Tội giết người có những hình phạt gì?

Tội giết người

Con người có quyền được tôn trọng và bảo vệ tính mạng, sức khỏe. Vì vậy người xâm phạm đến quyền này sẽ bị xử lý theo quy định của pháp luật.

Vậy hành vi giết người sẽ bị xử phạt như thế nào? Các yếu tố nào cấu thành tội giết người?

Bài viết dưới đây của Luật Quang Huy sẽ làm rõ hơn về vấn đề này.


Hình phạt nào áp dụng tội giết người?

Hình phạt chính

Phạt tù từ 12 năm đến 20 năm, tù chung thân hoặc tử hình

Hình phạt này sẽ áp dụng cho những người có hành vi giết người thuộc một trong các trường hợp sau đây:

  • Giết 02 người trở lên;
  • Giết người dưới 16 tuổi;
  • Giết phụ nữ mà biết là có thai;
  • Giết người đang thi hành công vụ hoặc vì lý do công vụ của nạn nhân:

Đây là trường hợp giết người mà nạn nhân là người đang thi hành công vụ. Có thể hiểu nạn nhân là người đang thực hiện nhiệm vụ do cơ quan nhà nước giao. Ví dụ: kiểm lâm bảo vệ rừng; cảnh sát bảo vệ trật tự công cộng;…

Giết người vì lý do công vụ của nạn nhân là trường hợp giết người mà động cơ là để không cho nạn nhân thi hành công vụ hay giết nạn nhân để trả thù việc nạn nhân đã thi hành công vụ.

Tính nguy hiểm của những trường hợp giết người này ở chỗ không chỉ xâm phạm đến tính mạng con người mà còn xâm phạm nghiêm trọng trật tự công cộng, cản trở hoạt động chung của xã hội gây ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự, trị an.

  • Giết ông, bà, cha, mẹ, người nuôi dưỡng, thầy giáo, cô giáo của mình;
  • Giết người mà liền trước đó hoặc ngay sau đó lại thực hiện một tội phạm rất nghiêm trọng hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng:

Việc liên tiếp phạm tội như vậy chứng tỏ người phạm tội có ý thức phạm tội. Điều này không chỉ làm tăng tính nguy hiểm của hành vi phạm tội giết người mà còn phản ánh khả năng cải tạo, giáo dục của người phạm tội.

Ví dụ muốn che giấu tội trộm cắp tài sản mà mình đã thực hiện có nguy cơ bị lộ nên đã giết người để bịt đầu nối.

  • Để lấy bộ phận cơ thể của nạn nhân:

Đây là trường hợp giết người mà động cơ phạm tội là việc chiếm đoạt bộ phận cơ thể của nạn nhân cho mình, cho người thân hoặc để trao đổi, mua bán. Có thể coi trường hợp này là giết người vì động cơ đe hèn.

  • Thực hiện tội phạm một cách man rợ:

Hiện nay chưa có quy định cụ thể về hành vi thực hiện tội giết người một cách man rợ. Nên thực tế vẫn áp dụng hướng dẫn tại Nghị quyết số 04/HĐTPTANDTC/NQ ngày 29/11/1986 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao:

Thực hiện tội giết người một cách man rợ như kẻ phạm tội không còn tính người, dùng những thủ đoạn gây đau đớn cao độ, gây khiếp sợ đối với nạn nhân hoặc gây khủng khiếp, rùng rợn trong xã hội (như: móc mắt, xẻo thịt, moi gan, chặt người ra từng khúc…).

  • Bằng cách lợi dụng nghề nghiệp:

Là trường hợp dùng nghề nghiệp của mình để có thể dễ dàng thực hiện hoặc che giấu hành vi giết người. Ví dụ như bác sĩ lợi dụng nghề nghiệp thực hiện hành vi giết bệnh nhân của mình.

  • Bằng phương pháp có khả năng làm chết nhiều người: Ví dụ như dùng chất nổ giết nạn nhân đang ở trong nhà cùng những người khác;
  • Thuê giết người hoặc giết người thuê;
  • Có tính chất côn đồ:

Hiện nay chưa có khái niệm về tình tiết có tính chất côn đồ. Nên thực tế vẫn áp dụng theo hướng dẫn tại công văn số 38/NCPL ngày 6/01/1976 và tại Hội nghị tổng kết công tác ngành năm 1995, Toà án nhân dân tối cao đã giải thích về tình tiết “có tính chất côn đồ” như sau:

Khái niệm côn đồ được hiểu là hành động của những tên coi thường pháp luật, luôn luôn phá rối trật tự trị an, sẵn sàng dùng vũ lực và thích (hay) dùng vũ lực để uy hiếp người khác phải khuất phục mình, vô cớ hoặc chỉ vì một duyên cớ nhỏ nhặt là đâm chém, thậm chí giết người. Hành động của chúng thường là xâm phạm sức khoẻ, tính mạng, danh dự  người khác, gây gổ hành hung người khác một cách vô cớ hoặc vì một duyên cớ nhỏ nhặt…

Tái phạm nguy hiểm được quy định tại Khoản 2 Điều 53 BLHS như sau: Đã bị kết án về tội phạm rất nghiêm trọng, tội phạm đặc biệt nghiêm trọng do cố ý, chưa được xóa án tích mà lại thực hiện hành vi phạm tội về tội phạm rất nghiêm trọng, tội phạm đặc biệt nghiêm trọng do cố ý. Đã tái phạm, chưa được xóa án tích mà lại thực hiện hành vi phạm tội do cố ý.

  • Vì động cơ đê hèn.
Tội giết người
Tội giết người

Phạt tù từ 07 năm đến 15 năm

Mức phạt này sẽ áp dụng cho những người phạm tội giết người nhưng không thuộc các trường hợp nêu trên.

Phạt tù từ 01 năm đến 05 năm

Đối với trường hợp người phạm tội giết người chỉ đang ở giai đoạn chuẩn bị sẽ bị phạt tù với mức trên đây.

người phạm tội giết người chỉ đang ở giai đoạn chuẩn bị sẽ bị phạt tù
người phạm tội giết người chỉ đang ở giai đoạn chuẩn bị sẽ bị phạt tù

Hình phạt bổ sung

Bên cạnh các hình phạt chính, người phạm tội còn có thể bị cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm, phạt quản chế hoặc cấm cư trú từ 01 năm đến 05 năm.

Tội giết người là tội phạm gây nguy hiểm rất lớn cho con người, cho xã hội. Do vậy, hình phạt áp dụng đối với tội phạm này hết sức nghiêm khắc, kể cả trong trường hợp mới chỉ chuẩn bị phạm tội.

Tuy nhiên, ngoài các quy định định khung trên, việc xác định mức phạt của tội phạm này, Toà án còn căn cứ vào các tình tiết tăng nặng, tình tiết giảm nhẹ theo quy định và nhân thân của người phạm tội.

Do vậy, việc xác định hình phạt nếu bạn phạm tội này là điều không hề đơn giản.

Đa phần người phạm tội chỉ xác định khung hình phạt áp dụng cho mình chứ không thể xác định mình sẽ bị áp dụng hình phạt nào, mức phạt cụ thể với mình hoặc trường hợp mình có được áp dụng án treo hay không.

Điều này cần có kiến thức uyên thâm và sự giàu kinh nghiệm của Luật sư, điển hình như các Luật sư của Luật Quang Huy.

Chúng tôi luôn luôn cố gắng vận dụng các quy định pháp luật. kinh nghiệm từng giải quyết các vụ án cụ thể để đưa ra tư vấn chính xác nhất cho khách hàng, đảm bảo quyền lợi khách hàng theo đúng quy định cũng như nguyên tắc hành nghề.

Nếu bạn đang cần hỗ trợ của Luật Quang Huy, đừng ngần ngại, hãy liên hệ cho chúng tôi theo Tổng đài 19006588.


Các yếu tố cấu thành tội giết người

Mặt khách quan của tội giết người

Hành vi

Điều luật không mô tả cụ thể hành vi khách quan của tội giết người. Nhưng có thể hiểu giết người là hành vi tước đoạt trái pháp luật tính mạng người khác.

Đó là hành vi có khả năng gây ra cái chết cho con người, chấm dứt sự sống của họ. Những hành vi không có khả năng này không thể là hành vi khách quan của tội giết người.

Hành vi có khả năng gây ra cái chết cho con người có thể là hành động như đâm, chém, bắn,… Cũng có thể là không hành động. Đó là những trường hợp chủ thể có nghĩa vụ phải hành động, phải làm những việc nhất định để đảm bảo sự an toàn về tính mạng của người khác nhưng họ đã không hành động, không thực hiện những việc làm đó.

Việc không hành động của họ trong những trường hợp này cũng có khả năng gây ra cái chết cho con người. Ví dụ hành động của người mẹ không cho trẻ sơ sinh ăn uống dẫn tới hậu quả là con chết.

Hành vi tước đoạt tính mạng được coi là hành vi khách quan của tội giết người phải là hành vi tước đoạt trái pháp luật tính mạng người khác.

Hành vi tự tước đoạt tính mạng của chính mình không thuộc hành vi khách quan của tội giết người. Những hành vi gây ra cái chết cho người khác được pháp luật cho phép cũng không phải là hành vi khách quan của tội giết người. Ví dụ hành vi tước đoạt tính mạng của người khác trong trường hợp thi hành bản án tử hình.

Hậu quả

Hậu quả của tội phạm được xác định là hậu quả chết người. Như vậy tội giết người chỉ được coi là tội phạm hoàn thành khi có hậu quả chết người.

Nếu hậu quả chết người không xảy ra vì nguyên nhân khách quan thì hành vi phạm tội bị coi là tội giết người chưa đạt (khi lỗi của chủ thể là cố ý trực tiếp) hoặc là tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác theo Điều 134 Bộ luật Hình sự.

Khi lỗi của chủ thể là cố ý gián tiếp và hậu quả thương tích đã xảy ra đủ cấu thành tội phạm này.

Mối quan hệ nhân quả giữa hành vi khách quan và hậu quả chết người

Hành vi giết người phải có mối quan hệ nhân quả với hậu quả chết người. Người có hành vi tước đoạt trái pháp luật tính mạng người khác chỉ phải chịu trách nhiệm hình sự về hậu quả chết người đã xảy ra. Nếu hành vi của họ đã thực hiện là nguyên nhân của hậu quả chết người đã xảy ra đó.

Mặt chủ quan của tội giết người

Lỗi của người phạm tội là lỗi cố ý. Có thể là cố ý trực tiếp hoặc cố ý gián tiếp.

Mặc dù giết người không phải là dấu hiệu cấu thành bắt buộc nhưng trong một số trường hợp vẫn được xem là một dấu hiệu bắt buộc của mặt chủ quan để làm căn cứ trong một số trường hợp như sau:

Trường hợp nạn nhân bị tấn công bằng các hóa chất độc hại như axit hoặc bằng hung khí nguy hiểm như dao nhọn… vào các vị trí nguy hiểm trên cơ thể nhưng chỉ bị thương tích hoặc bị tổn hại sức khỏe nhưng người đó không chết.

Trong trường hợp này cần xác định mục đích của người phạm tội là gì. Nếu có mục đích giết người nhưng người đó không chết thì vẫn cấu thành tội giết người chưa đạt. Tuy nhiên nếu không có mục đích giết người thì bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội cố ý gây thương tích (nếu có).

Nếu gây thương tích dẫn đến chết người. Không có mục đích giết người thì cấu thành tội cố ý gây thương tích.

Chủ thể của tội giết người

Chủ thể của tội giết người là người nào có năng lực trách nhiệm hình sự và đạt độ tuổi luật định đều có khả năng là chủ thể của tội giết người.

Người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi phải chịu trách nhiệm hình sự về tội phạm rất nghiêm trọng, tội phạm đặc biệt nghiêm trọng (tội giết người). Người từ đủ 16 tuổi trở lên phải chịu trách nhiệm về mọi tội phạm.

Khách thể của tội giết người

Các hành vi phạm tội nêu trên đã xâm phạm đến tính mạng của người khác.

Nếu không đủ các yếu tố cấu thành tội phạm như nêu ở trên, bạn sẽ không phải chịu trách nhiệm hình sự.

Nếu cần tư vấn cụ thể hơn về cấu thành tội phạm, đừng ngần ngại, hãy liên hệ ngay cho Luật Quang Huy qua Tổng đài 19006588.


Trách nhiệm bồi thường dân sự

Người phạm tội giết người còn phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng theo quy định tại Điều 591 Bộ Luật Dân sự.

Người phạm tội giết người còn phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại
Người phạm tội giết người còn phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại

Thiệt hại do tính mạng bị xâm phạm bao gồm:

  • Thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm;
  • Chi phí hợp lý cho việc mai táng;
  • Tiền cấp dưỡng cho những người mà người bị thiệt hại có nghĩa vụ cấp dưỡng;
  • Thiệt hại khác do luật quy định.

Ngoài ra còn phải bồi thường một khoản bù đắp về tinh thần cho những người thân thích thuộc hàng thừa kế thứ nhất của người bị thiệt hại, nếu không có những người này thì người mà người bị thiệt hại đã trực tiếp nuôi dưỡng, người đã trực tiếp nuôi dưỡng người bị thiệt hại được hưởng khoản tiền này.

Khoản tiền này sẽ được bổi thường theo thoả thuận, nếu không thỏa thuận được thì mức tối đa cho một người có tính mạng bị xâm phạm không quá một trăm lần mức lương cơ sở do Nhà nước quy định.


Cơ sở pháp lý

  • Bộ Luật Hình sự 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017
  • Bộ Luật Dân sự 2015

Trên đây là toàn bộ câu trả lời của chúng tôi về vấn đề tội giết người theo pháp luật.

Luật Quang Huy là công ty có kinh nghiệm không chỉ trong việc tư vấn pháp luật Hình sự mà còn có bề dày kinh nghiệm trong vai trò là Luật sư biện hộ cho nhiều vụ án Hình sự trong cả nước.

Nếu nội dung tư vấn còn chưa rõ, có nội dung gây hiểu nhầm hoặc có thắc mắc cần tư vấn cụ thể hơn, bạn có thể kết nối tới  HOTLINE 19006588 của Luật Quang Huy để được Luật sư tư vấn luật hình sự tư vấn trực tiếp.

Trân trọng./.


 

Hãy chia sẻ bài viết này vì nó hữu ích và hoàn toàn miễn phí bạn nhé!

phone-call

HỎI ĐÁP QUA ĐIỆN THOẠI

Scroll to Top