Tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản có thể bị phạt tù bao nhiêu năm?

Tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản

Thực trạng tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản trong xã hội hiện nay diễn ra càng ngày nhiều và phổ biến.

Vì vậy, những đối tượng bắt người làm con tin có phạm tội không? Hình phạt như thế nào?

Luật Quang Huy sẽ giúp bạn giải đáp những vấn đề này.


Thế nào là tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản?

Bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản là hành vi bắt người làm con tin nhằm buộc người khác phải nộp cho mình một khoản tiền hoặc tài sản thì mới thả người bị bắt.


Hình phạt của tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt

Hình phạt chính của tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản

Phạt tù từ 02 năm đến 07 năm

Đối với người có hành vi bắt cóc người khác làm con tin nhằm chiếm đoạt tài sản, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm.

Phạt tù từ 05 năm đến 12 năm

Người phạm tội bắt cóc người khác làm con tin nhằm chiếm đoạt tài sản, thuộc các trường hợp sau đây sẽ phải chấp hành hình phạt trên:

  • Có tổ chức: một hình thức đồng phạm đặc biệt. Ngoài dấu hiệu thường, tính chất này có đặc điểm của sự cấu kết chặt chẽ;
  • Có tính chất chuyên nghiệp:

Nghị quyết số 01/2006/NQ-HĐTP hướng dẫn áp dụng một số quy định của bộ luật hình sự thì tình tiết này được quy định như sau:

Chỉ áp dụng tình tiết “phạm tội có tính chất chuyên nghiệp” khi có đầy đủ các điều kiện sau đây:

  • Cố ý phạm tội từ năm lần trở lên về cùng một tội phạm không phân biệt đã bị truy cứu trách nhiệm hình sự hay chưa bị truy cứu trách nhiệm hình sự, nếu chưa hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự hoặc chưa được xoá án tích;
  • Người phạm tội đều lấy các lần phạm tội làm nghề sinh sống và lấy kết quả của việc phạm tội làm nguồn sống chính.
  • Dùng vũ khí, phương tiện hoặc thủ đoạn nguy hiểm khác:

“Vũ khí” là một trong các loại vũ khí được quy định tại khoản 1 Điều 1 Quy chế quản lý vũ khí, vật liệu nổ và công cụ hỗ trợ (ban hành kèm theo Nghị định số 47/CP ngày 12/8/1996 của Chính phủ), cụ thể bao gồm:

Vũ khí quân dụng gồm: các loại súng ngắn, súng trường, súng liên thành; các loại pháo, dàn phóng, bệ phóng tên lửa, súng cối, hoá chất độc và nguồn phóng xạ các loại đạn; bom, mìn, lựu đạn, ngư lôi, thuỷ lôi, vật liệu nổ quân dụng, hoả cụ và vũ khí khác dùng cho mục đích quốc phòng – an ninh.

Vũ khí thể thao gồm: các loại súng trường, súng ngắn thể theo chuyên dùng các cỡ; các loại súng hơi, các loại vũ khí khác dùng trong luyện tập, thi đấu thể thao và các loại đạn dùng cho các loại súng thể thao nói trên.

Súng săn gồm: Các loại súng săn một nòng, nhiều nòng các cỡ, tự động hoặc không tự động, súng hơi các cỡ, súng kíp, sung hoả mai, súng tự chế và các loại đạn, vỏ đạn, hạt nổ, thuốc đạn dùng cho các loại súng kể trên.

Vũ khí thô sơ gồm: Dao găm, kiếm, giáo, mác, đinh ba, đại đao, mã tấu, quả đấm bằng kim loại hoặc chất cứng, cung, nỏ, côn các loại và các loại khác do Bộ Nội vụ quy định.

“Phương tiện nguy hiểm” là công cụ, dụng cụ được chế tạo ra nhằm phục vụ cho cuộc sống của con người (trong sản xuất, trong sinh hoạt) hoặc vật mà người phạm tội chế tạo ra nhằm làm phương tiện thực hiện tội phạm hoặc vật có sẵn trong tự nhiên mà người phạm tội có được và nếu sử dụng công cụ, dụng cụ hoặc vật đó tấn công người khác thì sẽ gây nguy hiểm đến tính mạng hoặc sức khoẻ của người bị tấn công.

Về công cụ, dụng cụ ví dụ: búa đinh, dao phay, các loại dao sắc, nhọn…

Về vật mà người phạm tội chế tạo ra ví dụ: thanh sắt mài nhọn, côn gỗ…

Về vật có sẵn trong tự nhiên ví dụ: gạch, đá, đoạn gậy cứng, chắc, thanh sắt…

  • Đối với người dưới 16 tuổi;
  • Đối với 02 người trở lên;
  • Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 50.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng;
  • Gây thương tích, gây tổn hại cho sức khỏe hoặc gây rối loạn tâm thần và hành vi của nạn nhân mà tỷ lệ tn thương cơ thể từ 11 % đến 30%;
  • Gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội;
  • Tái phạm nguy hiểm:
  • Đã bị kết án về tội phạm rất nghiêm trọng, tội phạm đặc biệt nghiêm trọng do cố ý, chưa được xóa án tích mà lại thực hiện hành vi phạm tội về tội phạm rất nghiêm trọng, tội phạm đặc biệt nghiêm trọng do cố ý;
  • Đã tái phạm, chưa được xóa án tích mà lại thực hiện hành vi phạm tội do cố ý.
Tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản
Tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản

Phạt tù từ 10 năm đến 18 năm

Phạm tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản thuộc một trong các trường hợp sau đây sẽ :

  • Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 200.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng;
  • Gây thương tích, gây tổn hại cho sức khỏe hoặc gây rối loạn tâm thần và hành vi của nạn nhân mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31% đến 60%.

Phạt tù từ 15 năm đến 20 năm hoặc tù chung thân

Hình phạt này áp dụng với người phạm tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản thuộc một trong các trường hợp sau đây:

  • Chiếm đoạt tài sản trị giá 500.000.000 đồng trở lên;
  • Làm chết người;
  • Gây thương tích, gây tn hại cho sức khỏe hoặc gây rối loạn tâm thần và hành vi của nạn nhân mà tỷ lệ tn thương cơ thể 61% trở lên.

Phạt tù từ 01 năm đến 05 năm

Chuẩn bị phạm tội là việc tìm kiếm, sửa soạn công cụ, phương tiện, hoặc tạo ra những điều kiện khác để thực hiện tội phạm hoặc thành lập, tham gia nhóm tội phạm,…

Đối với người chuẩn bị phạm tội này, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm

Hình phạt bổ sung của tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản

Bên cạnh hình phạt chính, người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt quản chế, cấm cư trú từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.

Đây có thể coi là một trong những tội phạm mang lại hậu quả nghiêm trọng cho con người, xã hội.

Do vậy, chế tài áp dụng cho tội phạm này là hình phạt tù có thời hạn kèm theo hình phạt bổ sung.

Tuy nhiên, ngoài các quy định trên, việc quyết định hình phạt của Toà án còn phụ thuộc vào các tình tiết tăng nặng, tình tiết giảm nhẹ theo quy định và nhân thân của người phạm tội.

Do vậy, nếu bạn phạm tội danh này, việc xác định hình phạt là điều không hề đơn giản.

Đa phần người phạm tội chỉ xác định khung hình phạt áp dụng cho mình chứ không thể xác định mình sẽ bị áp dụng hình phạt nào, mức phạt cụ thể với mình hoặc trường hợp mình có được áp dụng án treo hay không.

Điều này cần có kiến thức uyên thâm và sự giàu kinh nghiệm của Luật sư, điển hình như các Luật sư của Luật Quang Huy.

Chúng tôi luôn luôn cố gắng vận dụng các quy định pháp luật. kinh nghiệm từng giải quyết các vụ án cụ thể để đưa ra tư vấn chính xác nhất cho khách hàng, đảm bảo quyền lợi khách hàng theo đúng quy định cũng như nguyên tắc hành nghề.

Nếu bạn đang cần hỗ trợ của Luật Quang Huy, đừng ngần ngại, hãy liên hệ cho chúng tôi theo Tổng đài 19006588.

Người chuẩn bị phạm tội này cũng phải chịu trách nhiệm hình sự
Người chuẩn bị phạm tội này cũng phải chịu trách nhiệm hình sự

Cấu thành tội phạm của tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản

Mặt khách quan của tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản

Hành vi khách quan

Có hành vi bắt cóc người khác:

Bắt cóc là hành vi giữ người trái pháp luật. Thông thường, hành vi bắt người làm con tin được thực hiện ám muội và đưa người bị bắt đến một nơi nào đó. Sau đó, người phạm tội tìm cách thông báo cho người thân của nạn nhân biết.

Theo đó, đối tượng yêu cầu người thân của họ phải nộp một số tiền thì mới thả người. Bằng không, người bị bắt cóc sẽ bị nguy hiểm đến tính mạng, sức khoẻ, nhân phẩm.

Hành vi giữ người trái pháp luật được thực hiện bằng nhiều thủ đoạn khác nhau như: dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực hoặc bằng những thủ đoạn khác như cho uống thuốc ngủ, thuốc mê, xịt ê-te, lừa dối. Qua đó, đối tượng bắt được người làm con tin.

Thủ đoạn bắt cóc không phải dấu hiệu đặc trưng của hành vi phạm tội (không có ý nghĩa trong việc định tội). Tuy nhiên, hành vi bắt cóc người làm con tin lại là đặc trưng cơ bản của tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản. Bởi vì, bắt người làm con tin chính là một thủ đoạn nhằm chiếm đoạt tài sản.

Ngoài hành vi bắt cóc người làm con tin, người phạm tội còn có hành vi đe doạ người khác (cơ quan, tổ chức hoặc người thân của con tin).

Cụ thể, nếu không giao nộp tiền hoặc tài sản thì con tin sẽ bị giết, bị đánh đập, hành hạ… Hành vi đe dọa thể hiện qua nhiều phương pháp khác nhau như: gọi điện thoại, viết thư, nhắn tin qua người khác hoặc trực tiếp gặp người thân của con tin…

Cùng với việc đe đi đe dọa, người phạm tội còn có thể có hành vi dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực hoặc có những hành vi, thủ đoạn khác đối với người bị bắt làm con tin để người này sợ hãi.

Để qua đó, họ yêu cầu cơ quan, tổ chức hoặc người thân của nạn nhân nộp tiền hoặc tài sản. Ví dụ, đánh, trói, dọa giết, dọa đánh, dọa đem bán ra nước ngoài, bán cho các ổ mại dâm…

Đối với hành vi xâm phạm trực tiếp đến con tin, nếu cấu thành một tội độc lập thì người phạm tội còn bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội tương ứng với hành vi xâm phạm.

Hậu quả

Hậu quả của tội này không phải là yếu tố bắt buộc để định tội. Tức là, nếu người phạm tội chưa gây ra hậu quả nhưng có ý thức chiếm đoạt và đã thực hiện hành vi bắt cóc người làm con tin thì khi đó, tội phạm đã hoàn thành.

Tuy vậy, nếu gây ra hậu quả thì tuỳ thuộc vào tính chất, mức độ nguy hiểm mà người phạm tội có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo khung hình phạt nặng hơn hoặc là tình tiết xem xét khi quyết định hình phạt.

Mặt chủ quan của tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản

Yếu tố lỗi

Tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt được thực hiện do cố ý.

Mục đích

Mục đích của người phạm tội là mong muốn chiếm đoạt được tài sản. Nếu hành vi bắt cóc người làm con tin lại nhằm một mục đích khác thì đó không phải tội này.

Và tùy lúc, người phạm tội sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự về một tội phạm tương ứng khác.

Ví dụ: Để trả đũa anh Minh, Hoan bắt cóc em trai anh lúc mới hai tuổi để anh Minh phải hủy buổi ký kết hợp đồng quan trọng. Do đó, hành vi của H chỉ phạm tội bắt người trái pháp luật.

Chủ thể của tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản

Người phạm tội là người có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự và đủ độ tuổi.

Người từ đủ 16 tuổi trở lên sẽ phải chịu trách nhiệm hình sự về tội này. Người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi sẽ chỉ phải chịu trách nhiệm hình sự về khoản 2, khoản 3, khoản 4 Điều 169 Bộ luật hình sự.

Khách thể của tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản

Nghĩa là, người phạm tội cùng một lúc xâm phạm đến hai khách thể (quan hệ sở hữu và quan hệ nhân thân).

Do vậy, trong cùng một vụ án có thể có một nạn nhân hoặc nhiều hơn. Có thể có người bị hại chỉ bị xâm phạm đến tài sản nhưng cũng có người chỉ bị xâm phạm đến tính mạng, sức khoẻ, nhân phẩm, danh dự; hoặc cùng bị xâm phạm mọi khách thể.

Thông thường khi đó, người bị hại là người bị xâm phạm đến tính mạng, sức khoẻ, nhân phẩm, danh dự; còn người bị xâm phạm tài sản lại là những người thân của nạn nhân.

Tuy nhiên, cũng có trường hợp người bị bắt cóc đồng thời là người bị xâm phạm tài sản.

Nếu không đủ các yếu tố cấu thành tội phạm như nêu ở trên, bạn sẽ không phải chịu trách nhiệm hình sự về tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản.

Nếu cần tư vấn cụ thể hơn về cấu thành tội phạm, đừng ngần ngại, hãy liên hệ ngay cho Luật Quang Huy qua Tổng đài 19006588.


Căn cứ pháp lý

  • Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung 2017
  • Nghị quyết của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao
  • Nghị quyết hướng dẫn áp dụng một số quy định của Bộ luật hình sự

Trên đây là toàn bộ giải đáp của chúng tôi về cấu thành và mức xử phạt tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản mới nhất theo quy định của pháp luật.

Luật Quang Huy là công ty có kinh nghiệm không chỉ trong việc tư vấn pháp luật Hình sự mà còn có bề dày kinh nghiệm trong vai trò là Luật sư biện hộ cho nhiều vụ án Hình sự trong cả nước.

Nếu nội dung tư vấn còn chưa rõ, có nội dung gây khó hiểu hoặc có thắc mắc cần tư vấn cụ thể hơn, bạn có thể kết nối tới HOTLINE 19006588 của Luật Quang Huy để được Luật sư tư vấn luật hình sự trực tiếp tư vấn.

Trân trọng./.


 

Hãy chia sẻ bài viết này vì nó hữu ích và hoàn toàn miễn phí bạn nhé!

phone-call

HỎI ĐÁP QUA ĐIỆN THOẠI

Scroll to Top