là việc ban hành quyết định trái pháp luật, thông thường bằng văn bản, dưới hình thức là quyết định mà biết rõ là trái pháp luật và hành vi trái pháp luật đó phải gây hậu quả là thiệt hại về tài sản từ 50.000.000 đồng hoặc gây thiệt hại đến lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân.

Hành vi ra quyết định trái pháp luật có thể bằng một quyết định trái pháp luật, nhưng có trường hợp lại thể hiện bằng nhiều hành vi trái pháp luật trước đó, như: Lập biên bản xác minh, biên bản họp khống… để ra quyết định trái pháp luật sau đó.

Việc ra quyết định trái pháp luật có thể được thực hiện khi vụ án, vụ việc đang trong quá trình giải quyết (quyết định tạm dừng, quyết định trả tài sản, vật chứng, kê biên tài sản, áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời…) nhưng cũng có trường hợp là quyết định chấm dứt tố tụng đối với vụ án, vụ việc đó (quyết định đình chỉ vụ án).

Hậu quả

Hậu quả gây thiệt hại cho lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức và công dân là dấu hiệu cấu thành bắt buộc của tội này. Nếu hành vi ra quyết định trái pháp luật chưa gây thiệt hại cho lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, công dân thì chưa cấu thành tội phạm này, mà tùy trường hợp người có hành vi có thể chỉ bị xử lý hành chính.

Thiệt hại bao gồm thiệt hại về vật chất và thiệt hại về tinh thần:

  • Thiệt hại về vật chất: thiệt hại về tài sản từ 50.000.000 đồng hoặc gây thiệt hại đến quyền, lợi ích hợp pháp của Nhà nước, tổ chức, cá nhân như làm thất thoát tài sản Nhà nước, làm mất tài sản của tổ chức, cá nhân…
  • Thiệt hại về tinh thần (chỉ đối với cá nhân): Như xâm phạm nghiêm trọng danh dự, uy tín, nhân phẩm và các quyền khác của công dân (quyền tự do đi lại, quyền bất khả xâm phạm về thân thể…).

Các dấu hiệu khách quan khác

Đối với tội ra quyết định trái pháp luật ngoài hành vi khách quan, nhà làm luật còn quy định một dấu hiệu khách quan rất quan trọng, đó là tính trái pháp luật của quyết định mà người có thẩm quyền đã ra.

Một quyết định bị coi là trái pháp luật là quyết định có nội dung không đúng với quy định của pháp luật. Khi xác định tính trái pháp luật của quyết định mà người có thẩm quyền trong hoạt động điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án ban hành cần phải xem xét cả nội dung và hình thức của quyết định. Nếu một người không có thẩm quyền trong hoạt động điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án mà lại ra quyết định có liên quan đến hoạt động điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án thì quyết định đó tuy trái pháp luật nhưng người ra quyết định đó không phạm tội ra quyết định trái pháp luật mà tùy trường hợp bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội lạm quyền hoặc tội lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành công vụ.

Như vậy tính trái pháp luật của quyết định là đối tượng của tội phạm này chỉ là những quyết định trái pháp luật có liên quan đến hoạt động điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án.

Tính trái pháp luật được biểu hiện không chỉ trái pháp luật về nội dung của quyết định mà còn trái pháp luật cả về hình thức của quyết định đó. Tuy nhiên, người phạm tội ra quyết định trái pháp luật chủ yếu là trái pháp luật về nội dung, còn về hình thức rất ít trường hợp người phạm tội để sai, vì nếu vi phạm về hình thức quyết định thì dễ bị phát hiện, mà người phạm tội đã chủ định ra quyết định trái pháp luật thì bao giờ cũng bằng cách này hay cách khác che giấu hành vi phạm tội của mình.

Cấu thành tội phạm phải có đầy đủ 4 yếu tố, đó là: khách thể, chủ thể, mặt khách quan và mặt chủ quan của tội phạm. Nếu một trong 4 yếu tố đó không thỏa mãn thì hành vi không cấu thành tội phạm. Cấu thành tội phạm có ý nghĩa quan trọng để truy cứu trách nhiệm hình sự, định tội danh, định khung hình phạt.

Nếu cần tư vấn cụ thể hơn về cấu thành tội phạm tội ra quyết định trái pháp luật, đừng ngần ngại, hãy liên hệ ngay cho Luật Quang Huy qua Tổng đài 19006588.


Cơ sở pháp lý

  • Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Bài viết trên đây của chúng tôi là hướng dẫn cho bạn đọc về vấn đề hình phạt cho tội ra quyết định trái pháp luật theo Điều 371 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Luật Quang Huy là công ty có kinh nghiệm không chỉ trong việc tư vấn pháp luật Hình sự mà còn có bề dày kinh nghiệm trong vai trò là Luật sư biện hộ cho nhiều vụ án Hình sự trong cả nước.

Nếu bài viết chưa giải đáp được toàn bộ thắc mắc hay cần hỗ trợ, bạn hãy liên hệ trực tiếp tới Tổng đài tư vấn luật Hình sự trực tuyến qua Hotline 19006588 của Luật Quang Huy.

Trân trọng./.


 

Hãy chia sẻ bài viết này vì nó hữu ích và hoàn toàn miễn phí bạn nhé!

Đánh giá
Tác giả bài viết
G

ĐẶT 1 CÂU HỎI MIỄN PHÍ!